Trả lời Luật sư Nguyễn Thị Hảo – Trưởng Văn phòng Luật sư Hảo Anh, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội cho biết: Theo quy định tại Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ, chồng hoặc cả hai người đều có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn. Tuy nhiên, có một số trường hợp đặc biệt người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn đơn phương theo quy định tại khoản 3 Điều 51: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.”
Do đó, nếu chồng bạn nộp đơn yêu cầu ly hôn khi bạn đang mang thai là hành vi trái với pháp luật Hôn nhân và gia đình và sẽ không được Tòa án chấp nhận.
Trong vụ việc của bạn, hành vi của chồng bạn có dấu hiệu tương đồng với các hành vi sau đây:
- Bỏ mặc, không quan tâm, chăm sóc vợ khi vợ đang mang thai;
- Xúc phạm danh dự, nhân phẩm của vợ.
Đây là những hành vi bạo lực gia đình được quy định tại điểm b, d Điều 3 Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022.
Nếu có đủ căn cứ để xác định chồng bạn có các hành vi bạo lực gia đình nêu trên, chồng bạn sẽ bị xử phạt vi phạm hành chính từ 10 triệu đồng đến 20 triệu đồng theo quy định tại khoản 1 Điều 38 Nghị định 282/2025/NĐ-CP:
“1. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: a) Bỏ mặc, không quan tâm; không nuôi dưỡng, không chăm sóc thành viên gia đình là phụ nữ mang thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người khuyết tật, người già yếu, người cao tuổi, người không có khả năng tự chăm sóc”.
Ngoài ra, chồng bạn còn bị áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả là buộc xin lỗi công khai khi bạn có yêu cầu tại nhà riêng, nơi làm việc, địa điểm khác hoặc trên phương tiện thông tin đại chúng đối với hành vi bạo lực gia đình nêu trên.
Tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, người chồng có hành vi chửi bới, xúc phạm danh dự nhân phẩm vợ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về “Tội làm nhục người khác” theo quy định tại Điều 155 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi năm 2017) với mức phạt tù cao nhất đến 5 năm.