Đọc "Con hoang", tiểu thuyết của Lê Hồng Nguyên, Nxb Hội Nhà văn, 2015.

Ám ảnh phận người trong vũ điệu thời gian

"Con hoang" là cuốn tiểu thuyết thứ ba của Lê Hồng Nguyên. Rồi nhà văn sẽ còn viết tiếp nhiều cuốn tiểu thuyết khác nữa, nhưng đứa con tinh thần này dường như làm chính tác giả, tới thời điểm hiện nay, bằng lòng nhất. Với tư cách một độc giả, tôi cũng có linh cảm như vậy.

Tôi chợt nhớ tới câu tục ngữ "Canh tập tàng thì ngon, con tập tàng thì khôn" khi đọc "Con hoang", nên thích câu chuyện được kể lại từ nhân vật người kể chuyện tự xưng: "Tôi là một đứa con hoang". Câu văn mở đầu chỉ có sáu chữ, ngắn gọn, hàm súc lòng tự tin vào nhân phẩm ở đời khi kể lại đường hoàng dưới thanh thiên bạch nhật cho nhiều người khác nghe câu chuyện của gia đình mình. Có gì đáng hổ thẹn nếu là con hoang thì cũng là một con người được sinh thành bởi một người đàn ông và một người đàn bà. Không ai chọn được bố mẹ và nơi mình sinh ra. Đó là sự sắp đặt của số phận. Đó là kiếp người trong một vũ điệu thời gian có vẻ bình thường (về vật lý) nhưng đầy những bất thường (về tâm lí): "Cuộc đời xô đẩy mẹ tôi bằng một buổi chiều như mọi buổi chiều bình thường trên thế gian này". Đã có lúc tưởng chừng như: "Thời gian đã rêu phong chuyện cũ", nhưng trái lại nó càng khắc sâu, ám ảnh tâm thế con người từng can dự vào biết bao sự kiện nhiều phần đắng cay hơn ngọt ngào.

Ấn tượng đầu tiên khi đọc "Con hoang" chính là những kiếp người bị giăng mắc trong những định kiến truyền đời đầy những phi lí, bất công, tàn nhẫn. Mẹ con chị Thắm, hai trong bốn nhân vật chính của tiểu thuyết, đã phải gồng mình lên sống, đã cố vượt lên thoát cái lưới khổng lồ vô hình và tàn nhẫn là định kiến, trong rất nhiều trường hợp là một thế lực độc ác. Định kiến vô lí và lạc hậu đến mù quáng, tàn độc không chỉ làm một đứa con bị gọi là "con hoang" đau khổ, mà nỗi đau khổ đó còn leo ngược lên đến đời mẹ, đời bà ngoại (và có lẽ còn đến cả đời cụ kỵ!?).

Bìa tiểu thuyết "Con Hoang" của nhà văn Lê Hồng Nguyên.
Bìa tiểu thuyết "Con Hoang" của nhà văn Lê Hồng Nguyên.

Một xã hội nhân văn là một xã hội khai phóng, triệt tiêu định kiến, giải phóng năng lượng của từng cá nhân. Đọc "Con hoang", thêm một ấn tượng về cái lẽ đời "tâm" và "thân" ít khi giữ được sự hài hòa. Thậm chí chúng hay đối chọi nhau quyết liệt ở mỗi thân phận. Nhân vật chị Thắm (mẹ của nhân vật xưng Tôi, tên Hoàng, người kể chuyện) luôn bị giằng xé giữa "tâm" và "thân". Thân thì bị Mã (Chủ tịch xã) chiếm đoạt, thoạt đầu là cưỡng bức, nhưng về cuối thì ít nhiều chấp nhận, thậm chí có khi bằng lòng. Nhưng "tâm" thì đeo đẳng với người đàn ông hàng xóm hơn mình vài tuổi, tên Hạnh. Mỗi lần bị Mã dụ dỗ, "thân" bị cưỡng đoạt thì trong "tâm" lại vang lên lời kêu cứu: "Hạnh ơi cứu em!". Và trong con mắt của đứa con trai thì: "Cả cuộc đời mẹ tôi yêu Hạnh".

