Bùi Quang Thanh và “Nam hành ký sự”...

Tôi tuổi Kỷ Sửu (1949), Bùi Quang Thanh tuổi Canh Dần (1950), nhà cách nhau vài chục cây số; cùng thế hệ, cùng trải những thăng trầm của thời cuộc, vậy mà số phận đẩy mỗi người mỗi nẻo. Tuổi thanh xuân Bùi Quang Thanh ở chiến trường Tây Nguyên đánh Mỹ. Tôi thì đi cày ruộng, rồi gia nhập thanh niên xung phong.

Sau chiến tranh, Bùi Quang Thanh thành anh cán bộ kỹ thuật sửa chữa ôtô ở Ty Giao thông, tôi đi làm văn chương. Đến khi ngoại tứ tuần chúng tôi mới gặp nhau. Tôi đọc thơ ông in đều đều trên báo chí Trung ương và địa phương. Năm 1995, ông về làm Chánh Văn phòng Hội Văn nghệ Hà Tĩnh do tôi làm Chủ tịch.

Bùi Quang Thanh và “Nam hành ký sự”... -0

Từng trải, nhanh nhẹn, khoáng đạt, ông lo liệu đâu vào đấy cho một cơ quan nghèo khó làm văn chương. “Bên đông giành vài miếng ăn/ Phía tây giật dăm tấm mặc/ Lớn bé trẻ già chia khắp/ Lưng vốn lại về số mo/ Văn chương chưa kịp nửa bồ/ Nợ nần chật ba chái bếp/ May mà còn chai rượu nếp/ Cho đời sủi bọt lăn tăn” (Tự bạch). Rồi có gì đó thôi thúc, hoặc đam mê, hoặc hoàn cảnh, hoặc bạn bè vẫy gọi, chỉ tròn 8 năm sau ông chuyển sang Báo Bảo vệ pháp luật làm Trưởng Cơ quan đại diện miền Trung và Tây Nguyên, đóng trụ sở ở Đà Nẵng. Lúc này, ông đã có 4 tập thơ: "Một thời sao lãng quên" (1992), "Hạt đắng" (1998), "Đò dọc sông đêm" (2002) và "Ngọn gió dòng sông" (2003). Dù khá nhiều bài đã in trên tạp chí văn nghệ của tỉnh và các báo văn khác, tôi vẫn bị bất ngờ khi đọc những tập hợp thơ của ông.

Những bài thơ về hai mảng đề tài lớn: “Người lính và tình yêu” giàu chất trữ tình và tính nghĩa vụ. Từ ấy về sau này, các tập thơ của ông kế tiếp nhau đều đặn đến tay bạn đọc: "Mật ong vàng lũng núi" (2007), "Cánh đồng thời gian" (2015), "Bùi Quang Thanh - Thơ tuyển chọn" (2020). Người ta cảm nhận được một tâm hồn đa cảm, đa mang, đa tình, nhân hậu, vui thật, buồn thật, đau thật về con người và thời cuộc. Nói tới các nhà thơ đương đại miền Trung không thể không kể tên Bùi Quang Thanh.

Nghỉ hưu, ông tiếp tục theo niềm đam mê có trong máu thịt là đi và viết. Dưới trời cao, trên đất rộng, ông rong ruổi hầu như khắp mọi vùng miền từ mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau, từ rừng xuống biển, mặt đất đến bầu trời, từ biên giới ra hải đảo trùng khơi, cả trong và ngoài nước… để xem, ngẫm, chụp ảnh, giao lưu với bạn bè cũ, mới, quen, lạ… Sự “ham chơi” của Bùi Quang Thanh làm tôi sốt ruột. Tôi nói với ông, 80 sờ sờ trước mũi rồi, ông không định “rửa tay, gác kiếm” sao? Bùi Quang Thanh cười vẫn nụ cười thoáng đạt quen thuộc và không nói gì.

Thế rồi cuối năm 2023, ông đến nhà tặng tôi tập văn xuôi “Nam hành ký sự” đang là bản thảo, dày đến 400 trang. Ông cười: "Bác xem hộ trước khi in, nhé!". Đây là lần thứ hai tôi bị bất ngờ về ông. Tôi cầm tập văn xuôi nằng nặng trên tay và nói, tôi biết ông từng viết văn xuôi, viết từ thời làm lính, thời làm tạp chí và cả những bài báo đẫm chất văn nữa. Nhưng để có được tập văn xuôi dày dặn thế này thì nói thật là tôi bị xúc động.

