Album "Hà Nội M6 phố" và giá trị văn chương của ca từ

Ca khúc là mảng rất quan trọng, nếu không nói là quan trọng nhất trong đời sống âm nhạc Việt Nam trong suốt thế kỷ XX và cả hiện nay. Tuy nhiên, thời gian gần đây, nhiều tác giả đã lên tiếng báo động về tình trạng lan tràn của thứ ca khúc dễ dãi với ca từ nhạt nhẽo, sáo mòn, thậm chí dung tục...

Trên tờ An ninh Thủ đô (số ra ngày 24/10/2008), trong bài “Quá thiếu những bài hát hay”, tác giả Bích Hậu viết: Với ca từ bình dân đến mức nghèo nàn, tối nghĩa, còn giai điệu thì nghe bài nào cũng na ná như nhau, những bài hát kiểu như trên có đặc điểm chung là dễ nghe, dễ thuộc và cũng rất dễ... quên. Oái oăm ở chỗ, dù chỉ có tuổi thọ ngắn ngủi là vậy song lại có rất nhiều người trẻ sẵn sàng lao vào sáng tác.

Theo tin của báo Lao động, tại hội thảo "Âm nhạc Việt  Nam - hiện trạng và phương hướng" do Hội Nhạc sĩ Việt Nam tổ chức, phần lớn những người tham dự cũng ý kiến tương tự: Đời sống âm nhạc Việt Nam , qua các tham luận, có thể thấy tựu trung là rất có "vấn đề". Phần lớn ca khúc mới sáng tác bị chê là lai căng, ca từ phản cảm và dường như chỉ phục vụ một vài đối tượng. Không nằm ngoài tình hình sáng tác văn học nghệ thuật nói chung, âm nhạc, từ lâu vắng bóng những tác phẩm "đỉnh cao" như các thế hệ đi trước đã đạt được. Tuy nhiên, cũng có những cách nhìn nhận khác.

Tác giả bài báo dẫn lời nhạc sĩ Nguyễn Cường, người nổi tiếng với những ca khúc mang phong cách Tây Nguyên, rằng: "Không nên quá lo lắng về việc xuất hiện nhiều ca khúc hay CD "thị trường". Hãy coi đó là cuộc chơi riêng, nơi thể hiện khát vọng của những người sáng tác trẻ và chúng ta sẽ tìm được trong đó những tài năng thực thụ… Còn gì buồn hơn, nếu như các nhạc sĩ trẻ bây giờ vẫn sáng tác theo khuôn mẫu của thế hệ trước? Chúng ta phải tự thân vận động. Quan trọng là, chúng ta có khát vọng không? Tôi tin rằng, với khát vọng và khả năng hiện có, chúng ta sẽ làm được".

Chúng tôi đồng ý với nhạc sĩ Nguyễn Cường. Thời nào cũng có những người sáng tác dễ dãi, những kẻ ăn theo. Nhưng thời nào cũng có những nghệ sĩ không ngừng trăn trở, vắt kiệt năng lượng tinh thần để làm ra tác phẩm. Không phải tất cả các nỗ lực đều thành công, nhưng sẽ có một số tác phẩm trụ lại với thời gian. Và số tác phẩm như thế bao giờ cũng ít. Ngày nay chúng ta chỉ còn nghe những ca khúc tiền chiến với ca từ tuyệt đẹp của Văn Cao, Phạm Duy, Nguyễn Văn Thương… nhưng nên nhớ rằng có hàng trăm tác phẩm tầm thường đã bị quên lãng. Cũng vậy, hàng trăm ca khúc tuyệt vời trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã làm nên một kỷ nguyên vàng của ca khúc Việt Nam thế kỷ XX. Những ca khúc này không chỉ có giai điệu đẹp, mà ca từ cũng rất giàu giá trị văn chương. Nhưng bên cạnh đó cũng có hàng ngàn ca khúc mang tính tuyên truyền cổ động dễ dãi mà ngày nay không còn ai nhớ. Ở miền Nam cũng vậy, tác phẩm của các tác giả như Trịnh Công Sơn, Cung Tiến… rõ ràng chỉ là thiểu số so với rất nhiều tác phẩm tầm thường mà chúng ta quen gọi là nhạc vàng .