Chẳng riêng gì Thắm mà cả mẹ Thắm, quá nửa đời người cũng khổ vì hai chữ "thân" và "tâm" không khi nào chịu hòa hợp. Bà là vợ hai, "tâm" thì yêu và tôn thờ chồng nhưng "thân" thì trơ trọi, trống vắng, khát khao bản năng để cuối cùng bĩ cực mà trao thân cho thằng ở là Mã. Chính nhân vật này đã gây ấn tượng về cái ác đầy tính bản năng, hoang dã, có sức hủy hoại đạo đức cổ truyền. Mã là sản phẩm của một "thời xa vắng" - xã hội bị o bế, tăm tối, lạc hậu, đã khi vô tình, khi cố ý tước đoạt quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của những con người tốt đẹp như Thắm.

Một kết cục buồn không tránh khỏi khiến người đọc thương cảm Hạnh, thoát ra khỏi chiến tranh nhưng tàn phế về tinh thần. Anh đã chết vì di hại của chiến tranh. Mã rồi cũng chết vì tuổi già và bệnh tật theo quy luật "sinh lão bệnh tử". Cái chết của nhân vật này vớt vát lại những gì không thiện cảm trước đó bởi hành xử bất nhẫn của anh ta với đồng loại. Nhưng cũng cần thể tất vì anh ta đã mất tất cả để chỉ nhằm theo đuổi Thắm. Kể cả Mã, kể cả Thắm, kể cả Hạnh và cả Tôi (con trai mẹ Thắm, người xưng Tôi kể chuyện), tất cả đều là nạn nhân của đói nghèo, lạc hậu, giặc giã, chiến tranh và thiên tai và những định kiến đã ăn vào thâm căn cố đế trong nếp sống, cách suy nghĩ, hành xử bao đời nay ở những vùng quê nghèo. Đọc "Con hoang", tôi chợt ngẫm đến câu nói của một triết gia, đại ý, con người là một cây sậy (yếu đuối biết bao) biết suy nghĩ (kiêu hãnh biết bao)!

Thường khi đọc tiểu thuyết, số đông độc giả thường chú tâm đến "chuyện" (cũng không có gì không đúng nếu tiểu thuyết có một cốt truyện hấp dẫn), mà thường ít chú ý đến các yếu tố nghệ thuật khác của tác phẩm. Tôi nghiêng về phe quan tâm đến cùng lúc nhiều phương diện nghệ thuật tiểu thuyết. Vì thế trước hết thấy thoải mái khi cầm đọc một cuốn tiểu thuyết chỉ có 202 trang. Đây đích thực là một cuốn tiểu thuyết ngắn, nó không "ngoạm" mất nhiều thời gian quý báu của chúng ta trong cái thời mọi thứ đều "phi mã". Tiểu thuyết ngắn thường dồn nén dung lượng, giản lược cốt truyện và nhân vật và có một kết cấu theo lối khái quát hóa nghệ thuật theo chiều sâu (tính đến hiệu quả là chính).

Đọc kĩ sẽ thấy chủ đề tiểu thuyết thì mở bung ra nhưng kết cấu thì lại, theo cách diễn đạt của nhà văn Nguyễn Minh Châu, như nghệ thuật làm pháo - dồn nén tối đa để có sức nổ lớn nhất. Tiểu thuyết được phân ra thành 30 khúc, theo tôi, liên hoàn với nhau bằng một cái cấu tứ: đời người trong những cuộc bể dâu, "những điều trông thấy mà đau đớn lòng". Viết tiểu thuyết, quan trọng nhất là phải tạo được không khí của câu chuyện được kể. Đọc "Con hoang" của Lê Hồng Nguyên, tôi thấy "đặc sệt" cái không khí làng quê Việt Nam trong một bối cảnh lịch sử hơn hai mươi năm (từ sau hòa bình 1954, qua cải cách ruộng đất, bước vào chiến tranh chống Mỹ, đến thời hậu chiến). Một cái làng quê điển hình của vùng đồng bằng Bắc Bộ, có đặc sản nhãn, có xôi ruộng mật, có phù sa bãi bồi, ruộng đồng tươi tốt. Giữa một tự nhiên phì nhiêu ấy hà cớ gì con người lại cùng quẫn và khốn khổ? Hay là vì con người tự đày ải nhau? Đọc tiểu thuyết của Lê Hồng Nguyên thấy rõ ngay rằng, ẩn chứa đằng sau câu chữ là sự thổn thức và đôi khi cả nước mắt của nhà văn về kiếp người. Nhưng sao câu chuyện được kể lại gay cấn, khốc liệt, tàn nhẫn đến như thế. Nhân vật nào cũng bị tác giả đẩy tới "con đường cùng". Để làm gì? Để dồn họ vào chân tường và để họ phải phát lộ tính cách. Nhưng dường như càng giẫy dụa, họ càng bị siết chặt lại bởi một sợi dây vô hình của cái phi lí.

