Nhân đọc tập truyện ngắn "Dị Hương" - NXB Hội Nhà văn, 2009.

Bước ngoặt trong hành trình sáng tác của Sương Nguyệt Minh

Tập truyện ngắn "Dị hương" của nhà văn Sương Nguyệt Minh ngay từ khi ra đời đã tạo được dư luận xã hội rộng rãi, những khen chê khác nhau. Và khi "Dị hương" được Giải thưởng văn học của Hội Nhà văn năm 2010 thì lại một lần nữa tạo nên cơn sóng dư luận.

Người viết bài này thiết nghĩ, một tác phẩm ra đời, công chúng ồn ào bàn luận, khen chê là chuyện thường tình. Và cuối cùng thì chỉ tác phẩm là có làm nên nhà văn và bảo vệ nhà văn được hay không mà thôi.

Bước qua chính mình, tạo lập phong cách khác trong văn chương là một việc làm không dễ. Xưa nay mỗi người một kiểu: Người viết ám ảnh, người viết dịu dàng, có người lại viết tưng tửng. Sương Nguyệt Minh cũng thế, ông sống và làm việc trong môi trường Quân đội. Ông viết về những mất mát hy sinh trong chiến tranh và nông thôn vốn rất quen thuộc. 

Ông có nhiều truyện ngắn mượt mà nhưng ám ảnh về những con người bỏ quê ra chốn thị thành, đến khi "chồn chân mỏi gối" lại quay về cố hương. Câu văn trữ tình, nhưng thân phận chìm nổi, những lời ăn tiếng nói, phong tục tập quán của thôn quê, ông bê vào văn chương một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn. Vậy là đã có một nhà văn Sương Nguyệt Minh của văn chương "nhà quê"?

Với tập truyện ngắn "Dị hương", ông Đại tá - nhà văn Sương Nguyệt Minh lại kể những câu chuyện mới về thân phận con người trải qua đầy đủ hỉ, nộ, ái, ố, rất đời thường. Từ anh đạo diễn phim "Đêm mùa hạ tuyết rơi" đến một cô gái mang hai dòng máu Việt Nam - Campuchia trong "Bên dòng Tonle Sap", người đàn bà chủ lò mổ trâu trong "Mùa trâu ăn sương", đến bậc kỳ nhân Nguyễn Ánh, cành vàng lá ngọc là Công chúa Ngọc Bình trong "Dị hương". Hoặc các nhân vật hư thực, huyền ảo giống người lại giống ma ở "Đồi con gái"… Những bước chân của nhân vật trong "Dị hương" không phải mòn mỏi, tù túng trong các không gian chật hẹp mà đã bước vào không gian nghệ thuật rộng lớn. Họ không lẩn quẩn, bó hẹp trong nhà, trong thôn xóm hay quanh quẩn nơi thành phố, mà ngòi bút của Sương Nguyệt Minh đã dẫn họ đi ra phố thị, đi ngược chiều thời gian về lịch sử xa xăm.

Nhà văn Sương Nguyệt Minh và bìa tập truyện ngắn của anh.
Nhà văn Sương Nguyệt Minh và bìa tập truyện ngắn của anh.

Cảm hứng nghệ thuật trước đây của Sương Nguyệt Minh không ngoài những gì cụ thể của làng quê, của chiến tranh: Cây đa, bến nước, sân đình… và những người con trai khoác balô vào chiến trường đánh giặc; những người phụ nữ ở lại hậu phương "vững tay cày" bảo vệ quê hương, chờ chồng, chờ người yêu trở về… luôn là các hình ảnh nghệ thuật quen thuộc của ông và của văn học Việt Nam một thời. Đến "Dị hương", người đọc bất ngờ với tư duy nghệ thuật khác, cách viết khác và không nhận ra Sương Nguyệt Minh như đã từng viết trước đây, mà là một Sương Nguyệt Minh bạo dạn, trẻ trung, dữ dội và phiêu bồng, thăng hoa hơn. 

