Bác tôi trong Tiểu đoàn làm nên ‘Dáng đứng Việt Nam’

Cũng như bao gia đình khác ở đất nước hình chữ S này, dòng họ tôi có 40 cựu chiến binh, hơn mười người là liệt sĩ, trong đó 2 cậu, 2 bác ruột tham gia chiến trường B hy sinh đều chưa biết phần mộ. Ông bà tôi tận đến lúc nhắm mắt xuôi tay vẫn day dứt vì chưa đưa được hài cốt con mình về quê cha đất tổ. 

Gần nửa thế kỷ sau ngày bác tôi khoác ba lô lên đường đánh giặc, gia đình mới tìm thấy bác ở Nghĩa trang liệt sĩ TP HCM. Bác tôi nằm đó trong ngôi mộ tập thể của d16 Anh hùng - Tiểu đoàn đã lập công xuất sắc, là nguồn cảm hứng để nhà thơ Lê Anh Xuân sáng tác bài thơ bất hủ "Dáng đứng Việt Nam" 47 năm về trước...

1. Ông bà nội tôi có 4 anh em trai, bác là anh cả, sinh năm 1937. Tháng 9/1965, khi bác dâu mang thai anh tôi được 3 tháng thì bác tái ngũ, biên chế trong Tiểu đoàn 5 (d5), Trung đoàn 24, Sư đoàn 304B (Quân khu 3). Vì lý do bí mật (đơn vị huấn luyện chiến đấu) nên bác tôi không quay về thăm gia đình kể cả lúc chuẩn bị vào chiến trường. D5 hầu hết quân số quê ở Hà Nam Ninh (Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình) và Hải Phòng. Ban chỉ huy tiểu đoàn và các đại đội đều là bộ đội tái ngũ nên khá thiện chiến, do vậy đầu năm 1967, d5 đổi phiên hiệu rồi nhận lệnh vào Nam chiến đấu. 

Bác dâu tôi kể rằng, Tết Mậu Thân 1968 dù chồng đã vắng nhà 3 cái Tết nhưng đêm Giao thừa năm đó, tự dưng bác thấy lòng dạ như lửa đốt. Khoảng 5h sáng, thấy chồng mặc độc chiếc quần xà lỏn, mặt mũi bê bết bùn đất, cầm súng đứng trước cửa, bác choàng tỉnh dậy thì đó là một giấc mơ. Ngay hôm đó bác đã linh cảm cuộc đời mình sẽ đối mặt với một mất mát rất lớn nhưng bác không dám tâm sự với ai. Bác đã không bao giờ được gặp chồng nữa, lá thư duy nhất cũng là lá thư cuối cùng bác dâu tôi nhận được vào tháng 6/1968 rồi bặt tin mãi đến năm 1975, gia đình mới nhận được giấy báo tử của bác trai...

Tác giả bên ngôi mộ tập thể ở Nghĩa trang liệt sĩ TP Hồ Chí Minh
Tác giả bên ngôi mộ tập thể ở Nghĩa trang liệt sĩ TP Hồ Chí Minh

Sau ngày 30/4/1975, bố và các chú đi khắp các địa phương tìm mộ bác nhưng đều không thấy, nhiều lần lên Tỉnh đội Hà Nam Ninh (cũ) hỏi tìm nhưng chỉ được các anh làm chính sách nhận đơn và hứa sẽ báo ngay cho gia đình khi có tin mới. Ông bà thương con dâu nên nhiều lần động viên bác dâu tôi đi bước nữa, nhưng bác chỉ cảm ơn, rồi gượng nở một nụ cười trên gương mặt khô héo niềm chinh phụ.

Bác trai tôi hy sinh khi bác mới 22 tuổi, tròn nửa thế kỷ bà như một cái bóng lẻ loi trong căn nhà trống vắng để hương khói nguyện cầu. Trong văn chương cổ người vợ hóa đá thủy chung nhưng bác dâu tôi thì không thể hóa gì, vì bác còn phải nuôi đứa con (là anh Phạm Văn Giỏi) như một "tín vật" bác trai gửi lại để đợi ngày đò xưa về bến cũ…

Tên liệt sĩ Phạm Văn Chản được khắc trên tấm bia mộ tập thể ở Nghĩa trang liệt sĩ TP Hồ Chí Minh
Tên liệt sĩ Phạm Văn Chản được khắc trên tấm bia mộ tập thể ở Nghĩa trang liệt sĩ TP Hồ Chí Minh

