Cái “giật mình” của văn hóa!?

Cụ Tú Xương có hai câu thơ không chỉ là để đời mà sẽ là muôn đời: "Vẳng nghe tiếng ếch bên tai/ Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò". Đây là cái "giật mình" của lịch sử, của thời đại: sự đổi thay quá nhanh liệu có là tốt đẹp? Xưa là tiếng người thao thiết nay là tiếng ếch vô tình! Cái âm thanh vô tình lại trở nên hữu tình, đau đáu, ngẩn ngơ, bàng hoàng...!

Tiếng ếch, con ếch vốn là một phần đời sống văn hóa người Việt!

Để chê trách kẻ nào to mồm rồi gặp nạn, người ta sẽ nói: "Ếch chết tại miệng". Để phê phán ai đó kiến thức hạn hẹp mà lại cố tỏ ra hiểu biết thì: "Ếch ngồi đáy giếng". Khinh thường ai đó người ta dè bỉu: "Loại ếch/cóc nhái!". Nói về thân phận đáng thương (của người nông dân) thì: "Ếch kêu dưới vũng tre ngâm/ Ếch kêu mặc ếch tre dầm mặc tre". Những kẻ dưới đáy sống ở môi trường dưới đáy sẽ muôn đời không ánh sáng...

Để tưởng nhớ Léon Jean Laurent Chavassieux (1848 - 1895) - phó Toàn quyền Đông Dương, năm 1897 ở Hà Nội, người Pháp xây dựng vườn hoa Chavassieux, nay là vườn hoa Diên Hồng, trong đó có những bức phù điêu con ếch phun nước. Thế nhưng dân gian cứ coi đấy là con cóc và gọi luôn là "vườn hoa con Cóc". Vì với tín ngưỡng của họ chỉ con cóc mới xứng đáng ngồi ở đó... Còn con ếch chỉ là nhỏ bé, thảm hại, đáng thương!?

Cái “giật mình” của văn hóa!? -0
Hình tượng con ếch trong "Vườn hoa Con Cóc".

Người Việt sáng tạo hẳn một truyện ngụ ngôn "Ếch ngồi đáy giếng" để răn dạy con người phải biết mình, biết ta để mà ứng xử, kẻo không thì thiệt mạng. Vì sống dưới đáy giếng, khi nhìn lên ếch ta thấy bầu trời chỉ bằng cái miệng giếng. Nó thấy các loài sống dưới đó như nhái, cua, ốc... đều bé nhỏ thảm hại cả. Nó chỉ cần cất tiếng kêu ộp ộp là bọn chúng hoảng sợ. Chưa từng gặp ai mạnh mẽ hơn nên ếch cứ nghĩ nó là một vị chúa tể.

Một hôm trời mưa lụt nước giếng dâng tràn ếch được dịp ra ngoài mặt đất rộng mênh mông. Lẽ ra phải coi đây là một dịp để quan sát, học hỏi thì nó vẫn giữ cái "quan niệm" cũ, cứ coi mình là nhất thiên hạ, nghênh ngang giữa đường. Thế là hỡi ôi, nó bị con trâu giẫm bẹp. Nó chết mà chưa hiểu vì sao mình chết! Thế đấy, những kẻ kiêu căng "coi trời bằng miệng giếng", không chịu học hành tiếp thu cái mới... sẽ trả giá bằng cái chết! Bài học giản dị, sâu sắc, thấm thía. Chắc chắn sẽ sống mãi, vì còn con người là còn những bài học như vậy!

Truyện "Sự tích con ếch" lại tập trung cái thiếu thiện cảm của dân gian vào hình tượng. Ngày xưa có một nhà sư xuất gia từ bé. Nổi tiếng chân tu học rộng, thông kinh bác cổ, mọi bí truyền sát quỷ trừ tà đều thông tỏ. Một hôm Phật báo mộng cho biết sư sẽ đắc đạo sau một cuộc thi sát hạch ở Thiên đình. Từ đó sư thêm quyết tâm ôn luyện kinh kệ, ấn quyết cho tinh luyện. Đột nhiên một hôm, sư nghĩ ta đã đủ cả lục trí thần thông, duy một việc chưa từng biết là cơ thể đàn bà. Nếu lên trời, được hỏi thì biết gì mà trả lời. Phải "tìm hiểu" thôi!