Ông nói như giãi bày: “Tôi nợ ký ức, nợ đồng đội, nợ người thân thích, nợ bè bạn và nợ những người đã mất... Viết văn là một cách trả nợ. Mỗi lần gặp lại đồng đội, gặp lại mảnh đất mình từng chiến đấu ngày xưa là ký ức thức dậy, kỷ niệm với bao nỗi buồn vui, khắc khoải, đớn đau òa lên trong lòng, không viết về nó không chịu được. Tôi viết lúc nửa đêm về sáng, viết giữa hai cuộc rượu, viết trên tàu, trên xe giường nằm…”.

“Nam hành ký sự” gồm 42 tác phẩm, chủ yếu là bút ký. Những tác phẩm về người lính thời chiến và thời bình chiếm hơn một nửa cuốn sách: “Sâu nặng nghĩa tình”, “Người anh hùng của chúng tôi”, “Đồng Lộc - ký ức và hiện tại”, “Đến hẹn lại về”, “Tướng “sáu sao”, “Xe tăng 377”… Những tác phẩm mà tư liệu, chi tiết, nhân vật Bùi Quang Thanh lưu giữ trong ký ức bao nhiêu năm trời tuần tự hiện lên theo cảm giác, cảm xúc và suy nghĩ của ông.

Đồng đội của ông, bạn bè, người thân thích ruột rà của ông, người còn sống, người đã về miền mây trắng đều thức dậy, chân thật, sinh động, hào hùng và đớn đau, xa xót qua từng con chữ: “Lớp chúng tôi, lớp những người có cái tuổi khai sinh chia thế kỷ hai mươi làm hai mảnh, lớn lên trong hậu phương chống Pháp, chưa kịp học xong mặt chữ đã vội giã quê cầm súng lên đường đánh Mỹ. Chẳng biết bạn bè nằm lại trên khắp nẻo chiến trường để trở thành bất tử may hơn hay những người sót lại sau bom đạn để mà đau đáu nhớ thương may hơn, nhưng khi đốt nén hương trước vong linh các liệt sĩ, chẳng mấy ai cầm nổi nước mắt. Bình minh tuổi trẻ trong ngần những ước mơ, dự định của các chàng trai, cô gái chân đất chưa kịp buông dây cho cánh diều của mình bay bổng thì tiếng lòng đã thôi thúc đón chờ buổi lao vào binh lửa chiến trường. Những đôi môi chưa biết nói lời yêu, những ánh mắt chưa tan hết ngu ngơ của tuổi thơ đồng nội. Những giọt nước mắt nhớ nhà chưa biết lặn vào trong mà nóng hổi lăn tròn trên những đôi má phúng phính lông tơ. Họ ra đi từ miền quê nghèo khó nhưng tuyệt đẹp về truyền thống ông cha, lòng vẫn thầm ước mong sớm được trở về dưới những mái nhà tranh để xây đời mở nghiệp…” (Đến hẹn lại về).

Bùi Quang Thanh và “Nam hành ký sự”... -0
Bìa cuốn “Nam Hành ký sự” của Bùi Quang Thanh

Và đây là tâm tư tình cảm của Bùi Quang Thanh trong chuyến đi tìm mộ liệt sĩ dũng sĩ phá bom Vương Đình Nhỏ, mà chỉ gặp ngôi mộ gió bà con Cà Tang đắp dưới gốc cây rừng từ bao giờ: “Khi tất cả những thứ gửi cho người âm đã hóa hết, chúng tôi dập hết tàn than, rưới nước ướt đẫm đám tro nóng. Bé Thương lẩm bẩm quỳ mọp bên đám đất mộ và vốc những nắm đất rừng trên đó bỏ vào một túi nhỏ mang sẵn lúc nào. Tôi chợt hiểu ra chủ ý của Thương, sẽ khó lòng đưa được mộ bố về giữa quê hương, nắm đất ấy sẽ tượng trưng cho linh hồn bố bên tiên tổ, vợ con; thay bố nhận lấy phần hương khói, nghĩa tình. Khi cửa rừng đột ngột khép lại sau lưng, mọi người không ai bảo ai cùng quay lại nhìn vào cánh rừng Ma, tôi chợt thấy rất nhiều, rất nhiều những đôi mắt đỏ kè như lửa hương, cay xè như khói bếp hấp háy nhìn mãi về phía chúng tôi, đau đáu, xót xa đến vô cùng vô tận”. (Đi tìm nơi vĩnh hằng của Dũng sĩ phá bom Vương Đình Nhỏ).