Có một điều đến bây giờ gia đình đều không thể giải thích được đó là những giấc mơ của bà. Hầu như đêm nào bà cũng mơ thấy con trai với hình ảnh giống như bác dâu mơ thấy chồng năm nào. Nhiều lần trong cơn mộng mị chập chờn, bà hỏi: "Con ở đâu sao không về với mẹ?". Bác trai trả lời: "Con ở xa lắm, nhiều đồng đội đang nằm ở trên nên con không thể về với mẹ!". Bác dặn bà (bà kể lại) rằng: "Mẹ cứ ở quê đừng đi đâu, chứ mẹ đi xa con không về thăm mẹ được đâu".

Không biết bác có sống khôn chết thiêng mà về báo mộng cho bà không nhưng tuyệt nhiên mấy chục năm trời cho đến lúc mất (1996), bà hầu như không bao giờ đi khỏi cái thôn Hoài Dương, xã Mộc Bắc, huyện Duy Tiên (Hà Nam)…

Gần Tết Quý Mùi (2003), tôi có chuyến công tác Hà Nội, xong việc từ nhà khách Bộ Công an, tôi lang thang đi bộ từ phố Nguyễn Quyền ra hồ Thiền Quang thì gặp một bác cựu binh khoảng 70 tuổi đang ngồi ở trên ghế đá (ông tên Quang). Ông vui vẻ bắt chuyện và chủ động ngồi nhích ra đầu ghế bảo tôi ngồi xuống. Ông đang cầm một nguyệt san "Sự kiện và Nhân chứng" (chuyên đề của Báo Quân đội nhân dân). Ông hỏi thăm và nói chuyện với tôi như thể hai người đã quen nhau từ lâu. Khoảng nửa tiếng sau, ông đứng dậy ra về và đưa cuốn tạp chí cho tôi rồi nói: "Cháu cầm lấy mà xem, biết đâu trong này có nhiều thông tin mình đang tìm kiếm".

Tôi cảm ơn ông, lật qua xem lướt qua rồi cầm tờ nguyệt san về nhà khách. Sau chuyến công tác, tôi vô tâm quên mất cuốn nguyệt san cho đến một tuần sau, đêm hôm đó trằn trọc, nóng ruột không ngủ được (tôi là người rất hiếm khi mất ngủ) tôi dậy bật đèn, với tay lên tập báo trên giá sách lấy bừa một cuốn để đọc. Thật bất ngờ, ở trang 34 nguyệt san "Sự kiện và Nhân chứng" có bài viết của một cựu chiến binh viết về trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất đêm 30, rạng 31/1/1968 của Tiểu đoàn 16.

Trong bài viết này, tác giả kể lại rằng ông là nhân chứng ít ỏi còn lại trong trận đánh đó, Tiểu đoàn hầu hết đã hy sinh, mấy người còn sống bị địch bắt đày ra Côn Đảo. Tiểu đoàn sau này bị xoá phiên hiệu nên thân nhân không biết con em mình đã hy sinh trong trường hợp nào, qua nguyệt san "Sự kiện và Nhân chứng", tác giả muốn cung cấp tên tuổi những người trong Tiểu đoàn 16 đã hy sinh đêm Giao thừa năm Mậu Thân đỏ lửa đó.

Thật bất ngờ và xúc động khi tôi đã tìm thấy tên bác trong danh sách đi kèm bài viết: "Phạm Văn Chản, sinh năm 1937, con ông: Phạm Văn Lời; quê quán: Mộc Báo, Duy Tiên, Hà Nam". Điểm khác biệt duy nhất là lẽ ra xã Mộc Bắc thì trong bài viết tác giả ghi là Mộc Báo.

