Cao Ngọc Thắng - một mình thao thức đèn khuya

“Nhịp mùa”, NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 9/2025, là tên tập "Thơ chọn" từ 7 tập thơ lẻ của Cao Ngọc Thắng. Thơ ông là những vui buồn bất chợt với những khoảnh khắc tâm trạng riêng tư được diễn đạt một cách tự nhiên làm nên một giọng điệu trữ tình sâu lắng.

Là cây bút đi nhiều, gặp gỡ nhiều, quan sát, ghi nhớ rồi trên từng trang viết ông hướng đến việc biểu hiện nội tâm của chủ thể trữ tình, bằng biểu cảm, bằng triết luận rút ra từ những “va đập” với cuộc đời. Thơ ông vì vậy mang hơi ấm từ cuộc đời, có sức lan tỏa, lắng lại của niềm vui, nỗi buồn từ cuộc đời. Những niềm vui, nỗi buồn tưởng chỉ của riêng ông, đến lượt nó trở thành của mọi người, của những bạn đọc luôn tìm thấy sự đồng điệu, đồng cảm với thơ ông.

Cao Ngọc Thắng - một mình thao thức đèn khuya -0
Tác giả Cao Ngọc Thắng.

Sự đồng điệu, đồng cảm đó được hình thành tự nhiên bởi những câu thơ giản dị, như thể tự nhiên bắt được, như thể không phải dụng công gì nhiều, nhưng lại giàu sức gợi, giàu mỹ cảm, kích thích trí tưởng tượng của người đọc.

Trong thơ, Cao Ngọc Thắng nhanh chóng kết thúc sự miêu tả để đi đến sự biểu hiện tâm trạng của mình. Cái nhìn thấy để miêu tả thì ai cũng có thể làm được, nhưng cái biểu hiện tâm trạng thì mỗi người viết có một chiều kích. Thơ cần cái chiều kích riêng tư này. Chẳng hạn, Hà Nội một buổi chiều như mọi buổi chiều, có gì đó như ngưng đọng, như tĩnh lặng, nhưng lại khác biệt với sự ngưng đọng, tĩnh lặng kia bởi một động từ “bay” riêng biệt mà người viết nắm bắt được trong một khoảnh khắc riêng biệt:

Hà Nội có những chiều như thế
Tóc em bay và tà áo em bay

                            (Chiều Hà Nội)

Cũng Hà Nội trước một cửa ô quen thuộc, người viết nhìn thấy không gian nắng nhạt nhòa từ đó liên tưởng tới thời gian “màu cỏ úa” như một chút siêu thực, một màu sắc của cảm nhận riêng tư nhưng đầy biểu cảm và có sức lan tỏa:               

Cửa Ô
               khuất gió
Nắng
                nhạt nhòa
Thời gian
                màu cỏ úa

                   (Ô Quan Chưởng)

Hồ Gươm từ ký ức trong veo như một bức tranh chấm phá thủy mặc trong trí nhớ một người, làm thức dậy vùng ký ức quen thuộc của nhiều người, những ai dù chỉ một lần đến với Thủ đô trên chuyến tàu điện đặc trưng thuở nào. Ở đây ấn tượng về màu sắc, âm thanh, hình ảnh… trong thơ mang ý nghĩa “định vị”:

Soi đáy hồ mây trắng cành sưa
…Kem cốm thuở nào xanh mây
Hoa lộc vừng chăng dây thắp lửa
Rưng rưng
                nỗi nhớ
                                Tiếng leng keng…
                                      Tàu điện đáy hồ…

                                   (Ký ức Hồ Gươm)

Hay một ngày mưa, một góc ngã tư vô danh, một tâm trạng bất định như chẳng có gì đáng nhớ trong cuộc đời lắm nỗi nhọc nhằn. Vậy mà giữa tâm trạng chênh chao bất định kia lại hiện về hình ảnh quen thuộc của quán ngày mưa đang buông neo trong trí nhớ:

Góc ngã tư
                Chênh chao
                      Lối giăng khắp ngả
Anh chối quên
Để nhớ
                quán
                     ngày mưa

                               (Tháng ba)

Nỗi nhớ quán ngày mưa rồi sẽ được lấp đầy bởi những ký ức khác. Chẳng hạn một lần trở lại thành Tuyên, miền đất nhiều kỷ niệm. Nắng cuối ngày, vạt lau già và vầng trăng khuyết như một sự phôi pha của thời gian:

Ngày trở lại
                sông ơi gầy quá
Suối tóc em
                bạc nửa mái đầu
Thuyền độc mộc trôi dòng trăng lạnh
Ngã ba Gâm chòng chành
Dòng Lô ngược
                hoa lau trắng xóa
Nắng cuối ngày
                bóng nhạt thành Tuyên
Bến Bình Ca uốn chiều lạ quá
Em ơi!
                trăng khuyết     
                                đợi tròn

                                       (Trở lại)

Ngòi bút của Cao Ngọc Thắng cũng giàu sức liên tưởng. Người đọc sẽ cùng tác giả nhớ đến những câu thơ như một mặc định của một thời bi tráng bất hủ trong thơ Quang Dũng. Mai Châu mùa em… như một đốm lửa xanh lãng mạn của những câu thơ một thời gian nan

Núi trùng trùng non điệp điệp
Đường cầu mây anh đến
Mai Châu ký ức anh
Ngân câu thơ “Tây tiến”
Vọng âm âm bước mặt trận lên ngàn

