Chuyện chợ Giầu - suối Cau

Xưa chợ Giầu ở làng Phù Đê xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng, Hà Nam có tên là chợ Giầu (hay Trầu). Dân quanh vùng vẫn gọi cả hai tên. Nghệ nhân làm đàn sáo Đào Văn Soạn ở thôn Đào Xá, Đông Lỗ (Ứng Hòa, Hà Nội) kể đàn bà con gái làng ông hay về đây buôn cau và trầu không. Ông cũng đã từng theo cha đi bán đàn cho anh em nghệ sĩ ở chợ Giầu hồi kháng chiến 1947. Đang vui ông nảy vài ngón âm thanh ngọt lịm.

Bát cảnh sơn ẩn chuyện Tân Lang

Khu quần thể núi non Bát cảnh sơn ở xã Tượng Lĩnh gây ấn tượng kỳ thú với bất cứ ai đến đây. Dãy núi mở ra tám cánh như bông hoa khoe sắc. Mỗi cánh một ngôi chùa ẩn trong hàng cây nhìn xuống mặt hồ sen bao la. Dãy núi nhìn về hướng Nam đối diện với sông Đáy quanh co êm đềm. Nhưng hiện nay chỉ còn đền Tiên Ông trên núi và chùa Tam Giao là nguyên vẹn. Hơn nữa dãy Bát cảnh sơn là khởi đầu hay là cửa đón đưa phật tử tới lễ chùa Hương nên trầm bay, chuông thỉnh ngày ngày. Núi, hồ, sông, suối nơi đây làm cho xã Tượng Lĩnh ngỡ như một bức tranh thủy mặc huyền ảo.

Tượng Lĩnh có vị trí đặc biệt ở ngã ba sông Đáy và Châu Giang. Riêng chợ Giầu thôn Phù Đê lại nằm trên trục cắt ngang hai quốc lộ 21B và 38. Mà theo chữ cổ chữ Phù Đê được đặt theo tên chợ chuyên bán trầu cau một thời. Phù chính là tên chữ nôm của cây Trầu không. Xưa câu ca dao cổ mang dấu ấn của văn hóa làng Việt vẫn còn vang vọng đâu đây. Nghệ nhân Đào Văn  Soạn kể mẹ ông hay ngâm câu ca dao: "Từ ngày ăn phải miếng trầu/ Miệng ăn môi đỏ, dạ sầu đăm chiêu". Cụ bà còn nói vùng đất Tượng Lĩnh xưa có nhiều vườn trầu không và hàng cau. 

Câu chuyện tình cảm giữa hai anh em Tân và Lang trong tích Trầu Cau (trong bộ Lĩnh Nam chích quái) chính là bắt đầu từ đây. Nay trong dẫy núi Bát Tiên còn có suối Cau là hình ảnh còn sót lại của tích cổ chuyện xưa. Thêm nữa dẫy núi Bát Tiên được cấu tạo bằng trầm tích đá vôi. Dòng sông Đáy và Châu Giang ôm quanh xã chính là nơi cả nhà anh em Tân Lang và vợ dừng chân khóc đến chết mà thành suối cau, tảng đá vôi và cây trầu không. Bát cảnh sơn được hình thành bởi những giọt nước mắt khổ đau và nhớ thương của tình cảm gia đình và anh em không bao giờ vơi cạn.

Một góc chợ Giầu (Trầu) ngày xuân.
Một góc chợ Giầu (Trầu) ngày xuân.

Đến chợ Giầu giờ đây chỉ còn lác đác cửa hàng bán lá trầu, vỏ và cau. Chữ Giầu được gọi nhẹ bởi âm Giầu nên thành tên chính danh cho đến nay. Nhưng điều thú vị khi đến đây những bà bán cau và trầu không luôn dặn dò khách đến cách chọn hàng. Theo như nghệ nhân Đào Văn Soạn, mẹ ông còn nhớ vanh vách cách chọn cau. Cụ bà luôn dặn con dâu mỗi khi đi chợ rằng: "Cau ngon là cau có dáng trái đào, vỏ màu xanh thúy ngọc nhạt. Đó là cau có vỏ như lụa, thịt trắng nõn và dầy. Hạt cau phơn phớt lòng tôm, nhai đầu tiên thấy giòn nhưng sau đó lại dẻo mềm và ngọt". 