Nghĩ mãi không ra cách, sư nhờ người đàn ông trông coi nhà chùa. Ông ta về dỗ vợ... Nhưng từ đó sư đâm ra ngơ ngẩn, chả chú ý gì đến kinh kệ thần Phật nữa. Việc phù phép cũng mất thiêng. Phật nổi giận bèn cho sét đánh chết, bắt hóa làm con ếch: "Đi tu mà chẳng trót đời/ Sinh ra con ếch cho người lột da!". Câu chuyện đau đớn mà thâm thúy vô cùng: Làm người phải theo đuổi ý chí đến cùng. Đừng vì bất kỳ một cám dỗ gì mà quên đi lý tưởng. Nhà sư lẽ ra sẽ thành Phật nhưng vì một dục vọng cỏn con mà chết, chết còn bị biến thành loài "ếch nhái"... Làm người đã khó. Làm Phật còn khó gấp vạn lần!

Trong văn hóa Việt, hiếm khi ếch được coi là kẻ hiền lành, thân thiện, thương người như trong truyện Nôm "Trê Cóc". Cóc bị kiện, đi khắp nơi để nhờ, gặp được Ếch thân mật: "Hay là có việc chi chăng?/ Đầu đuôi ngỏ thực xin đừng giấu nhau". Thấy Ếch chân thành quan tâm, Cóc kể về hoạn nạn của mình. Không giúp được gì, Ếch thương cảm giới thiệu đến Nhái bén: "Nghề tay thầy kiện trứ danh/ Có chàng Nhái bén thực anh bợm già". Nhờ thế mà Cóc thoát nạn.

Trong khi đó ở hầu hết các nền văn hóa thì ếch là biểu tượng mang nhiều ý nghĩa tích cực. Những ngụ ngôn của La Phông-ten (Pháp) lấy ếch làm hình tượng đáng chê là hiếm hoi: Thấy chú bò "kếch xù", ếch ta bèn cố phình bụng cho hết cỡ để to bằng bò. Hỡi ôi, cái thân bé bỏng tong teo mà lại cố làm cho to tất sẽ gặp hậu quả: ếch vỡ bụng mà chết. Đó là bài học cho tất cả những kẻ nào hợm hĩnh, cố học đòi, học sang vượt quá cái giới hạn của mình...!

Cái “giật mình” của văn hóa!? -0
Chú ếch ngoài đời!

Cổ tích châu Âu, châu Mỹ cũng có nhiều truyện mô tip người đội lốt vật nhưng ở ta thì thường đội lốt cóc, trong khi đó thì ở họ đội lốt ếch nhiều hơn. Ví như truyện "Hoàng tử Ếch" (truyện cổ Grimm) thì người đáng phê phán là cô công chúa tuy xinh đẹp vương giả nhưng lại chẳng giữ lời hứa, kênh kiệu đáng ghét... Dù bị mắc phải lời nguyền ác độc của mụ phù thủy, chàng Hoàng tử vẫn lạc quan tốt bụng trong cái lốt ếch xấu xí. Cuối cùng sự kiên nhẫn và lòng chân thành của chàng đã cảm hóa được công chúa. Thoát khỏi lời nguyền, họ lấy nhau hạnh phúc…

Gần gũi văn hóa Việt, "cổ mẫu" ếch trong văn hóa Trung Hoa cũng mang nhiều nghĩa biểu tượng tích cực như may mắn, hiền lành, dễ thương và nhất là mang ý nghĩa phồn thực sinh sôi. Người ta tặng các cặp vợ chồng hiếm muộn những tượng ếch xinh xinh ý nói họ sẽ con đàn cháu đống. Mới nhất, trong tiểu thuyết "Ếch", Mạc Ngôn cũng khai thác cổ mẫu này để xây dựng hình tượng con người tràn trề sinh lực giao hoan...