                                (Mai Châu em, trở lại)

Cũng vậy, "Cuộc chia ly màu đỏ" nổi tiếng của Nguyễn Mỹ năm nào, cho dù bụi chiến tranh phủ mờ, vẫn như đang vọng lại trong những câu thơ gợi cảm hôm nay của Cao Ngọc Thắng:

Một ngày rực lắm
Nơi anh nằm
Con chuồn chuồn lửa
                đậu xuống câu thơ chia ly ngày ấy
Cuộc chia ly ngày thu vàng nắng cháy năm xưa

                                                (Chuồn lửa)

Thơ Cao Ngọc Thắng thường khi cũng thấm đẫm nỗi đời. Rồi từ cái nỗi đời vui buồn ấy, chứ không phải từ tư biện, từ sách vở, người viết đi đến những bài học, những nhận định, những triết lý mang hơi thở cuộc đời: Sải chân bước phía chân trời tít tắp

Ngoảnh lại trông đời vẫn thế phù vân
                                (Bất chợt)

Đôi khi là một thảng thốt trước cỗ máy thời gian như một chút hiện sinh bất chợt đến trong cõi người

Hoa gạo đỏ không đủ nhen ngọn lửa
Ngơ ngác đời
                mùa đi vùn vụt
Những thoáng qua
                                mất hút cõi người

                                                (Ngơ ngác)

Cao Ngọc Thắng - một mình thao thức đèn khuya -1
Bìa tác phẩm “Nhịp mùa” của tác giả Cao Ngọc Thắng.

Rồi cuộc người, rồi hạnh phúc riêng tư dưới mỗi mái nhà, như một trò chơi định mệnh đã được sắp xếp đâu đó bởi một thế lực vô hình nào đó, lấy sự bập bênh muôn thuở thay cho sự cân bằng nhất thời làm nên thế gian ba phần tư nước mắt như chưa bao giờ vơi bớt buồn đau.

Anh và em
Lên cầu bập bênh
Mỗi đứa một đầu
                            đứa lên
                                đứa xuống

                                                (Bập bênh)

Cuộc đời đôi khi là may rủi như thể ú tim, vui buồn như thể nằm ngoài sự cố gắng

Thia lia mặt nước
                          sỏi chìm
Cuộc đời như thể
                            ú tim
Vui?
Buồn?

                                                (Ú tim)

Nhân thế từ xưa đến nay vẫn như đèn cù xoay tít, như không thoát khỏi luân hồi. Cái vui bên cạnh cái buồn, cái tưởng đã một đi vĩnh viễn, lại hiển hiện trước mặt như một luật đời. Ngòi bút của Cao Ngọc Thắng đến đây như mặc nhiên bình thản thừa nhận, trở nên không còn thảng thốt, không còn nghi vấn, không còn lưỡng lự nữa:

Ờ! vẫn vậy
                đèn cù quay tít
Chuyện xửa xưa
                hiển hiện đến bây giờ
Chuyện xửa xưa đâu có bất ngờ
Thì vẫn thế muôn năm vẫn thế

                                                (Lãng đãng)

Sự không còn lưỡng lự kia biến thành một thái độ, một lựa chọn, một chấp nhận, một quả quyết giữa cái ngổn ngang, chật chội, chối từ của cuộc đời vốn ít khi chiều theo ý thích của bất cứ ai. Sự đốn ngộ của ngòi bút cũng là sự từng trải của người viết trước cõi nhân sinh bé tý mà chất chứa phi lý:

Không phải anh không muốn về
Chiều đầy lá rụng
Bầu trời phù thũng
Phố xá ngổn ngang                             

Không phải anh không muốn đi
Lối về chật chội
Mọi ngả đường giơ tay từ chối
Vỉa hè vồi vội vấp chân

                                (Lựa chọn)

Tâm trạng ngổn ngang ấy là một trong những lý do để nhà thơ cầm bút. Khi cuộc đời còn khiếm khuyết, khi cái đẹp đang trong tình trạng chưa hoàn thiện là lúc người đọc cần một sự độ lượng của câu chữ, như một sự khỏa lấp/ nỗi buồn.

Tôi và bác chạm ly
Thơ sóng sánh
Nỗi niềm
                đặc quánh
                                nếp hương
Rót thơ ra chén
                quên sầu riêng

                                                (Thăm bạn)

Những lúc như vậy thơ làm Cao Ngọc Thắng như quên nỗi sầu riêng. Ông lại đến với thơ như một duyên nghiệp, một duyên nghiệp mà những ai trót lựa chọn, gắn bó, dấn thân đều hiểu ít nhiều như phải đặt mình trước sự định mệnh nhưng cũng rất cao cả của sự lựa chọn đó:

Hồn thơ lật mình soi bóng
Một mình thao thức đèn khuya

                               (Trầm tích)

Với “Nhịp mùa”, có thể xem là bản tổng kết nhìn lại một chặng đường về lĩnh vực thơ trữ tình của Cao Ngọc Thắng. Ông còn là một cây bút phê bình văn học và tác giả của nhiều bài viết về văn hóa, nghệ thuật khác. Nhưng thơ là lĩnh vực ông dành nhiều tâm huyết và tài năng nhất suốt mấy chục năm qua.

Lê Thành Nghị

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).