Hình ảnh trầu cau.
Hình ảnh trầu cau.

Còn nữa Phù Đê còn là nơi ra đời những câu ca dao một thuở gắn bó với tình cảm, duyên nợ cuộc đời. Bởi câu chuyện anh em Tân Lang còn đó. Bã trầu thắm tình nghĩa gia đình mãi mãi là hình ảnh bất tuyệt trong thi ca. Chất phong dao của câu chuyện được bà chúa thơ nôm Hồ Xuân Hương bảy tỏ nỗi lòng bi ai: "Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi/ Này của Xuân Hương mới quệt rồi/ Có phải duyên nhau thì thắm lại/ Đừng xanh như lá, bạc như vôi".

Dãy Bát cảnh sơn được coi là "Tiểu cảnh Hương Sơn" và đậm dấu ấn di sản tâm linh trong tích truyện của Lĩnh Nam chích quái. Chợ Giầu luôn vang vọng những khúc ca tình yêu bên ngã ba sông. Khi nghe tiếng đàn của nghệ nhân có những nốt luyến láy ngỡ như tiếng lòng nghẹn ngào trong chuyện tình bi ai. Những cung đàn vang lên trong nỗi niềm vấn vương: "Trầu này trầu quế trầu hồi/ Trầu loan, trầu phượng, trầu tôi, trầu mình/ Trầu này trầu tính, trầu tình/ Trầu nhân, trầu nghĩa, trầu mình, trầu ta/ Trầu này têm tối hôm qua/ Giấu cha giấu mẹ, đem ra mời chàng". 

Đáng chú ý, sách xưa đã ghi từ thời Hai Bà Trưng rằng, quê hương tích chuyện Trầu cau là vùng chợ Giầu, suối Cau ở ven sông Đáy, sát chùa Hương. Đây là ngã ba địa giới của ba huyện Mỹ Đức, Ứng Hòa (Hà Nội) và Kim Bảng (Hà Nam).

Tiên ông hiện về

Rời chợ Giầu chúng tôi lên đền Tiên Ông trên lưng núi Tượng Lĩnh ngắm toàn bộ Bát cảnh sơn. Người coi đền nói, xưa chúa Trịnh Doanh từ thế kỷ XVI đã cho dựng hành cung thường về đây thưởng ngoạn núi non, sông hồ. Đền Tiên Ông được xây dựng trước đó, từ thời vua Trần Nhân Tông (1279-1293). Đây là ngôi đền thờ Thánh tổ thiên vương Bồ Tát (Tiên Ông).

Cha của Tiên Ông là mệnh quan lớn nhà Trần. Quan ông có tới 23 vợ nhưng chưa có mụn con trai nào. Khi Quan ông đi kinh lý tại trấn Sơn Nam, lấy thêm vợ thứ 24 ở huyện Kim Bảng mới sinh hạ được ngài. Những điều lớn lao đã theo ngài như hình với bóng. Ngài có tướng mạo khác thường với sự đôn hậu và đôi mắt ngời sáng. Đặc biệt Ngài sớm một lòng đèn hương thờ Phật và sớm quy y cửa chùa.

Ngài chu du đó đây tầm sư học đạo và làm nghề thầy thuốc. Khi về tới núi Tượng Lĩnh thấy Bát cảnh sơn tựa non tiên hùng vĩ ngài dừng chân dựng chùa tu luyện và thờ cúng tổ tiên cha mẹ. Chùa ở bên động Tam Giáo. Nhân dân quanh vùng đều nhớ đến công đức ngài chữa bệnh và cứu đói chúng sinh. Từ khi ngài đến cỏ cây xanh tươi. Hồ trong vắt và không bao giờ vơi cạn. Sông tới ngã ba đều dòng chảy hiền hòa. Tàu thuyền ra vào tấp nập. Khi ngài đắc đạo nhập vào cây Đại nại hóa thánh. Theo lời truyền dân làng lấy cây gỗ làm tượng ngài rồi cho đúc đồng. Hiện trên đền còn hai bức tượng ngài được thờ tự hàng trăm năm. Đó là những vật báu linh thiêng trên núi.