Ngay trong đêm tôi gọi về cho bố, bố tôi gọi về quê cho bác dâu tôi, rồi gọi cho bác tôi ở Quảng Ninh, chú tôi ở Hà Nội. Đêm ấy được coi như "đêm hồng ân", cả nhà tôi không ai ngủ. Vậy là sau 35 năm gia đình đã biết về trường hợp hy sinh và nơi chôn cất hài cốt của bác, đặc biệt vinh dự hơn khi biết bác là một trong những chiến sĩ quả cảm của d16 Anh hùng LLVTND với những trận đánh đi vào lịch sử…

Ngôi mộ tập thể ở Nghĩa trang liệt sĩ TP Hồ Chí Minh
Ngôi mộ tập thể ở Nghĩa trang liệt sĩ TP Hồ Chí Minh

2. Tiểu đoàn 16 (d16) tiền thân là Tiểu đoàn 5, Trung đoàn 24, Sư đoàn 304B thuộc Quân khu 3 được thành lập vào tháng 9/1965. Các chiến sĩ của tiểu đoàn hầu hết quê ở Hà Nam Ninh (cũ). Tháng 2/1967, với phiên hiệu Đoàn 209A, Tiểu đoàn nhận lệnh vào Nam chiến đấu. Từ tháng 7/1967, tiểu đoàn đổi phiên hiệu d16 trực thuộc Quân khu 7.

Theo báo cáo thành tích đề nghị tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (2013), d16 đã lập nhiều chiến công xuất sắc với những trận đánh xuất quỷ nhập thần. Từ tháng 7/1967 đến cuối năm 1971, trên chiến trường Tây Ninh, Sài Gòn, Long An, d16 đã đánh hơn 250 trận lớn nhỏ, diệt và làm bị thương 3.500 tên địch (trong đó có 450 lính Mỹ), diệt gọn và đánh thiệt hại nặng 3 tiểu đoàn, 5 đại đội Mỹ - nguỵ, bắn rơi 15 máy bay các loại, phá hủy và bắn cháy 77 xe quân sự và sơn pháo; bắn chìm và cháy 26 tàu xuồng chiến đấu, thu 360 súng các loại cùng nhiều phương tiện chiến tranh của địch. Cán bộ, chiến sĩ của tiểu đoàn đã được tặng thưởng 45 Huân chương Chiến công, hơn 500 Huy hiệu Dũng sĩ Quyết thắng và Dũng sĩ diệt Mỹ...

Trận đánh bi tráng đã đi vào lịch sử với "dáng đứng Việt Nam" của tiểu đoàn là trận đánh sân bay Tân Sơn Nhất đêm 30, rạng 31/1/1968. Trong đội hình Trung đoàn 31 BTL Miền (gồm 3 đơn vị là d16, d12 và d267), Tiểu đoàn được giao nhiệm vụ đánh chiếm sân bay Tân Sơn Nhất, phát triển sang đánh chiếm Bộ Tổng tham mưu ngụy.

Đêm 30/1/1968, mặc dù không được chi viện của pháo binh theo kế hoạch, đến giờ G, tiểu đoàn vẫn quyết định nổ súng, sau khi vượt qua hơn hai mươi hàng rào kẽm gai, các chiến sĩ đánh thẳng vào tung thâm sân bay Tân Sơn Nhất, tiêu diệt hàng trăm tên địch, phá huỷ nhiều máy bay, xe tăng.

Sáng 31/1/1968, địch được tăng viện hoả lực mặt đất và trên không phản kích. Cuộc chiến đấu ác liệt kéo dài trong ngày 31/1/1968. Các chiến sĩ của Tiểu đoàn đã dũng cảm chiến đấu đến viên đạn cuối cùng; 380 người đã anh dũng hy sinh. Sau này khi mở rộng sân bay Tân Sơn Nhất (năm 1990), một người lính chế độ Sài Gòn đã chỉ nơi chôn cất các liệt sĩ d16, các cơ quan chức năng đã khai quật và tìm được 181 bộ hài cốt đưa về an táng tại Nghĩa trang liệt sĩ TP HCM.

Tiểu đoàn 16 đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND. Ảnh: Bộ CHQS Long An
Tiểu đoàn 16 đón nhận danh hiệu Anh hùng LLVTND. Ảnh: Bộ CHQS Long An

Hình ảnh những người lính quân giải phóng d16 hy sinh, tựa trên xác máy bay địch trong tư thế hiên ngang, lẫm liệt, chĩa súng về phía trước làm kẻ thù khiếp nhược. Chính hình ảnh bi tráng đó khơi nguồn cảm hứng để nhà thơ Lê Anh Xuân cho ra đời thi phẩm xuất sắc: "Dáng đứng Việt Nam", với những câu thơ bất hủ: "Anh chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường/ Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ…". Mãi mãi trận đánh quả cảm sân bay Tân Sơn Nhất đi vào biên niên oai hùng của Quân đội nhân dân Việt Nam! Mãi mãi câu thơ "Anh tên gì" như một lời "chất vấn lịch sử", làm nhói buốt con tim thân nhân những người lính Tiểu đoàn 16 anh hùng!...

