Chuyện ghi ở làng Kon Blo

Con người đã thổi vào bức tường thành sừng sững giữa đại ngàn Bình Định sinh khí, một sức sống nhân văn, có tinh thần bất khuất chống xâm lược… Và, đồng bào Bahnar Kriêm nơi đây luôn có ý thức cao trong việc giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc mình.

Kỳ vĩ thành, thác đá

Từ trung tâm xã Vĩnh Sơn (huyện Vĩnh Thạnh, tỉnh Bình Định) đi theo con đường mòn về hướng Tây Nam khoảng 5km là đến thành Tà Kơn (thuộc làng Kon Blo, xã Vĩnh Sơn). Đây là một thành đá với những phiến đá hình lục giác, hình trụ xếp liền kề, khít chặt vào nhau như một bức tường thành sừng sững giữa đại ngàn hùng vĩ của núi rừng Vĩnh Thạnh. Mỗi phiến đá xếp chồng lên nhau như có ai đó đã kỳ công ghè đẽo từng phiến một, rồi liên kết chúng vào nhau bằng một thứ hồ vữa vô hình. Đá phủ rêu xanh, dựng cao vút và đan cài trong những rễ cây cổ thụ.

a3 (2).jpg -0
Âm thanh cồng chiêng ngân vang ở làng Kon Blo (ảnh: Xuân Dũng).

Các nhà nghiên cứu cho rằng, thành Tà Kơn là một cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ được hình thành qua biến đổi kiến tạo địa chất cách nay hàng triệu năm. Hiện nay, tường thành dài hơn 500m, chỗ cao nhất khoảng 30m.

Theo tiếng Bahnar Kriêm, Tà Kơn có nghĩa là đá lớn xếp thành lũy. Và, hiện tượng thiên nhiên kỳ thú này không chỉ trở thành danh thắng nơi núi rừng Vĩnh Sơn mà nó đã đi vào sử thi, trở thành huyền thoại của đồng bào Bahnar Kriêm. Nó như một thành lũy vững chắc, nơi cư trú và chứng kiến những trận chiến oai hùng chống lại thế lực bên ngoài của dân làng.

Nói về huyền thoại thành Tà Kơn, truyện cổ Bahnar Kriêm kể rằng, không rõ hai anh em Đrum và Đrăm từ đâu đến, thấy có hòn đá đẹp, họ dừng nghỉ chân rồi mài lại rựa. Lưỡi rựa chỉ liếc qua một tí đã sắc lẻm, chặt cây lớn mấy cũng ngã, đụng đến đá cứng mấy cũng đứt liền. Thấy Đrum, Đrăm khỏe đẹp và có hòn đá trời cho nên dân làng Kon Blo từ em bé mới biết đi đến người già chống gậy đều dắt díu nhau đi theo họ lập làng mới.

a1-(3)-2.jpg -0
Những gốc cổ thụ khổng lồ nhả rễ ôm lấy tường thành Tà Kơn.

Ngày trước, làng Kon Blo thường bị giặc phá, năm nào người dân cũng phải rời làng. Giờ có Đrum, Đrăm, có hòn đá đẹp, dân làng hăng hái mài dao, mài rựa để chặt đá, xây thành giữ làng. Đồng bào ở Kon Blo chặt đá vuông vức, kê lên nhau xây thành hình móng ngựa trên một sườn núi. Bên trong, dân làng làm nhà rông, nhà bếp, chuồng trâu, hầm cất lúa, giếng nước, làm đường xuyên từ núi ra ngoài… tất cả làm bằng đá. Đất ở ngoài thành, dân làng vẫn làm nương rẫy, trồng lúa, trỉa bông. Nhờ có thành đá này mà trai tráng trong làng cùng Đrum, Đrăm nhiều lần đánh thắng quân Tà Pông Kang.

Không chỉ là danh thắng, khu vực thành Tà Kơn tương truyền là căn cứ của nghĩa quân Tây Sơn từ những ngày đầu khởi nghĩa, tục danh vườn cam Nguyễn Huệ vẫn còn đó như minh chứng cho sự kiện ấy. Thời kỳ lịch sử hiện đại, 30 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, khu vực thành Tà Kơn từng là hậu cứ của du kích, quân chủ lực huyện Vĩnh Thạnh cho đến ngày đất nước thống nhất.

Gần thành Tà Kơn, nằm giữa cánh rừng già nguyên sinh có một thác nước miên man chảy. Dân làng Kon Blo gọi đây là thác Dơi. Thời điểm dơi tập trung ở khu vực này nhiều nhất là vào những năm 70 của thế kỷ trước. Người làng mỗi lần đứng ở đây dậm chân, lập tức dơi bay ra đen ngợp. Đến những năm 80, dơi bắt đầu ít dần và nay thì rất khan hiếm.

Thác Dơi cũng được hình thành từ những phiến đá hình lục giác, hình trụ giống như thành Tà Kơn. Đá ở đây đều đặn như được ai đó đẽo gọt và được sắp đặt khéo léo, trông như một tổ ong khổng lồ. Những phiến đá này có nguồn gốc thiên tạo, hoàn toàn không phải là sản phẩm từ bàn tay con người.

a2-(3).jpg -0
Đá ở thác Dơi được thiên tạo sắp đặt khéo léo, trông như một tổ ong khổng lồ.

