Cái quạt và những làn gió văn hóa!

Sống ở xứ sở nhiệt đới nắng nóng nên cái quạt luôn gắn liền với đời sống người Việt. Nó được nâng lên thành biểu tượng văn hóa với bao lớp mã trong hình tượng cái quạt mo của thằng Bờm (ca dao) hay cái quạt trong thơ của nữ sĩ thiên tài Hồ Xuân Hương. Ngày nay người ta dùng quạt điện nhiều hơn nhưng cái quạt cổ truyền là quạt mo cau, quạt xếp giấy, quạt nan...vẫn được dùng thường xuyên.

Theo nhiều chứng cứ khảo cổ học, văn bản học... cái quạt đã có từ hơn 4.000 năm trước Công nguyên, được người Ai Cập sử dụng đầu tiên với chức năng chính là làm mát và đuổi côn trùng. Loại quạt lớn, cố định, theo mô tả có hình bán nguyệt, được làm từ lông thú (thường là đà điểu). Loại quạt cầm tay (có tên Flabellum) được dùng trong các nghi lễ.

Người Ai Cập cổ xem quạt như một vật linh thiêng, là biểu tượng của quyền năng. Hai chiếc quạt tay được tìm thấy trong ngôi mộ của Hoàng đế Tutamkhamun nói lên điều ấy. Trong đó có một chiếc bằng vàng, chiếc còn lại được làm bằng gỗ mun dát vàng và gắn đá quý.

Theo thời gian, người Do Thái cổ, Ba Tư, và La Mã... dùng quạt để tạo gió làm mát, rồi các công năng khác ra đời để phục vụ con người: Để che nắng mưa; đựng đồ ăn nhẹ; dùng để chào hỏi; để biểu lộ tâm trạng; để che khiếm khuyết trên khuôn mặt... Theo nhiều sách viết về phong tục thời trung đại thì phụ nữ châu Âu thường dùng quạt “làm duyên” để che mặt trong những buổi lễ hay gặp gỡ bạn khác giới...

Thời kỳ thịnh hành nhất của cái quạt cầm tay ở vào khoảng thế kỷ XVIII. Hoàng gia Pháp đặc biệt ưa chuộng những chiếc quạt sang trọng, đắt giá, mang tính nghệ thuật cao. Ngôn ngữ ước lệ của chiếc quạt trở nên hết sức phong phú được xã hội quý tộc thượng lưu kiểu cách sử dụng, như: Vuốt cây quạt đang gấp lại là “Chúng mình nói chuyện với nhau đi!”; Tự quạt cho mình bằng bàn tay trái: “Có người đang để ý chúng mình đấy!”; Đưa quạt tới lui bằng bàn tay phải: “Cảm ơn anh, em có người khác rồi!”...(!?)

Cái quạt và những làn gió văn hóa! -0
 Chiếc quạt xếp làm từ vàng lá!

Ở phương Đông công dụng, ý nghĩa biểu tượng của chiếc quạt cũng thật rộng rãi. Là phương tiện không thể thiếu để phái nữ thể hiện tính e lệ, duyên dáng. Với đàn ông quạt là biểu trưng cho trí tuệ và quyền lực. Với người Nhật Bản, chiếc quạt được các thầy tu sử dụng trong các buổi hành lễ. Những chiếc quạt tay bằng kim loại còn là vũ khí lợi hại của các võ sĩ samurai.

Nhiều sách cổ Trung Quốc khẳng định chiếc quạt ra đời từ nước họ chính là mô phỏng theo cánh của con dơi, mà con dơi, theo văn hóa Trung Hoa là vật lành, điềm lành nên chiếc quạt đều được mọi giới yêu quý. Trong “Tây du ký” có cây quạt ba tiêu thần thánh của Thiết Phiến công chúa (là vợ của Ngưu Ma Vương, mẹ của Hồng Hài Nhi). Quạt có công năng kỳ diệu có thể biến to thu nhỏ, quạt một cái thì lửa tắt, quạt hai cái thì gió nổi, quạt ba cái thì mưa xuống. Tại sao lại gọi là “ba tiêu”? Vì “ba tiêu” có nghĩa là cây chuối, quạt giống với tàu lá chuối nên gọi ba tiêu. Theo ngũ hành, cây chuối thuộc âm, kỵ dương nên quạt này dùng dập lửa Hỏa Diệm Sơn. Người thường dân Trung Hoa cổ hay dùng quạt nhỏ cũng gọi là ba tiêu, thường làm bằng lá cọ...

