Cây lúa - Nhìn từ các mã biểu tượng!

Không chỉ là câu chuyện về hình tượng, văn học cũng đồng thời là quá trình kiến tạo mã và giải mã. Có những hạt cổ mẫu từ cây văn hóa ngàn xưa rơi vào miền văn chương những thời sau đó rồi “nở” ra các cây hình tượng mới. Nhịp theo thời gian, những cây hình tượng miệt mài hút chất dinh dưỡng truyền thống và quang hợp ánh sáng thời đại để kết thành các trái biểu tượng. Rồi lại trở thành cổ mẫu...

Thế nên cổ mẫu càng xa xưa càng quý vì đó là một mã biểu tượng chứa đựng trong đó biết bao các ý nghĩa sâu xa, thậm chí bí ẩn... Với cư dân vùng Đông Nam Á thì cây lúa là một cổ mẫu như vậy!

Nhìn từ mã sinh hoạt, thuở xa xưa người Việt đã gắn bó với cây lúa vì đó là thứ cây nông nghiệp nuôi sống họ. Câu tục ngữ “Cơm tẻ mẹ ruột” chắc chắn có từ rất lâu cho thấy họ quý trọng, biết ơn cây lúa như người mẹ đẻ ra mình. Gắn bó đến nỗi không có một sinh vật nào, trừ con người, lại có cả một hệ thống ngôn từ định danh phong phú như thế. Chỉ tính quá trình phát triển của cây lúa, thì: ngâm (giống), vãi, lên mầm, lúa ngồi, bén rễ, ngậm sữa, làm/vào đòng, uốn câu, cứng/sậm hạt, đỏ đuôi...

Quả thật cây lúa cho người nông dân vô vàn tác dụng, ngoài thóc gạo còn cho rạ, rơm. Ngày xưa hầu hết là nhà tranh. Cữ cuối năm, ít mưa gió, mái nhà sẽ được phủ màu vàng ươm, thơm ngậy của rơm rạ, bên ngoài trời rét nhưng vào nhà thì ấm sực. Mùa hè lại mát. Ngày nay, hầu hết nhà mái ngói hoặc bê tông vững vàng trước gió mưa nhưng không còn cái thi vị của rơm rạ ấm áp và mát mẻ... Rơm còn là thức ăn cho trâu bò. Tết nhất, gió mưa, bão bùng, lũ lụt, không đưa trâu bò ra đồng ăn cỏ thì sẵn có rơm cho chúng ăn tạm. Rơm để làm chổi, quét nhẹ tay, lại sạch. Rơm để ủ những luống rau mới gieo hạt hoặc chống sương muối. Rơm trộn với bùn thành một thứ keo trát vách. Rơm để làm ổ cho những ả gà mái đẻ trứng, mà hình như không phải là rơm chúng sẽ đi đẻ nơi khác!? Gần đây bà con dùng rơm ủ nấm, giúp nấm phát triển nhanh...

Cây lúa - Nhìn từ các mã biểu tượng! -0
Lễ rước Mẹ Lúa ở đền Hùng!

Ai ở nhà quê sẽ không bao giờ quên cảnh đêm trăng chơi “bịt mắt bắt dê” chung quanh những đống rơm rạ!

Hạt thóc, cho vào xay, giã, giần, sàng, ngoài những hạt gạo trong như ngọc (Các cụ gọi gạo là “ngọc thực” chắc có sự liên tưởng bề ngoài này!) còn có trấu, cám, tấm, mẳn... Vỏ trấu dùng làm chất đốt thay rơm rạ (bếp trấu). Ngày nay các lò ấp trứng thủ công vẫn chưa có cách gì thay được trấu trong quá trình làm nở những đàn gà, đàn vịt. Trấu để ủ hạt gieo rất tốt, giữ đất ẩm, tránh sương muối (Thứ nhất phân ngấu, thứ nhì trấu tươi). Cám để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm. Ngày xưa cám là thức ăn của nhà nghèo: “Ra đường võng áo xênh xang/ Về nhà hỏi vợ cámrang đâu mày?”. Là những mảnh gạo nhỏ, tấm khéo nấu sẽ là đồ ăn ngon (No cơm tấm, ấm ổ rơm)...