Có thể nói, "Dị hương" là một dòng chảy lãng mạn đầy huyền bí được phóng đại lên quá chiều kích hiện thực thông thường. Đọc xong, gấp sách lại, người ta sẽ hỏi nhau, có thật không nhỉ? Có, mà cũng không có. Người ta hoài nghi "Đêm mùa hạ tuyết rơi", làm gì có cái nhà nào ở Hà Nội cao đến 170 tầng; đã là mùa hạ sao lại có tuyết rơi? Ở Việt Nam làm gì có tuyết? Ở truyện ngắn "Đồi con gái", làm gì có vụng Đàn bà, làm gì có Đồi con gái, cũng chẳng bao giờ có bãi cát Khỏa thân. Và huyền hoặc nhất có lẽ là "Dị hương", chất kỳ ảo được sử dụng đậm đặc, biến hóa, dẫn người đọc vào mê cung thần bí. Có ai bị chặt đầu bay ra nơi khác mà không chết? Sao lại chỉ có những con cá chép đực mới bị chết tức tưởi?… Sẽ có rất nhiều câu hỏi, sẽ có rất nhiêu nghi hoặc giải đáp sự phi lý, nhưng lại có lý vô cùng.

Nếu như truyện ngắn "Cha tôi" và "Bên dòng Tonle Sáp" vẫn là lối kể, tả hiện thực một câu chuyện có kết, đọc xong hiểu liền thì "Đêm thánh vô cùng" và "Đàn bà" đã có sự pha trộn hiện thực và lãng mạn. "Đêm mùa hạ tuyết rơi", "Mùa trâu ăn sương" đã thấm đẫm chất dị thường, khác biệt. Cuối cùng là "Đồi con gái" và "Dị hương" thì chất kỳ ảo, ma mị đã ngự trị thống lĩnh. 

Nhà văn luôn đồng hành, thậm chí còn đi trước thời đại ở chức năng dự báo. Thời đại đổi thay, con người trong xã hội thay đổi từ cách ăn uống, làm việc, giao tiếp đến cung bậc tình cảm. Sương Nguyệt Minh đã khá nhanh nhạy nắm bắt nhịp thở của cuộc sống. Trong tập truyện ngắn "Dị hương", cũng là tình yêu trai gái, nhưng chủ động, ào dạt, bản thể, sống cho mình; không còn những cái nắm tay hẹn hò như "Người ở bến sông Châu", không còn những e ấp lãng mạn ở "Mây bay cuối đường", cũng không chia ly vì cách trở như ở "Nanh sấu" nữa…

Ở truyện ngắn "Đêm thánh vô cùng" là tình cảm có thật của người chồng, người cha, nhưng thời đại công nghiệp, nhịp độ cuộc sống nhanh mạnh, gấp gáp, mỗi người đều theo đuổi cái riêng của mình mà ít quan tâm, để ý đến người bên cạnh, dù là người thân. Người chồng, người cha đã bị vợ và con bỏ rơi ngay trong căn nhà của mình. Có lẽ đời sống càng cao, con người càng bơ vơ, cô đơn. Sương Nguyệt Minh để nhân vật chạy trốn về với quá khứ, với ký ức tình yêu. Đọc xong, hẳn nhiều người trong chúng ta phải giật mình: Có giống mình không nhỉ, có giống gia đình mình không nhỉ? Con người ta cô đơn ở cơ quan, hay ở quán rượu là chuyện bình thường. Sương Nguyệt Minh đã đẩy mâu thuẫn lên đến tận cùng, nhân vật của ông bị cô đơn ngay trong ngôi nhà của mình, giữa những người thân yêu của mình.

"Đêm mùa hạ tuyết rơi" là sự phóng đại về tình yêu, sự tưởng tượng về một tình yêu lý tưởng nhưng rồi sự phản trắc đã kéo tuột tất cả giá trị thật của nó. Cái đẹp biến thành ý đồ tính toán, giá trị của cuốn sách lại bị đem so sánh với giá của một bộ đồ lót, "54 triệu đồng sẽ mua được một trăm bộ đồ lót giống như bộ underwear màu lửa anh tặng em…". Nhân vật là một khối mâu thuẫn, vừa có tâm hồn trẻ trung, lãng mạn, lại vừa có sự tính toán thực dụng. Hình ảnh những con bọ cạp dán lên người của cô gái đẹp rất gây ấn tượng, và cũng hiện đại quá.