Tôi thấy Lê Hồng Nguyên là nhà văn có ý thức chăm chút phần "văn" khi viết tiểu thuyết. Câu chuyện được kể có cốt, có hồn, có găm được vào trí nhớ độc giả nhiều hay ít, một phần còn nhờ vào văn phong. Văn Lê Hồng Nguyên đắm đuối (chị hay ướm mình vào các nhân vật nữ mà kể), đã đành, còn là lối văn có tốc độ. Câu văn ngắn, nhịp văn khẩn trương, kết hợp khá nhuần nhuyễn giữa kể và tả, nên đã tạo được cái gọi là "nhịp điệu" (rythme) của văn xuôi. Tôi rất thích lối viết những câu văn ngắn, nhiều ấn tượng của Lê Hồng Nguyên, kiểu như: "Bác Hai phần phật chạy về phía cháu gái, tới nhà, ông sầm sập đập cửa". Đó là lối chạy nhanh như thể đua với gió của một người đàn ông có tuổi khi muốn cháu mình tránh xa những sự nhơ nhuốc xấu xa mà con trẻ không nên chứng kiến. Một câu khác: "Mẹ chạy soàn soạt quạt vào lá ngô". Đó là lối tháo chạy của Thắm, một cô gái mới lớn, băng mình qua bãi ngô để tránh một cuộc truy đuổi của một "con thú" là Mã, kẻ sau này gắn bó suốt đời với cô.

Khép lại 202 trang sách vui buồn cùng với các nhân vật, sẽ vương vấn lại trong ta cảm giác vừa khép lại một bài ca buồn, nỗi đau xé lòng, tiếng than da diết của người phụ nữ sau lũy tre làng với ham ước được sống, nhu cầu được yêu thương, quyền bình đẳng với chính mình. Mỗi số phận trong cuốn tiểu thuyết là sự giày vò với những khát vọng ấy, là ham muốn giải tỏa bản năng của mình đang bị chôn kín, bị đày ải trong bức tường vô hình mà đáng sợ của cái gọi là định kiến, là dư luận xã hội. Văn chương Lê Hồng Nguyên đẹp, buồn, nhưng chứa chan nỗi yêu thương da diết của một ngòi bút nữ. Thiên nhiên trong tiểu thuyết của chị cũng rất đẹp, sống động, và chắc chắn phải khởi thủy từ một tâm hồn lãng mạn tha thiết với cuộc đời chị mới có thể dành cho thiên nhiên những áng văn mềm mại và có sức gợi cảm như vậy. 

Tiểu thuyết của Lê Hồng nguyên không phải không có những khiếm khuyết thường tình. Để kể một câu chuyện cho thật liền mạch cần phải giữ cho bền chặt cái đường dây được gọi là "sợi chỉ đỏ" xuyên suốt các chương/ khúc. Đã có những "vết nứt" nhỏ nhưng nhìn kĩ sẽ thấy: chẳng hạn khúc 14, tác giả không "kể" tiếp mà "luận" về sự kiện (cái chết của ông Hiểu, bố Hạnh). Xét trong tổng thể, khúc này là không cần thiết hiện diện. Là một ngòi bút nữ duy tình nên độc giả nhận thấy trên từng trang viết cái say mê, đắm đuối và cả thống thiết nữa trên từng con chữ, nhưng giá như có lúc nào đó tỉnh táo hơn, sẽ thấy sự "bài binh bố trận" của mình là thiếu logic (chẳng hạn việc Mã giấu nhẹm những bức thư của Hạnh gửi cho Thắm, coi đó là cách thức bao vây, chiếm đoạt người phụ nữ mình say mê). Trong ba nhân vật Hạnh - Thắm - Mã, theo tôi, cần thiết để cho một người "sống mà nhớ lấy". Không nên để cả ba đều chết như phần kết đã thấy trong tiểu thuyết.

Hà Nội, tháng Mười năm 2015.

Bùi Việt Thắng

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).