Những tác phẩm về đất và người nơi ông dừng chân trên đường rong ruổi, mắt thấy, tai nghe cuộc sống chuyển động chung quanh mà ghi lại: Những bút ký, du ký, ghi chép về vẻ kỳ thú của cảnh vật thiên nhiên và cuộc đời cùng những cảm tưởng, suy nghĩ về những con người tử tế, tình nghĩa, thân ái, về thế giới chung quanh: “Tản mạn Vũ Quang”, “Tiếng chim rừng Bạch Mã”, “Hương rừng ngọc đất”, “Lúa thơm lấp ló”…

Phẩm chất thi sĩ đã giúp những trang văn của Bùi Quang Thanh lãng đãng chất thơ, mềm mại, bâng khuâng: “Với rừng rậm núi cao, khí hậu ẩm ướt, rừng ở Phia Oắc cây cối đan dày lớp lớp như tựa vào nhau để chống lại tuyết lạnh và gió gào. Cây gỗ ở đây hầu hết có thân to, lùn và cổ quái rêu phong. Hình như chẳng loài cây nào dại dột vống cao lên để hứng gió bão và lạnh giá. Khi đứng trên đỉnh Phia Oắc giữa một ngày nắng đẹp, mây trời xanh ngăn ngắt mà nhiệt độ vẫn xuống 5 độ C, tôi đã cảm tác: “Cây như tóc như tơ như xương cốt/ Gió ngàn năm đẽo gọt đủ hình hài/ Bởi giá lạnh cây ken dày lớp lớp/ Hay gió gào mưa thét chúng kề vai?”... (Hương rừng ngọc đất).

Từ một Bùi Quang Thanh nhân ái, day dứt trong thơ: “Làng tôi đò vẫn cắm sào/ Mẹ già đầu thấp váy cao lội bùn/ Một đời… gan ruột rưng rưng…/ Mồ hôi lưng mẹ ngập ngừng mắt con/ Sông đã cạn, núi đã mòn/ Mẹ ơi sao mẹ vẫn còn khổ đau?” (Về quê). Một Bùi Quang Thanh hồn hậu, yếu mềm: “Em nhón nhén gom từng bông từng chẽn/ Rưng rưng bông chẽn gục tay người/ Bùn sục tăm vỡ òa ngàn tiếng nấc: Lúa ơi!” (Đồng sau bão).

Đến một Bùi Quang Thanh trầm tĩnh, sâu lắng, trữ tình, trí tuệ trong văn xuôi “Nam hành ký sự”. Một hành trình sáng tạo liên tục không ngưng nghỉ cho dù cuộc đời, thời thế bao nỗi nổi, chìm. Dọc hành trình sáng tạo ấy, ông cho ra đời những tác phẩm thơ và văn xuôi mới, phát hiện các giá trị chìm lấp trong dòng chảy thao thiết của cuộc đời và bộc lộ những bí mật tâm hồn ông, nhờ thế nó lay thức, thuyết phục, quyến rũ được bạn đọc các thế hệ xa, gần.

Bùi Quang Thanh đã trọn một vòng nửa thế kỷ cầm bút, nếu tính từ bài thơ đầu tiên in báo (1976) và bài văn xuôi đầu tiên xuất hiện (1990) đến nay, ông đã có bao nhiêu trang viết không kể đếm nổi. “Nam hành ký sự” ra đời làm dày dặn thêm sự nghiệp văn chương của Bùi Quang Thanh và khắc họa rõ hơn tâm hồn, cốt cách, trách nhiệm công dân của ông.

Đức Ban

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).