Từ miền cổ mẫu xa xưa, ếch nhảy vào hội họa hiện đại Trung Hoa được bao họa sĩ tài ba miêu tả rất sinh động. Hẳn nhiên có tranh của bậc thầy Tề Bạch Thạch (1864 - 1957). Bức họa "Oa thanh thập lý xuất sơn tuyền" (Tiếng ếch vượt suối vang 10 dặm) được danh họa vẽ năm 91 tuổi như thách thức thời gian, thách thức nghệ thuật. Tiêu đề ghi tả tiếng ếch kêu nhưng không có bất kỳ con ếch nào, chỉ có vài con nòng nọc bơi dọc dòng suối xuống vách núi…

Mãi sau người ta mới "ngộ" ra ý thâm thúy: vẽ ếch thì chỉ thấy được "ếch kêu" trong tưởng tượng chứ không tả được âm thanh "vượt suối vang 10 dặm". Đó là chân lý hàm súc của nghệ thuật, cơ bản hơn là tôn trọng độc giả, dành cho độc giả khoảng không gian tưởng tượng. Đó là tiếng ếch mẹ gọi con từ trên đỉnh núi, vọng khắp vùng lâm tuyền sơn cước. Đó cũng là quan niệm của danh họa: Người thạo vẽ tả thực thì chú trọng cái hình. Người giỏi về tả ý thì chuyên tâm lột tả cái thần. Quả là tài năng kiệt xuất!

Những năm 2009 - 2010 người dân Cơ Tu (Tây Giang - Quảng Nam) liên tiếp phát hiện được trống đồng cổ loại 2 Hê Gơ (thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VI). Có trống còn khá nguyên vẹn, tâm điểm mặt trống trang trí hình mặt trời với 6 tia nắng, trên mặt trống có trang trí nổi 4 con ếch. Theo các nhà nghiên cứu thì vũ điệu ya-ya truyền thống của phụ nữ Cơ Tu còn được gọi là vũ điệu "hình con ếch".

Đó là điệu múa thiêng cầu mùa của người phụ nữ Cơ Tu bắt nguồn từ những động tác dâng lễ vật từ thời xa xưa. Nó là sự mô phỏng động tác thể hiện tâm trạng hân hoan, ăn mừng khi săn bắt được thú lớn… Động tác múa với hai tay giơ lên trời, hai chân dạng ra đối xứng theo trục dọc chính là sự mô phỏng điệu nhảy của ếch. Vũ điệu này được người tiền sử thể hiện qua các hình vẽ trên nhiều vách hang động ở Đông Nam Á.

Có nhiều căn cứ khẳng định hình trên mặt trống đồng Ngọc Lũ là ếch chứ không phải cóc. Có mặt trống là hình các cặp ếch đang giao phối rất tự nhiên.

Giống như trống ở Tây Giang, vầng mặt trời tỏa tia sáng ở giữa mặt trống là dương thì các tượng ếch vây quanh là âm. Đó là biểu tượng của tín ngưỡng phồn thực cổ xưa của nhiều dân tộc. Trong vũ điệu ya-ya Cờ Tu, người múa vừa múa vừa xoay vòng quanh chiếc cột tế giữa sân, thì cột tế biểu tượng của dương (tương tự hình tượng Linga của người Chăm), các phụ nữ múa vây quanh là âm. Âm dương làm thành bộ đôi phồn thực trong lễ cầu mùa!

Vấn đề đặt ra là tại sao văn hóa Việt sau này thiếu thiện cảm với ếch? Phải chăng từ khi chịu ảnh hưởng Phật giáo với quan niệm "diệt dục", "từ bi, hỷ xả"... Điều này trái hẳn với đặc điểm sinh lý của ếch là sinh sản rất mạnh, giao phối rất khỏe. Mặc dù đã đi vào văn hóa trở thành biểu trưng cho phồn thực sinh sôi nhưng do Phật giáo quá mạnh (có thời điểm trở thành "quốc giáo") nên sắc màu biểu trưng nhạt dần rồi bị thay thế!?

Nguyễn Thanh Tú

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).