Làm nghề nông rất vất vả. Cây lúa chỉ dễ tính thời kỳ gieo mạ (Tốt như mạ) còn lại là khó tính. Úng ngập thì thối, khô hạn thì chết. Bà con phải cô kết lại, đổi công cho nhau... nên phải đoàn kết, giúp đỡ, chia sẻ cùng lao động. Nhìn vào hình tượng cây lúa người nông dân lại thấy cuộc sống của mình có sự tương đồng với thứ cây thân thiết. Tuy là cây thân nhỏ, nhưng lúa lớn lên và phát triển trong một khóm, thân nọ nương vào thân kia, khóm nọ đỡ khóm kia, để chẳng may gió to bị rạp xuống thì chúng lại “nâng” nhau đứng dậy. Khi nặng hạt trĩu bông, khóm lúa không bị đổ hay nghiêng ngả. Chẳng khác những người chủ của chúng cùng đoàn kết nâng đỡ nhau vậy!

Ai người ở phố về quê, được ra cánh đồng làng lúc lúa tỏa hương sẽ thấy hồn dân tộc chính là mùi thơm của lúa tỏa ra ngào ngạt. Cả không gian dậy lên một thứ mùi vị nồng nàn, tinh khiết đồng quê không có ở bất cứ đâu. Đấy là quê hương! Đấy là dân tộc! Rất có lý khi nhiều người chọn “quốc hoa” là hoa lúa. Nét đặc trưng của hoa lúa là không tách ra để khoe mà đồng dạng với bông, bông hoa lúa cũng làbông lúa. Nó không khoe sắc, chỉ thoảng hương ngan ngát dịu dàng. Vì tự thụ phấn nên hoa không cần hương nồng nàn hay màu sắc quyến rũ mời gọi côn trùng. Khi vào mẩy, càng những cây lúa có bông nhiều hạt càng biết cúi xuống lặng lẽ, khiêm cung. Thì ra cây lúa cũng hiền lành, chân chất, khiêm tốn như chính những người nông dân chất phác hồn hậu vậy!

Cây lúa - Nhìn từ các mã biểu tượng! -0
Lễ cúng thần Lúa của đồng bào Sẻ Triêng!

Rất nhiều nhạc sỹ, thi sỹ ca ngợi cây lúa, nhưng những người xa quê hay nhẩm thuộc bài hát “Hương lúa đồng quê” của Hoàng Giác vì đã nói thay tình cảm, nỗi lòng họ: “Về đây hỡi người lênh đênh nhớ quê/ Chân trời bâng khuâng mơ về/ Về với lúa vàng...”.  

Hẳn nhiên người Việt coi cây lúa là biểu tượng cho cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Quý mến, trân trọng đến mức người Việt coi đó là biểu tượng cho sự no đủ, thiếu nó thì cuộc sống bấp bênh, tạm bợ, hết ý nghĩa: “Đói cơm rách áo hóa ra ăn mày”, “Cơm hàng cháo chợ”... Các thành ngữ “No cơm ấm áo”, “No cơm ấm cật”, “Mạnh về gạo bạo về tiền”... cho thấy người Việt luôn coi lúa gạo không chỉ là điểm tựa vật chất mà còn là điểm tựa về tinh thần. Từ gạo, người Việt lại chế biến ra biết bao là thứ bánh vừa là quà quê, vừa là món ăn thay cơm. Có một món ăn đặc sắc không có ở bất kỳ vùng văn minh nông nghiệp lúa nước nào khác, là cốm. Từ xa xưa cốm được coi là thứ “thời trân” hảo hạng. Nhà văn Thạch Lam từng ca ngợi“Cốm là thức dâng của đồng lúa bát ngát xanh”...