Dáng đứng Việt Nam

(Thơ Lê Anh Xuân)

Anh ngã xuống đường băng Tân Sơn Nhất
Nhưng anh gượng đứng lên tỳ súng trên xác
                                                      trực thăng
Và anh chết trong khi đang đứng bắn
Máu anh phun theo lửa đạn cầu vồng.

Chợt thấy anh, giặc hốt hoảng xin hàng
Có thằng sụp xuống chân anh tránh đạn
Bởi anh chết rồi nhưng lòng dũng cảm
Vẫn đứng đoàng hoàng nổ súng tiến công

Anh tên gì hỡi anh yêu quý
Anh vẫn đứng lặng im như bức tường đồng
Như đôi dép dưới chân anh giẫm lên bao xác Mỹ
Mà vẫn một màu bình dị, sáng trong

Không một tấm hình, không một dòng địa chỉ
Anh chẳng để lại gì cho anh trước lúc lên đường
Chỉ để lại dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỷ:
Anh là chiến sĩ giải phóng quân.

Tên anh đã thành tên đất nước
Ôi anh Giải phóng quân!
Từ dáng đứng của anh giữa đường băng 
                                                    Tân Sơn Nhất
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân.

Vũ Mạnh Hà

Các tin khác

Những người đối mặt với hiểm nguy và giặc lửa

Những người đối mặt với hiểm nguy và giặc lửa

Trong những thời khắc cam go nhất của sự sống, hình ảnh người chiến sĩ Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ (PCCC và CNCH) luôn hiện lên như điểm tựa vững chắc, sẵn sàng đối mặt hiểm nguy để giành lại sự sống cho người dân. Niềm vui của họ không ồn ào, không phô trương, mà lặng lẽ lắng lại trong sự an toàn của người dân, trong từng ánh mắt, nụ cười và những lá thư cảm ơn giản dị nhưng đầy ý nghĩa.

"Kế hoạch CM12" - dấu ấn mới của Điện ảnh CAND

"Kế hoạch CM12" - dấu ấn mới của Điện ảnh CAND

Điện ảnh Công an nhân dân (CAND) vừa bắt tay vào sản xuất bộ phim truyền hình dài tập "Kế hoạch CM12". Bộ phim tái hiện một trong những chiến công đặc biệt, mang dấu ấn sâu đậm của lực lượng CAND ở lĩnh vực phản gián trong những năm 1981-1984 mà ít người được biết. Không chỉ là một bộ phim về nghiệp vụ, bộ phim chứa đựng thông điệp về bản lĩnh, trí tuệ và sự nhân văn của lực lượng CAND Việt Nam.

Thượng úy Công an tạo clip "viral"

Thượng úy Công an tạo clip "viral"

Tuần qua, một clip tuyên truyền Luật Trật tự an toàn giao thông (TTATGT) đường bộ của Công an xã A Lưới (TP Huế) rất sinh động, ấn tượng đã gây "bão" trên mạng xã hội. Cùng với nhiều clip tuyên truyền khác của cán bộ, chiến sĩ Công an ở nhiều đơn vị, các clip tuyên truyền pháp luật như thế đã tạo viral (lan tỏa) trên mạng xã hội, thu hút hàng triệu lượt xem và bình luận, mang lại hiệu quả tuyên truyền tích cực trong cộng đồng.

Khát vọng cống hiến của người “truyền lửa”

Khát vọng cống hiến của người “truyền lửa”

Dưới tiết trời nắng ấm của một ngày cuối tháng 3, chúng tôi gặp Thiếu úy Nguyễn Thị Phương Anh, cán bộ Khoa An ninh chính trị nội bộ, Trường Đại học An ninh nhân dân (Bộ Công an) cũng là lúc em vừa trở về sau chuyến công tác ở TP Hà Nội. Phương Anh là một trong 20 gương mặt trẻ Công an vừa được Bộ Công an tuyên dương, trao giải thưởng “Gương mặt trẻ Công an tiêu biểu” năm 2025.

Người lính trở về từ ký ức làng

Người lính trở về từ ký ức làng

Tháng Tư lại về trên làng tôi, một ngôi làng ở Diễn Châu Nghệ An - lặng lẽ mà thấm sâu như một miền ký ức cũ. Gió từ cánh đồng thổi qua, mang theo hương lúa trổ bông dìu dịu, quyện trong sắc nắng cuối xuân còn vương chút êm đềm.