Quanh thác Dơi cũng có câu chuyện huyền thoại được người Bahnar Kriêm truyền tụng. Đó là, thuở xa xưa, không biết chính xác ở thời nào, đang khi loạn lạc, có một làng với hơn trăm người dẫn nhau đến khu vực này trú ngụ. Trong thời gian ở đây, họ đã làm đám cưới tập thể cho chín cặp nam nữ. Rồi, qua thời gian, chẳng ai biết hơn trăm người ấy đi đâu hay đã mất tích. Đó là huyền thoại và người Bahnar Kriêm ở đây luôn tin rằng, trước khi có sự xuất hiện của bóng dáng con người và bầy dơi, thác Dơi chính là nơi trú ngụ của những vị thần.

Từ khi hình thành đến nay, thành Tà Kơn, thác Dơi vẫn hiện diện giữa khu rừng già nguyên sinh, là niềm tự hào của người Bahnar Kriêm ở Kon Blo. Trong những ngày lễ hội, đêm đêm bên bếp lửa hồng, các bậc cao niên, già làng ở Kon Blo vẫn kể lại huyền thoại thành Tà Kơn, thác Dơi cho con cháu mình nghe.

Giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống

Cũng như các dân tộc anh em chung sống trên dãy Trường Sơn, người Bahnar Kriêm ở làng Kon Blo trong quá trình tồn tại và phát triển đã kiến tạo cho mình một bản sắc văn hóa riêng biệt. Ngày nay, cho dù đã có nhiều sự thay đổi, phát triển nhưng đồng bào nơi đây vẫn luôn có ý thức cao trong việc giữ gìn bản sắc của dân tộc mình.

Ở làng Kon Blo, già Vin được xem là người "giữ hồn" văn hóa truyền thống của đồng bào. Hiện già nắm giữ rất nhiều bản trường ca, truyện cổ tích Bahnar Kriêm. Già luôn nỗ lực duy trì hoạt động văn nghệ của làng, củng cố các đội cồng chiêng, múa, hát. Nhờ có già truyền dạy mà làng Kon Blo bây giờ có rất nhiều đội cồng chiêng, múa xoang với 3 thế hệ thiếu niên, thanh niên và người cao tuổi luôn sẵn sàng trình diễn.

Già Vin bảo, chuyện đám trẻ của làng cùng nhau học múa, hát, đánh cồng chiêng, chơi nhạc cụ… đã thành nếp làng từ nhiều năm nay. "Mới đầu, già phải chủ động gọi đám trẻ đến, rồi biểu diễn khiến chúng tò mò, hứng thú. Dần dần, già bảo ban chúng về việc tiếp quản, gìn giữ, phát huy vốn văn hóa lưu truyền bao đời. Già nói với chúng, rồi thế hệ lớn tuổi sẽ từ giã cõi đời, làng chúng ta phải có những người mới biết hát, múa, đánh cồng chiêng và chơi các loại nhạc cụ, chứ chẳng lẽ để mai một hay sao. Đám trẻ cũng ngoan, hiểu chuyện nên cùng nhau học hỏi, nhờ vậy mà những nét văn hóa truyền thống của làng được gìn giữ hiệu quả", già Vin chia sẻ.

Đặc biệt, với người Bahnar Kriêm ở Kon Blo, cồng chiêng là biểu tượng của sự linh thiêng cao quý, tiếng cồng chiêng từ ngàn đời đi vào máu thịt của đồng bào. Từ lúc mới lọt lòng đã được tiếng cồng chiêng dẫn dắt gia nhập cộng đồng, lớn lên dựng vợ gả chồng và cả đến khi từ giã cõi đời cũng được tiếng cồng chiêng tiễn biệt về cõi vĩnh hằng. Có thể nói, âm vang cồng chiêng đã bám rễ vào đời sống của từng con người, được ướp hương thiên nhiên của trời đất. Văn hóa cồng chiêng không chỉ là mạch suối nguồn âm nhạc nuôi dưỡng tâm hồn, nhân cách của đồng bào mà còn là niềm vui, niềm tự hào, hồn thiêng của người Bahnar Kriêm.

Nhắc đến tiếng cồng chiêng, Trưởng làng Kon Blo Đinh Hú không khỏi tự hào. Ông bảo, năm 2019 là năm mà làng "thu hoạch" nhiều từ tiếng cồng chiêng. Đó là làng đạt giải A trong Ngày hội văn hóa cồng chiêng xã Vĩnh Sơn lần thứ I và là làng duy nhất trong hai đoàn nghệ nhân đại diện huyện Vĩnh Thạnh đã đóng góp một tiết mục trình tấu cồng chiêng với lễ hội đâm trâu tại Liên hoan văn hóa cồng chiêng các dân tộc thiểu số tỉnh Bình Định lần thứ I. Hiện nay, làng có khoảng 14 bộ cồng chiêng. Khơi dậy tình yêu, niềm đam mê đánh cồng chiêng cho thế hệ trẻ để những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc không bị mai một là cách làm của già làng, những người cao tuổi ở làng trong những năm qua.

Hiện làng Kon Blo có nhà bảo tồn văn hóa truyền thống, là nơi trưng bày, lưu giữ nhiều đạo cụ, nhạc cụ, trang phục truyền thống, đồ dùng lao động, sản xuất, sinh hoạt trong các gia đình như: cồng chiêng, đàn tơ rưng, đàn pơ lơn khơng, khố, chăn, váy, xa quay sợi… Thông qua các lễ hội văn hóa, các buổi sinh hoạt cộng đồng tại nhà bảo tồn văn hóa truyền thống, đồng bào Bahnar Kriêm có thể bảo tồn những giá trị văn hóa, truyền đạt tốt hơn cho thế hệ trẻ về các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Đời sống tinh thần được nâng cao sẽ giúp người dân ổn định cuộc sống, chung sức đồng lòng xây dựng quê hương.

Phan Nhuận Phin

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).