Trong “Tam quốc diễn nghĩa” hình ảnh Khổng Minh Gia Cát luôn có cái quạt lông. Ra trận ông lấy cái quạt làm hiệu lệnh chỉ huy. Nó vừa dùng để làm mát nhưng rất nhiều lần làm “nổi gió” dữ dội để thổi bay quân đối phương!

Truyền thuyết cổ Trung Hoa kể cây quạt được tạo ra bởi thần Nữ Oa. Thời đó trên mặt đất chỉ có hai người là Nữ Oa và Phục Hy cùng ở trên ngọn núi Côn Sơn. Nữ Oa đan quạt bằng cỏ dùng để che mặt khi ngượng ngùng xấu hổ. Từ sau thời nhà Hán, hình dáng, cấu tạo của quạt đã đa dạng hơn rất nhiều, có các loại quạt hình tứ giác, hình tròn, hình lục giác. Đến thời nhà Tống đã có quạt lụa xếp có thể xếp và gấp lại, được vẽ tranh ảnh hay chữ nghĩa lên quạt. Ban đầu quạt lụa hình tròn mô phỏng vầng trăng rồi các biến thể ra đời với những hình dạng khác như hình bầu dục, cánh hoa mai, hoa hướng dương... Từ đó dần dần quạt xếp cầm tay (giấy, lụa) trở thành tác phẩm nghệ thuật phổ biến.

Ở ta, nhà bác học Lê Quý Ðôn (1726 - 1784), trong tác phẩm “Vân đài loại ngữ” cho biết: Từ rất lâu người Việt dùng quạt bằng lông chim và quạt bồ quỳ (làm bằng lá cọ). Đến khoảng thế kỷ X thì có loại quạt giấy xếp (gọi là tập diệp). Ở nông thôn phổ biến là quạt mo. Mo cau mới rụng được cắt thành hình quạt, phơi khô, ép cho khỏi vênh. Rất đơn sơ, chất phác, giản dị, trở thành một biểu tượng cho nếp sống nhà quê Việt.

Cái quạt và những làn gió văn hóa! -0
 Cảnh trong vở chèo “Quan âm Thị Kính”.

“Truyện Kiều” là kết tinh của văn hóa Việt, tất nhiên phải có hình tượng quen thuộc này. Trong danh tác, cái quạt xuất hiện 5 lần. Cái quạt luôn ở bên cạnh Kim Trọng: “Sẵn tay bả quạt hoa quỳ/ Với cành thoa ấy tức thì đổi trao” (câu 357, 358) và trở thành tín vật thề non hẹn biển của Kim - Kiều. “Quạt hoa quỳ” là quạt bằng lá cọ vẽ hoa. Dùng quạt này cho thấy vị thế xã hội của chàng Kim cũng chỉ là tầng lớp trung lưu, kẻ sĩ. Kiều bị người ta thử tài bằng cách làm bài thơ vịnh cái quạt: “Đắn đo cân sắc cân tài/ Ép cung cầm nguyệt thử bài quạt thơ” (câu 639, 640).

Kiều nhớ về người yêu, tất nhiên cái quạt là tâm điểm của nỗi nhớ ấy: “Kể từ khi gặp chàng Kim/ Khi ngày quạt ước, khi đêm chén thề” (câu 728, 729). Kiều nghĩ về cha mẹ, nghĩ về bổn phận chưa tròn của người con, mùa đông ấp cho (bố mẹ) ấm, mùa hè quạt cho (bố mẹ) mát: “Xót người tựa cửa hôm mai/ Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ” (câu 1043, 1044). Kiều nghĩ về mình, thương mình: “Thương càng nghĩ, nghĩ càng đau/ Dễ ai rấp thảm quạt sầu cho khuây” (câu 1681, 1682). “Quạt sầu” đa nghĩa, có thể hiểu quạt cho nỗi sầu “bay” đi, cũng có thể hiểu gửi nỗi sầu vào cái quạt, cái quạt cũng như người, biết sầu, biết đau...