Nghe truyền kể rằng, thời Tây Sơn, Đại tư đồ Nguyễn Hữu Chỉnh (1741-1787) đã cho lấy bức tượng đồng ngài để đúc tiền nhưng không thành. Bùa rìu không thể chạm được vào thân tượng. Ngược lại bùa rìu còn quật xuống chân quân sĩ. Bức tượng chỉ toát mồ hồi trước lửa lò nung. Mọi người hoang mang lo sợ ngài quật chết. Nguyễn Hữu Chỉnh lập điện cúng nói với thần làm sao cho dòng sông Châu, một bên bờ có mưa, còn một bên lại nắng thì mới tin là linh thiêng. 

Quả nhiên chỉ sau thời khắc nén hương cháy được một phần ba, mây mưa từ xa ập tới và trút nước bên phía hữu ngạn. Ngược lại bên tả ngạn sông Châu nắng chang chang. Nguyễn Hữu Chỉnh tái mặt hốt hoảng sai đưa tượng thần về lại đền như cũ. Cứ đến ngày rằm tháng Sáu hàng năm dân hai làng Thịnh Đạt và Quang Thừa (Phù Đê) tổ chức lễ hội tưởng nhớ công ơn đức độ Ngài. Khách thập phương cũng kéo về dự lễ đông kín đường.

Phù Lưu Chanh

Đứng trên đỉnh núi Tượng Lĩnh chúng tôi nhìn được khắp tứ phương. Ông coi đền chỉ cho chúng tôi về phía chợ Giầu và nói đó là đất thôn Phù Đê. Còn khu làng chếch về phía Bắc chừng vài cây số chính là làng Phù Lưu. Xưa nơi đây được gọi là Phù Lưu Chanh nơi thi sĩ Quang Dũng sáng tác bài thơ Tây Tiến trong hội nghị tổng kết kháng chến Liên khu III. Những ký ức ATK của "Thủ đô kháng chiến" dội về với bao ký ức dạt dào bên ngã ba sông.

Phù Lưu Chanh cùng với Phù Đê (chợ Giầu) trước cùng trong tổng Phù Lưu thuộc Kim Bảng, Hà Nam. Phù Lưu Chanh giờ thuộc xã Nguyễn Úy. Nói đến đây nghệ nhân Đào Văn Soạn vẫn nhớ thời đó cha ông là du kích đánh giặc Pháp ở xã Đông Lỗ, Ứng Hòa, Hà Nội cũng rất say mê bài thơ Tây Tiến của thi sĩ Quang Dũng. Thôn Phù Lưu Chanh giờ đổi thành Phù Lưu. Chỉ còn chợ Chanh tồn tại là lưu dấu những ký ức xưa. Phù Lưu thôn nay thành phố thị dọc ngang bên trục đường 38 từ thị xã Đồng Văn ngang qua. 

Riêng ngôi đình thôn Phù Lưu Chanh vẫn còn hình ảnh của thi sĩ Quang Dũng  với dáng vóc dong dỏng cao. Sau tổng kết thi sĩ Quang Dũng đã đọc bài thơ Tây Tiến tại đây. Ai nấy đều bị cuốn hút hồn thơ sang sảng đầy bi tráng: "Người đi Châu Mộc chiều sương ấy/ Có thấy hồn lau nẻo bến bờ/ Có nhớ dáng người trên độc mộc/ Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa/ Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc/ Quân xanh màu lá dữ oai hùm/ Mắt trừng gửi mộng qua biên giới/ Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm...". 

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).