"Đồi con gái" như một triết lý tình yêu. Một tình yêu trong kìm nén, bên là trung trinh gìn giữ, bên là sự ham muốn xác thịt, muốn phá bung ra. “Đồi con gái” thực ra nói nhiều đến sự phản trắc của đàn bà. Nhân vật (hay tác giả) phải thốt lên: "Trời tru đất diệt cả thế giới đàn bà đi". Trong một bài trả lời phỏng vấn, Sương Nguyệt Minh bảo đấy chính là ông bênh vực đàn ông, rằng cánh đàn bà ghê gớm, đáo để, cánh đàn bà nhiều khi giết người không dao. "Đồi con gái" có cái chất ma mị, mơ hồ, giả tưởng. “Đồi con gái” là truyện ngắn không có cốt truyện, không có nhân vật chính. Có ông Trần thực thực, hư hư vừa biết "viết bài in trên tạp chí văn nghệ tỉnh nhà" vừa phảng phất một người đàn ông vạn chài, lại vừa mang dáng dấp một ông đồ nho, vừa lại giống một con ma trong đêm. Ông Trần có thể nói chuyện với ma nữa, lạ thế? Cả âm thanh cũng lạ lùng, tự nhiên trong đêm thanh vắng. Lại có đứa con gái đi dọc bờ biển hát…

Đọc mê man, chẳng biết ai là nhân vật chính, ai là nhân vật phụ, chỗ nào là ngoại đề, chỗ nào là cốt truyện, lẫn lộn, là tôi, là người con gái khoác tấm lưới, là ông Trần hay là cái "đồi con gái"? Chịu! chỉ biết rằng mỗi nhân vật ẩn ẩn hiện hiện, cứ như thật, như hư. Người ra biển, cứ ra biển. Rằng biển có mắt đâu mà nhìn thấy sự phản trắc của người ở nhà. Người làm tình với ma sao được? Sức mạnh bản năng con người rất mạnh. Trong người phụ nữ có sự giằng xé giữa đạo đức và bản năng thường nhật.

Những câu văn đọc rồi như mời, như gọi, rất gợi mở, đúng chất của ông, một vùng đất, một cái hoang đảo, có khách sạn, có nhà nghỉ, có giếng cổ, có rừng cây, có đàn khỉ biết trêu chọc phụ nữ, lại cả đàn nai làm tình nữa. Một hoang đảo đáng để người ta tìm đến lắm chứ?

Ở bìa tập truyện ngắn "Dị hương" vẽ một người đàn bà có tấm lưng đẹp mê hồn, thấp thoáng ai đó, công chúa trong lầu son, thiếu nữ vừa lớn đang e thẹn với bạn trai?… Bên cạnh một thanh gươm, hay cái kiếm của ai, của thế lực bạo tàn, của cái ác, hay sự trừng trị cái ác, của Nguyễn Ánh hay của những người chồng thời nay? Chung quy lại là gợi, là tò mò, là tự buộc mình phải xem, phải đọc.

Dùng mùi hương vừa đài các vừa dân dã phảng phất quyến rũ để nói về cái chính thống đẹp mê hồn của Công chúa Ngọc Bình; và mùi thuốc súng, mùi máu tanh là tà hương khác thường của ông vua Nguyễn Ánh đã từng ăn mắm tôm với cơm gạo lứt, dong thuyền vượt biển chạy trốn ngoài khơi, cầu viện bên ngoài để khôi phục cơ đồ. Phải chăng, lưỡi gươm oan nghiệt phạt xuống cổ cò của Trần Huy Sán như một sự thanh trừng, vứt bỏ phép vua tôi, là sự sôi sục, hờn ghen rất đời thường. Trong dân gian chẳng đã có câu: "Đau đẻ, ngứa ghẻ, đòn ghen". Nguyễn Ánh là con người đời thường, bằng xương, bằng thịt, biết yêu thương, biết giận hờn… Công chúa Ngọc Bình chết rồi, mùi hương trên thân thể của nàng vẫn phảng phất, như chính cái đẹp không bao giờ chết.

Chín truyện ngắn mới nhất trong tập "Dị hương" là bước ngoặt mới làm nên sự khác biệt trong hành trình sáng tác của nhà văn Sương Nguyệt Minh…

Hoàng Long Giang

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).