Triết học luôn tìm đến các phạm trù để khái quát các biểu hiện mang tính quy luật. Nếu vậy, cây lúa chắc chắn là một biểu tượng được triết học ưa thích. Quả thật, mỹ học cái đẹp của người Việt thiên về sự hài hòa, cân đối. Nhà nào có trai có gái được gọi là có nếp có tẻ tức có âm có dương. Thì nếp, tẻ chính là mượn ở kho từ vựng nói về cây lúa. Ngày Tết nhà nào cũng có cặp bánh chưng, có nhà thêm cặp bánh dầy. Vốn ra đời từ chuyện “Bánh chưng bánh dầy” cũng là một quan niệm triết học thô sơ về vũ trụ với trời tròn đất vuông!

Người trần sống bằng cơm gạo. Người âm cũng vậy. Người nào về với tổ tiên được con cháu cho ngậm nhúm gạo và đồng tiền lẻ để xuống cõi âm vẫn có thức ăn và mua sắm tiêu pha (!?). Cúng ông bà tổ tiên, nghèo lắm thì có tấm lòng thành “bát cơm quả trứng”. “Cúng cả năm không bằng ngày Rằm tháng Bảy”. Đó là ngày cúng các cô hồn lang thang cơ nhỡ: cháo hoa cho vào các lá đa để bên vệ đường... Ấm áp biết bao, thấm thía tận cùng!.

Hầu hết cư dân Đông Nam Á đều có biểu tượng tín ngưỡng thờ cúng cây lúa với tư cách nữ thần. Người Việt gọi thờ Mẹ Lúa và suy tôn Vua Hùng là thần Tổ gắn với nghề nông, dạy dân cày ruộng, cấy lúa. Ngày tế Lúa thần (Mồng một tháng Giêng và ngày mùng 10 tháng 10 âm lịch), các vua Hùng lên đền thờ trên núi Nghĩa Lĩnh cầu trời đất, khấn Lúa thần, cầu cho mưa thuận gió hòa, thiên hạ thái bình...

Người Malaysia cổ xưa gọi hồn lúa là công chúa mặt trời. Nghi lễ tổ chức long trọng ở ngoài đồng, rồi rước về nhà công chúa mặt trời được hóa thân vào một cô gái đẹp, mặc xiêm y màu vàng (màu lúa chín). “Công chúa” ngồi trên chiếc xe dán giấy trang kim sặc sỡ, xung quanh có nhiều bó lúa được xếp như những đóa hoa. Cư dân Thái Lan làm lễ cúng nữ thần lúa khi cây lúa ngoài đồng bắt đầu ngậm đòng kết hạt. Ở Lào có Lễ hội vun thóc (thóc vun thành đống lớn) tổ chức vào tháng ba để tạ ơn các thần và tổ tiên đã phù hộ cho vụ mùa bội thu. Người Campuchia cũng vào tháng ba tổ chức lễ tạ ơn hồn cây lúa và lễ rước lúa ra đồng…

Tại sao cây lúa lại biểu hiện trong hình tượng người nữ? Có thể lý giải dưới mấy góc độ sau: Một, người phụ nữ đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống hái lượm và sau này là trồng trọt. Hai, đó là chứng tích của thời kỳ mẫu hệ. Ba, gắn liền với chức năng sinh sản, duy trì nòi giống thì người nữ rõ rệt hơn cả... Những điều đó có thể còn tranh luận nhưng chắc chắn có một quy luật chung ở mọi xứ sở thuộc văn minh nông nghiệp thì vòng đời cây lúa luôn là cơ sở tạo nên hầu hết những lễ hội lớn. Đấy cũng là lý do để người ta định danh “vùng văn minh lúa nước”!

Ngày nay, vựa lúa Đông Nam Á nuôi sống hàng tỷ sinh linh trên trái đất. Việt Nam năm 2022 này, dự kiến xuất khẩu trên 6 triệu tấn gạo. Khối ASEAN chọn hình ảnh bó lúa làm biểu tượng là đích đáng!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).