Cao nguyên Blao cất cánh bay hương

Chúng tôi đi theo đường 20 vượt qua đèo vào thành phố Bảo Lộc (Lâm Đồng). Nơi đây từ xưa được gọi là “Thủ đô trà” miền Nam. Những trang trại trà đã được người Pháp triển khai mở mang từ năm 1930. Họ đã dùng nhân công là những người dân tộc Mạ ở xứ Blao cổ xưa.

Trong bài hát của dân tộc Mạ đã từng nhắc đến trà: “Trong đồng nội, ngàn cỏ tranh phủi bụi/ Chốn rừng thưa, êm phủ thảm nhung/ Chốn Rling cất cánh bay hương…”.

Điệp trùng đồi trà cao nguyên   

Với độ cao chừng 800 mét, vùng đất đỏ Bảo Lộc (Blao xưa) cùng độ ẩm thích hợp đã tạo nên một hương vị trà khác biệt. Nhưng phải nói trà Bảo Lộc phát triển mạnh chỉ kể từ khi có những người dân Bắc di cư vào làm kinh tế rừng nơi đây. Đó là thập niên 50 thị xã Blao rầm rộ trong không khí khai hoang mở đất. Những đồi trà của người Pháp trên đường 20 khi đó mới được phát triển thực sự.

Cao nguyên Blao cất cánh bay hương -0
Biểu tượng vương quốc trà Bảo Lộc (tại ngã ba thành phố).

Bảo Lộc trở thành trung tâm trà từ đó. Sau này những người di cư xâm nhập khai phá rừng sâu tạo nên những đồi trà và cà phê bạt ngàn chạy suốt hàng chục cây số quanh vùng Bảo Lộc. Trà được sao chế theo kỹ thuật cổ truyền ở ngoài bắc nên giữ được hương vị thơm ngon. Đặc biệt với trà hoa sói được thử nghiệm tạo nên nét độc đáo và được coi là đặc sản của trà Bảo Lộc. 

Chúng tôi đi dần vào trung tâm đường Trần Phú dọc trục đường 20 mới thấy không khí nơi đây sầm uất và tràn ngập những cửa hàng trà lớn. Ngã ba đường đi Đà Lạt có một biểu tượng đầy kiêu hãnh của người dân Bảo Lộc đó là một bình trà đất khổng lồ. Nơi đây người Mạ vẫn còn lưu truyền câu chuyện tình gắn với cây trà thiên nhiên từ cổ xưa.

Dòng nước sông Da RNga bao quanh thành phố chính là nguồn dinh dưỡng để nuôi cây trà. Con thác Đăm Bri được hình thành từ đây ở độ cao hơn 60 mét trắng xóa một vùng trời. Người Mạ kể đó là nước mắt của cô gái người Mạ khóc thương cho người mình yêu. Cuộc tình đã không tới và cả hai cùng chết hóa đá và hóa thác để lại mối giao cảm với đất trời.

Người Mạ đã chăm sóc cây trà bằng nguồn yêu thương ấy. Những đồi trà và cà phê quanh năm xanh tốt. Chính vì thế hương vị trà mới đậm sâu tình nghĩa và ngọt ngào yêu thương. Những ai qua đây đều nhận ra điều đó mỗi khi ngồi bên ấm trà hay tách cà phê trong buổi sớm se lạnh. Bởi người Bảo Lộc luôn truyền lại câu ngạn ngữ: “Uống trà trong nắng sớm/ Vườn tâm đầy hương hoa”.

Biểu tượng bình trà khổng lồ ở ngã ba thành phố luôn trao gửi cho khách thập phương qua đây với bao nỗi niềm lưu luyến. Điệp trùng những đồi trà được mở rộng khắp các huyện gần khu vực thành phố tựa như bức tranh kỳ vĩ bao la một màu xanh rạng rỡ dưới ánh mặt trời.

Từ trước tới nay hầu hết những địa phương phía Nam đều dùng trà Bảo Lộc với những cái tên gần gũi đã làm nên thương hiệu nửa thế kỷ qua như “Chim bồ câu trắng” (của ông chủ Đỗ Hữu), hay “Con voi vàng” của danh trà Quốc Thái, hoặc “Tâm Châu”, “Rồng vàng”…

Dọc trục đường 20 luôn nườm nượp những đoàn xe đợi lấy hàng chở đi các tỉnh miền Nam mỗi sáng. Bảo Lộc được mệnh danh là vương quốc trà từ hàng chục năm qua. Thành phố luôn cất tiếng hát trên làn sóng đài phát thanh những câu hát gửi về người nơi xa rằng: “Mênh mông một màu xanh/ Bạt ngàn đồi nương bát ngát hương trà/ Trong sương sớm bồng bềnh/ Thơm mãi môi người vị chát đầy yêu thương…”.

Hương vị mới lạ của đất đỏ Bazan

Nhưng thực sự trà Bảo Lộc đổi mới bất ngờ từ khi có giống trà mới làm nên thành phẩm Ô Long. Hình ảnh văn hóa trà nơi đây đã thay đổi vào giữa thập niên 90. Không gian thiền trà đã được mở rộng với không khí cởi mở hơn với hương vị trà Ô Long về gần với thiên nhiên hơn. Đây là giống trà mới được mang về từ Đài Loan cùng với kỹ thuật trồng và chế biến khác trà cũ.

Nếu theo phương pháp sao chế giống trà Bắc được coi là diệt men hoàn toàn với kỹ thuật rang sấy và lên hương thì giống trà Ô Long chỉ được diệt men một nửa. Nghĩa là trà Ô Long vẫn giữ lại một phần hương vị trà tươi dịu nhẹ và ngọt thơm. Tất nhiên với kỹ thuật khắt khe khi khống chế trà chỉ ô xy hóa một phần trà Ô Long được coi là sản phẩm mới và trở thành đặc sản của trà Bảo Lộc.

