Chim núi bay về cội

Múa xoang, bạn quen quá rồi, đúng không? Thì đã bao lần bạn được thấy, được nghe trên sân khấu, trên tivi những điệu xoang rộn rịp đó đây là gì. Ấy vậy mà, cái sự nghe, sự nhìn đó chưa hẳn đã là xoang đâu nhé. 

Ý tôi là một thứ xoang mộc, tùy hứng, tùy nghi, không phải xoang diễn, xoang giả trên sân khấu (các diễn viên chuyên nghiệp đóng giả người Tây Nguyên), cũng không phải xoang trong hội diễn (người Tây Nguyên sắm vai chứ không phải Tây Nguyên trong bản chất sống). Một lần lang thang về Bộ Bê, ngôi làng nhỏ của người K'ho ở xã Gia Bắc, cách trung tâm huyện Di Linh (tỉnh Lâm Đồng) khoảng 30 cây số và cách thành phố Phan Thiết (tỉnh Bình Thuận) tầm 60 cây số, tôi đã được những đứa con của mẹ rừng đãi cái thứ xoang thô mộc ấy.

Trời miền rừng, đêm đổ bóng thật nhanh, tôi vừa thấy những mắt lá đang rờ rỡ lay gió, thì đã nghe tiếng con chim núi đột ngột kêu lạnh ngang đầu, tiếng con suối K'ròng mải miết chảy và trùm lên tất cả là tiếng rì rầm vĩnh cửu của mẹ rừng, cái âm ngữ nền của cuộc sống người Tây Nguyên. Giữa bốn bề mịt mùng rừng, tôi đọc và nhận ra, sự ám ảnh của rừng là ghê gớm. Chả thế mà trong cách sống của người Tây Nguyên nói chung và người K'ho nói riêng tự đời nảo đời nào cho đến tận giờ luôn xác tín: Rừng là một trạng thái lưỡng thể.

Những cô gái Gia-rai trong vòng xoang ngày hội.
Những cô gái Gia-rai trong vòng xoang ngày hội.

Bao bọc, nuôi dưỡng cũng là rừng. Uy hiếp, đe dọa cũng vẫn là rừng. Rừng trùm lên toàn bộ cuộc sống con người nơi đây. Con người vừa không thể tách rời rừng, vừa cố phân biệt mình với rừng bằng ngọn lửa. Vì thế, trong tín lý K'ho, không phải chỉ để nấu nướng, lửa còn để thực thi quyền năng chia tách con người với tự nhiên và lửa sống, thật sự sống, lúc bùng lên, lúc âm ỉ, suốt ngày đêm, năm tháng, vĩnh cửu. Người K'ho cho rằng, cái có giá trị, ấy là cái tạo nên thích thú. Cái không tạo nên thích thú, đối với họ, cần thiết nhưng chỉ là phần phụ. Trong số những cái có giá trị, có việc người K'ho tấu chiêng, uống rượu cần và múa xoang.

Trước hết, nói đến thứ xoang thô mộc, e cũng nên kể đôi chút về xoang nguyên bản. Múa xoang là một loại hình sống của người K'ho trong mùa lễ hội. Thường thì vào đúng vụ canh tác lúa rẫy năm trước đã xong, mẹ lúa đã được rước về kho, cửa kho đã được cài chặt, tiếng sấm đầu mùa còn chưa nghe âm âm vang vọng ở chân trời xa, vụ mùa sau chưa đến, chưa giục là thời điểm cộng đồng K'ho mở hội.

Thời gian chuẩn bị dài ngắn, lễ lớn hay nhỏ hoàn toàn tùy sức của từng gia đình, tức sản lượng thóc của mùa vụ đó. Tất nhiên, dù lễ to hay nhỏ, ngắn hay dài, thể nào cũng phải có vật hiến sinh (trâu, gà, lợn, dê...), rượu cần, tấu chiêng, múa xoang và cái quan trọng nhất, không thể thiếu, đó là cây nêu. Cây nêu trầm mặc, sừng sững, uy nghi, phủ bóng chứng kiến sự kiện trọng đại của cả cộng đồng.

Sau phần nghi thức và lễ thức, sẽ đến phần hội, rộn rịp, tưng bừng. Một ché rượu cần được khệ nệ bưng ra. Mươi phút sau, một ché khác lại bưng ra. Rồi ché thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ... n được mở, âm nhạc cồng chiêng thúc gọi, nhịp xoang cũng theo đó mà tròn vòng một cách tùy hứng. Tùy hứng của từng cá nhân trong cái tùy hứng chung tập thể. Trong khi múa, mọi người tự do bộc lộ cảm xúc bằng những vận động tạo hình cá nhân, những bước chân dài - ngắn, những cái co duỗi tay chân, những cái rung lắc cơ thể; thậm chí, cả sự thay đổi đột ngột về tốc độ và cường độ động tác múa, cũng chẳng ảnh hưởng gì đến tiết tấu, nhịp điệu, động hình của vòng xoang.

Tự do mà gắn kết. Đồng nhất mà riêng biệt. Cá nhân mà cộng đồng. Có lẽ chỉ ở người Tây Nguyên, với sự mẫn cảm về âm nhạc và nhịp điệu mới nhuần nhuyễn được đến thế! Múa xoang trở thành tiếng nói đặc biệt của người K'ho trong cuộc giao tiếp thiết yếu với các thế lực siêu nhiên, giao hòa với trời đất, giao đãi trong cộng đồng.