Người kể chuyện Kế hoạch phản gián CM-12

Người kể chuyện Kế hoạch phản gián CM-12

Thời gian gần đây, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Đức - nguyên Cục trưởng Cục Kỹ thuật nghiệp vụ 1, Bộ Công an - trở thành tác giả có nhiều đầu sách được NXB CAND ấn hành. Gắn bó với trang viết từ khi còn là một người lính nghiệp vụ, sau khi nghỉ hưu, Thiếu tướng Nguyễn Khắc Đức có nhiều thời gian hơn dành cho công việc viết lách mà ông yêu thích từ thuở thiếu thời.

Thơ Xuân mới: Khắc họa thành công hình tượng người chiến sĩ CAND

Thơ Xuân mới: Khắc họa thành công hình tượng người chiến sĩ CAND

1.118 tác giả dự thi với hơn 3.000 tác phẩm là những con số “biết nói” chứng tỏ sức hấp dẫn của cuộc thi thơ mang tên “Xuân mới” do Chi hội Nhà văn Công an tổ chức. Hàng nghìn tác giả thuộc nhiều độ tuổi, ngành nghề, vùng miền khác nhau đã cùng hội tụ so tài, tạo nên một bức tranh thi ca muôn màu, muôn sắc, phong phú về chủ đề, đa dạng về bút pháp, linh hoạt về giọng điệu, mới mẻ trong cách thể nghiệm.

Bền bỉ hành trình lan tỏa văn hóa đọc

Bền bỉ hành trình lan tỏa văn hóa đọc

Từ cuối tháng 3 đến hết tháng 4 hằng năm, Trung tá Đỗ Thu Thơm, Giám đốc Thư viện CAND lại tất bật với các hoạt động hưởng ứng Ngày Sách và Văn hóa đọc Việt Nam trong lực lượng CAND.

“Lính chiến” kể chuyện đánh án

“Lính chiến” kể chuyện đánh án

Nhiều đường dây lừa đảo kinh tế quy mô lớn, thủ đoạn tinh vi liên tiếp bị bóc gỡ, bắt giữ nhiều đối tượng, thu hồi tài sản không nhỏ cho Nhà nước và Nhân dân... Một trong những người trực tiếp tham gia, góp phần quan trọng làm nên sự thành công của những chuyên án đặc biệt ấy là Đại úy Nguyễn Hữu Dũng (Công an phường Cầu Giấy, TP Hà Nội).

"Đất cháy": Khi "đất" chưa nguội và "lửa" còn âm ỉ

"Đất cháy": Khi "đất" chưa nguội và "lửa" còn âm ỉ

Trong nhiều năm, văn học viết về lực lượng Công an nhân dân thường vận hành trong một quỹ đạo khá ổn định, lấy sự kiện làm trung tâm, tổ chức tự sự quanh mô hình xung đột - truy quét - chiến thắng, và khép lại bằng sự khẳng định trật tự. Ở đó, văn học chủ yếu đóng vai trò minh chứng cho một chân lý có sẵn. Sự kiện được kể lại như một bằng chứng, hơn là như một vấn đề cần suy tư.

Nguyện ước mùa xuân từ châu Phi

Nguyện ước mùa xuân từ châu Phi

Lời tòa soạn: Với những sĩ quan Công an thực hiện nhiệm vụ gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc ở những miền đất xa xôi của châu Phi, cuộc sống không chỉ là nhịp công việc căng thẳng giữa nắng rát mưa tuôn, mà vẫn có những lúc lắng lại tâm tư, vút bay cảm xúc đẹp đẽ về quê hương xứ sở, về tình đồng nghiệp quốc tế, những ước muốn ngân lên nơi con tim nặng lòng với lục địa đen. Xin giới thiệu tới độc giả những nguyện ước thiêng liêng của các sĩ quan Công an từ châu Phi.

Phố nhỏ với ký ức cuộc bầu cử đầu tiên

Phố nhỏ với ký ức cuộc bầu cử đầu tiên

Phố Hàng Vôi (Hà Nội) dài hơn 300m, rộng 8m, chạy từ phố Lò Sũ đến ngã tư phố Ngô Quyền giao với Tông Đản, nối liền với phố Hàng Tre. Đây nguyên là đất thôn Kiếm Hồ, Trừng Thanh thuộc tổng Tả Túc (sau là tổng Phúc Lâm), huyện Thọ Xương, kinh thành Thăng Long xưa. Phố này trước đây nằm sát bờ sông Hồng, thuận tiện cho thuyền bè chở vôi các nơi cập bến, có nhiều chỗ nung vôi và buôn bán vôi, do đó có tên là Hàng Vôi.