Quạt giấy trở thành một đạo cụ không thể thiếu trên sân khấu cổ truyền, nhất là trong chèo cổ. Người diễn viên dùng để múa, cơ bản hơn là tạo ra những tượng trưng ước lệ cho nhiều ý nghĩa khác trong nhiều hoàn cảnh khác nhau. Khi nhân vật là học trò thư sinh xòe quạt, nhìn chăm chú, miệng đọc (kiểu như) “Quan quan thư cưu” thì cái quạt được giả định là cuốn sách. Khi nhân vật có chức sắc đọc chiếu chỉ vua ban cũng xòe quạt, thái độ kính cẩn nhìn vào “quạt” mà đọc (!). Có khi là biểu trưng cho cái roi. Nhân vật gấp quạt, lấy đó làm vũ khí cùng những hành động chiến đấu... Rồi quạt là cái ô che đầu. Nhân vật xòe quạt ra, làm động tác giương ô…

Là người Việt, rất nhiều người thuộc và hiểu ý nghĩa bài thơ “Cái quạt” của Hồ Xuân Hương. Tả cái quạt nhưng phải hiểu đấy là tả người thiếu nữ: “Mười bảy hay là mười tám đây”, là vừa nói về tuổi vừa chỉ số lượng cái nan quạt. Phong cách ỡm ờ, hai mặt của một thiên tài phát huy cao độ: “Chành ra ba góc da còn thiếu/ Khép lại đôi bên thịt vẫn thừa”. Nhờ vậy mà được vua mến, chúa yêu! Thế là bọn chúng bị Bà “giải thiêng”, hạ bệ từ cao xuống thấp. Thì ra vua chúa gì chúng nó, chẳng qua cũng chỉ là những kẻ tầm thường “yêu đêm chưa phỉ lại yêu ngày” cái “quạt” kia! Lấp ló sau hình tượng “cái quạt” ấy chính là “cái này” đầy tinh quái!!!   

Bài ca dao “Thằng Bờm” là một câu chuyện có nhân vật, có tình huống, tình tiết, có kịch tính cao trào, có kết thúc. Đây là kết cấu đặc trưng của truyện cười dân gian: Sử dụng hình thức tăng cấp và kết thúc bất ngờ, đột ngột. Bắt đầu chỉ là “cái quạt mo”, phú ông đòi đổi “ba bò chín trâu”, rồi “ao sâu cá mè”, đến “ba bè gỗ lim” đến “bầy chim đồi mồi”. Cuối cùng kết thúc đột ngột bật ra là “nắm xôi”. “Nắm xôi” chỉ “ngang giá” với “cái quạt mo”. Tiếng cười bật ra từ cái “ngang giá” ấy. Câu chuyện vui vẻ, nhân vật cười, bạn đọc cười. Những nụ cười dân chủ! Khép lại là hình ảnh “Bờm cười” rất ý vị và đa nghĩa.

Có thể hiểu đây là câu chuyện vui, là tiếng cười vui. Đằng sau đó là khát vọng nhân văn trong sáng đến tận cùng: Người già cả, giàu có, vương giả (như phú ông) cũng như kẻ trẻ tuổi, nghèo khó, phận mọn (như thằng Bờm) đều nên vui vẻ, thoải mái, lạc quan bình đẳng như nhau. Khi đạt đến độ “lão thực” an nhiên, tự tại thì tài sản vật chất quý giá như “ba bò chín trâu” hay “bầy chim đồi mồi” cũng đều chỉ như cái “quạt mo”, hay “nắm xôi” mà thôi. “Hãy quẳng gánh lo (vật chất) đi mà vui sống!”. Sự vui vẻ, vô tư, thoải mái mới là tài sản tinh thần đáng quý nhất?!

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).