Múa xoang nguyên thủy nó là vậy! Song ngày nay thứ xoang đó mất hẳn rồi. Thế nhưng, cũng chả sao, miễn ta chịu khó lắng nghe, chăm chú nghiêng tai xuống nó với tất cả tâm hồn, sức sống bất tận của văn hóa Tây Nguyên vẫn bật dậy xanh tươi mơn man. Có điều nó đòi hỏi ta phải chịu khó bóc tách nhiều vỉa tầng văn hóa hơn, có vốn Tây Nguyên nhiều hơn và tất nhiên cần thêm đôi chút tâm thức cộng đồng dẫn dắt nữa, thì mới thấm được lẽ hiền minh từ rừng. 

Đêm ấy, bên bờ con suối K'ròng, một đống lửa được đốt lên, rượu cần đã mở, những âm thanh cồng chiêng huyễn hoặc, ma mị hối thúc, rất tiếc lại được phát ra bởi một thiết bị điện tử, và sự sống thật ở người K'ho bắt đầu trỗi dậy. Tôi thấy những đứa con của mẹ rừng như nhập vào một không gian, một thế giới nào đó khác, rất khác của riêng họ, không gian xoang, không gian của những vũ điệu thoát tục. Thoạt đầu, động tác còn rủ rỉ, dìu dặt. Sau nữa, động tác càng thổn thức, dồn dập, khẩn khoản.

Bất chợt, động tác múa lại nổi bổng lên, rồi đột ngột trầm xuống, lắng xuống, vừa như tuyệt vọng, vừa như an ủi, tự an ủi và thống thiết buồn đến lạnh người. Chỉ là những động tác của tay, chân, cơ thể xù xì, gai góc thế thôi mà âm vang thì rất lạ, như gió thoảng, như tiếng vang đâu đó mơ hồ mà thổn thức của rừng, cũng có khi có thể âm thầm da diết như một tâm sự khó nói ra, cũng có lúc bỗng xốn xang, rộn rịp tưởng chừng có thể hình dung cảnh một đám sơn nữ chen chân đến một lễ hội nào đó và biết đâu trong số sơn nữ ấy có người sẽ gặp gỡ duyên nợ đời mình. Tôi thật sự kinh ngạc vì cái sự tinh tế trong cái vẻ thô mộc của nó.

Giản dị, đơn sơ, chẳng chút phấn son mà sáng lòa, rực rỡ - đấy là xoang. Trầm hùng mà bay bổng, dịu dàng mà gai góc, uyển chuyển mà thô cứng, rạo rực mà đằm sâu - đấy cũng là xoang. Trong đời tôi, đây là lần đầu tiên tôi biết được động tác múa có thể làm ra ánh sáng, rừng rực, như mặt trời, như lửa. Tôi cố gắng để hiểu nguyên cớ ấy là làm sao mà những con người hết sức bình thường, như bất kỳ người K'ho nào ta gặp trên đường, với thân hình đặc trưng của con gái Tây Nguyên rắn khỏe là vậy, thô mộc là vậy, nhưng khi múa lại rất đẹp, rất bay và tinh tế vô cùng?

Thì ra nguyên nhân chẳng ở đâu xa, nó nằm ngay trong bản chất sống, trong ý niệm sống của người K'ho. Người K'ho quan niệm, múa có nghĩa thông linh với các thế lực siêu nhiên và là một nhu cầu tự bộc lộ không thể đặng đừng, mà đã là người K'ho thì bất cứ người nào cũng thông hiểu điều này. Tự bản chất, ở Tây Nguyên, không có nghệ thuật chuyên nghiệp, cũng không có những người nghệ sĩ chuyên nghiệp. Người K'ho không làm nghệ thuật mà sống nghệ thuật. Nghệ thuật, theo người K'ho, chỉ là khoảnh khắc lóe sáng, hết sức tùy hứng, rồi để cho tan biến mãi mãi, không bao giờ còn được thấy lại, nghe lại.

Như bạn thấy đấy, trong thế giới xoang ấy, cái thế giới đặc trưng mà cộng đồng K'ho ở rừng Bộ Bê đã cho phép tôi được bước vào sống cùng, bao giờ cảm giác cũng rất lạ. Bởi, không chỉ là niềm hạnh phúc do nghệ thuật đem lại, có thể còn một điều gì đó khác nữa, sâu và xa hơn, được sống cùng thứ nghệ thuật độc bản, độc sáng, chỉ được nghe và xem có một lần.

Tôi không rõ cuộc xoang đến lúc nào thì dứt hẳn. Có lẽ rất khuya, khuya lắm thì phải. Ấy là vì, khi cái trạng thái chập chờn sống, chập chờn say, chập chờn thức ngủ của tôi bị đánh thức bởi tiếng vỗ cánh của con chim đêm bí ẩn vừa bay vút qua trời, thì mọi người bắt đầu lục tục tỏa về các nhà. Tuy thế, câu chuyện về xoang, câu chuyện về người K'ho sống xoang trong bầu không khí nồng nã men rượu cần, mùi hoang dại bí ẩn, mùi ẩm ướt sương khuya, mùi ngọn lửa âm vọng và cả cái mùi da thịt ngai ngái đặc trưng vẫn chưa thôi âm vọng cùng tiếng rì rầm tưởng chừng như vĩnh cửu của mẹ rừng. Đâu đó tận trong rừng rất sâu, một con chim thiêng cất tiếng và tôi cũng đi vào giấc ngủ đầy những giấc mơ lành.

Trịnh Chu

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).