Cao nguyên Blao cất cánh bay hương -0
Vườn hàng trà ở Đăm Bri.

Sự thưởng thức trà Ô Long phần nào khác trà truyền thống ngoài Bắc. Nếu với trà Tân Cương có độ đậm thơm với hình ảnh qua câu thơ của cố thi sĩ Phùng Cung: “Quất mãi nước sôi. Trà đau nát bã. Không đổi giọng Tân Cương”. Hay như trà sen ở Hà Nội lại được tôn vinh với sự thưởng thức hồn Việt: “Ai hay trong một chén trà. Có hồ sen ngát đậm đà dâng hương” thì với trà Ô Long cách pha chế và thưởng thức làm thay đổi cảm xúc và tâm trà trong mỗi người.

Riêng cách pha trà Ô Long đã có sự khác biệt. Đó là nước pha luôn ở độ sôi 100 độ. Chờ thời gian ngấm trà chỉ chừng 30 giây là thay một tuần nước. Do vậy ấm trà Ô Long pha có khi tới 5 tuần trà mà vẫn giữ được hương vị. Đó là độ ngát hương thơm tự nhiên.

Vị ngọt dịu với độ chát nhẹ chứ không đậm đặc của trà Bắc. Với kỹ thuật chế biến mới cùng với sự điều chỉnh cho trà lên men với tỉ lệ khác nhau giống trà Ô Long cho ra những sản phẩm độc đáo như Ô Long Tứ Quý, Ô Long Kim Tuyên hay Thiết Quan Âm hoặc Đại Hồng Bào… Tất cả tạo được những cảm xúc mới và nhịp điệu mới khi thưởng trà trong nghệ thuật ẩm thực ở Bảo Lộc.

Do việc xuất khẩu trà Ô Long đạt hiệu quả kinh tế cao đặc biệt với thị trường Trung Quốc nên không ít công ty trà ở Bảo Lộc đã tìm tới trồng và kỹ thuật chế biến trà Ô Long. Ngay cả ngoài Bắc cũng nhiều nơi thử nghiệm chế biến sản phẩm này.

Tuy vậy do thổ nhưỡng và giống trà chưa thích hợp nên trà Ô Long ở ngoài Bắc không được ưa chuộng. Đến nay trà Ô Long được coi là đặc sản của Bảo Lộc. Đua tranh với các ông chủ Đài Loan, nhiều công ty lớn đã có sản phẩm mang hương vị của riêng mình như “Tâm Châu”, “Trâm Anh”, “Quốc Thái” hay “Vũ Phúc”, “Thiên Thanh”…

Khi gặp ông chủ hãng trà Quốc Thái, chúng tôi mới được biết vị trà Ô Long ở đây có hương gần với giống trà tươi đậm và thơm phức. Ai nấy lại nhớ đến quê hương qua vị trà quen thuộc. Đó là hương lúa nếp hòa trong vị giác và trong tâm tưởng khi thưởng trà. Chúng tôi nghe ông chủ ngâm nga những vần thơ tự sự bên bàn trà với hình ảnh thiền bao la: “Trên ngàn đỉnh núi một căn nhà/ Một nửa cho mây, một nửa ta/ Đêm rồi gió thổi mây đi mất/ Tính lại sao nhàn bằng lão gia”. Ngâm thơ rồi ông khà một tiếng với chén trà thơm phức trên tay.

Vương quốc “Ngọc xanh”

Vùng trà Bảo Lộc rộng lớn hàng trăm cây số vuông tạo nên thị trường khắp miền Nam và xuất khẩu. Giống như vùng trà Thái Nguyên tạo dựng thương hiệu phía Bắc thì trà Bảo Lộc, đặc biệt trà Ô Long đã làm nên một tên tuổi có giá trị trên thị trường. Trà Thái với hình ảnh cánh hạc qua quảng bá: “Búp trà như cánh hạc/ Vỗ nhịp nhàng gió thơm/ Chén trà bay hương cốm/ Đậm vị trà Tân Cương”.

Còn với trà Ô Long của xứ sở cao nguyên Bảo Lộc lại rộn ràng với nhịp điệu mới với hình ảnh “Hạt ngọc xanh” của vương quốc thơm Blao mơ mộng. “Hạt ngọc xanh” ví von với hình ảnh trà viên (gần với hình tròn) được cuộn lại từ những búp trà non.

Sớm sớm những cô gái người Mạ vẫn lên đồi trà hái những búp tơ trời. Họ cất tiếng ca về mối tình của chàng Đăm và nàng Bri đã làm nên hương vị trà có một không hai ở nơi đây. Dường như cao nguyên đất đỏ nằm trong dẫy núi Di Linh huyền bí là nơi tích tụ hương vị của trời đất. Những hạt ngọc xanh của người Mạ được coi là món quà của thiên nhiên trao tặng cho du khách bốn phương.

Thật thú vị khi chúng tôi cùng các văn nhân Bảo Lộc thưởng trà bên thềm nhà của chủ nhân hãng Trâm Anh. Ông chậm rãi đón từng hạt ngọc trà cho vào ấm rồi mỉm cười nhìn mọi người. Trên tay ông là chiếc ấm mang tên người đẹp Tây Thi óng mượt và sẫm đỏ. Điều kỳ diệu đã đến khi chúng tôi đưa chén trà lên thơm ngát làn môi. Đúng như các thiền sư đã nói: “Bao nỗi buồn, vui, sinh, tử, mộng/ Tan biến trong hương một chén trà”.

Vương Tâm

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).