Tôn vinh các giá trị của thi ca

Tôn vinh các giá trị của thi ca

Ngày Thơ Việt Nam đã diễn ra sôi động trên địa bàn cả nước trong dịp Tết Nguyên tiêu. Ngày Thơ Việt Nam chính thức ra đời đến nay được 24 năm, nhưng ở một số địa phương, sự kiện Ngày Thơ đã được tổ chức trước đó như ở tỉnh Quảng Ninh vào năm 1988, Đêm thơ Núi Nhạn (tỉnh Phú Yên cũ) vào năm 1980.

Cho bản làng yên vui

Cho bản làng yên vui

Những ngày đầu năm mới, bước chân của những cán bộ, chiến sĩ Công an xã Mường Chanh, tỉnh Sơn La ngày đêm bám bản, bám mường, đến với đồng bào các bản, các xóm để tuyên truyền, vận động thu hồi vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, giữ gìn an ninh, trật tự, mang lại cuộc sống bình yên cho mỗi mái nhà.

Giá trị của tầm vóc chiến lược

Giá trị của tầm vóc chiến lược

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định chân lý: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Chân lý của Người đồng thời cũng thể hiện tầm vóc tư tưởng và chiến lược phát triển tương lai đất nước.

Gìn giữ giá trị di sản nghệ thuật của danh họa Lê Bá Đảng

Gìn giữ giá trị di sản nghệ thuật của danh họa Lê Bá Đảng

Nhân dịp Tết Bính Ngọ 2026, từ ngày 31/1 đến 28/2, gia đình họa sĩ Lê Bá Đảng phối hợp Bảo tàng Đà Nẵng tổ chức triển lãm “Ngựa và hoa trong sáng tác của họa sĩ Lê Bá Đảng”. Thành phố Đà Nẵng là nơi họa sĩ Lê Bá Đảng xuất dương sang Pháp bằng tàu thủy vào năm 1939 và thật ý nghĩa khi triển lãm được tổ chức tại đây sau khi toàn bộ di sản của ông được đưa về nước.

Bồi đắp sức mạnh nội sinh của dân tộc

Bồi đắp sức mạnh nội sinh của dân tộc

Khai xuân mới 2026, khi Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước và Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có những phát biểu rất quan trọng.

Xuân về theo bước chân anh

Xuân về theo bước chân anh

Giữa những ngày cao điểm tấn công, trấn áp tội phạm, bảo đảm an ninh, trật tự, bảo vệ tuyệt đối an toàn Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Tết Nguyên đán Bính Ngọ, trên nhiều nẻo đường, các cán bộ, chiến sĩ Công an tỉnh Bắc Ninh làm nhiệm vụ truy bắt đối tượng truy nã vẫn lặng lẽ bám địa bàn, vượt khó khăn, hiểm nguy...

Nước kiệu mùa xuân

Nước kiệu mùa xuân

Trong tâm thức của người Á Đông, năm Ngựa thường gợi lên những cuộc viễn du. Ngựa là vó câu tung hoành, là chí ở bốn phương, là những thảo nguyên bao la gió lộng. Nhưng, khi tờ lịch cuối cùng của năm cũ rơi xuống, nhường chỗ cho rạng đông của năm mới Bính Ngọ 2026, tôi lại không nghĩ về những chuyến đi tìm danh vọng hay những cuộc chinh phạt ồn ào.

Căn tính Việt như mầm xanh cội

Căn tính Việt như mầm xanh cội

Đất nước mình như câu hát “sáng chắn bão dông, chiều ngăn nắng lửa”, biểu thị một trầm tích lịch sử của mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước, chính điều ấy rèn luyện ý chí và nghị lực để vượt qua những nguy nan, hiên ngang sống một cuộc đời xứng danh giống nòi Tiên Rồng. Từ trong những khó khăn đến kiệt cùng người Việt mình vẫn cố gắng sống, chung một lòng hướng về nhau, dìu dắt nhau đứng dậy và chia sẻ ngọt bùi cho nhau.