Hai thập kỷ 80 và 90 (của thế kỷ XX), có thể coi là một khoảng trầm của nền ca khúc Việt Nam, khi có quá nhiều bài hát với ca từ xơ cứng, nhạt nhẽo, có lẽ vì cảm hứng hào hùng thời chiến đã qua trong khi cảm hứng đời thường chưa đến. Tuy vậy, giai đoạn này cũng đã sản sinh ra một thế hệ tài năng, với các tác giả như Trần Tiến, Thanh Tùng, Nguyễn Cường, Dương Thụ… Trong số này chúng tôi đặc biệt lưu ý Trần Tiến và Dương Thụ. Dương Thụ hầu như chỉ viết tình ca. Ca từ của ông cực kỳ trau chuốt, tinh tế và giàu chất tự sự. Sáng tác của Trần Tiến mang nhiều hơi thở cuộc sống hơn. Ông tạo ra được những hình ảnh có khả năng in hằn trong tâm trí người nghe, như “Những đôi mắt mang hình viên đạn”, “Vết chân tròn trên cát” … Nhiều câu của ông có thể coi là những câu thơ xuất thần...

Những điều vừa nói cũng đúng với thế hệ những người viết ca khúc hôm nay. Có thể sự xuống cấp của đời sống âm nhạc là có thật, nhưng sẽ không công bằng nếu chúng ta coi tất cả các sáng tác mới đều dễ dãi, rẻ tiền. Tôi xin lấy một ví dụ là sáng tác của nhóm M6, cụ thể là qua các ca khúc trong album Hà Nội M6 phố  mà họ coi là món quà chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Ngay cái tên album, một cách chơi chữ của Hà Nội 36 phố cũng đã nói lên sự lao động của họ về mặt ca từ.

Sáu thành viên của nhóm (Ngô Tự Lập, Ngô Hồng Quang, Nguyễn Lê Tâm, Nguyễn Thắng, Nguyễn Vĩnh Tiến, Nguyễn Tuấn) có đặc điểm chung là làm nhiều nghề và ai cũng làm thơ. Ca từ trong tác phẩm của họ cũng rất mới mẻ, rất thơ. 

Hai thành viên nổi đình đám nhất về ca khúc là Nguyễn Vĩnh Tiến và Nguyễn Lê Tâm. Nguyễn Vĩnh Tiến là nhà thơ theo nghĩa đen và ca từ của anh cũng đầy những trực cảm thi sĩ: Chương Dương nhịp bóng nối bóng/ Sông Hồng nước thổi lê thê/ Anh đi về phía trống vắng/ Em thành chỗ lở bên sông…  (Hà Nội) hay Mỗi sớm, em thức giấc/ Thấy từng ngón tay mình, ngập ngừng.../ Mỗi sớm, hàng cây Hà Nội, như một lá thư tay...  (Thư Hà Nội).

Nguyễn Lê Tâm cũng từng in thơ và truyện ngắn trên các báo trước khi nổi tiếng cùng ban nhạc Đồng hồ báo thức. Anh thường xuyên đề cập đến các vấn đề xã hội, như dân tộc, lý tưởng, lẽ sống… Trong album chung này, ngoài ca khúc “Thao thức” với ca từ phát triển từ thơ Nguyễn Đăng Luận, anh đóng góp một ca khúc hào sảng tràn đầy lòng tự hào về thành phố ngàn năm: Tôi Thao thức/ Theo gió sông Hồng gọi/ Mang trong hồn huyền thoại/ Thuở hào hoa Thăng Long in trong dáng đi tiếng nói/ Tôi Thao thức/ Theo gió sông Hồng gọi/ Tiếp nối theo dòng người/ Nhận hào quang thanh gươm cha ông lẫy lừng bốn cõi".

Hai tác giả sống bằng nghề nhạc trong nhóm là Nguyễn Thắng và Ngô Hồng Quang lại thiên về các cuộc kiếm tìm. Trong bài “Trong tôi Hà Nội”, Nguyễn Thắng tìm về những cảm xúc giản dị mà nên thơ của thời bao cấp đầy gian khó: "Chiếc xe cà tàng, bố đi vội vàng/ Rộn rã phiếu tem muộn màng". Bài “Yêu cọ cọ cháy” của anh là những trăn trở tìm kiếm của người họa sĩ: Cảm ơn năm tháng/ Hoang mang cọ buồn/ Mà yêu năm tháng/ Màu sắc tìm tôi/ Ôi đam mê biết bao mỗi khi cầm cọ khám phá thế giới.

Ngô Hồng Quang thì tìm chính Hà Nội - thành phố nơi anh sống, thành phố anh yêu mà không bao giờ hiểu hết: Dù ở ngay đây hay những miền quê xa lạ/ Tôi vẫn biết mình phải đi tìm nữa/ Tìm những hàng cây con phố không dài/ Tìm, tôi tìm mãi mãi trong tĩnh lặng cuộc đời/ Hay trong ồn ào còn bao nhiêu lớn lao thầm kín đâu dễ tìm ra/ Tôi đã biết gì Hà Nội của tôi?" (Tìm Hà Nội).

Nguyễn Tuấn, thành viên người Hải Phòng, có biệt tài nói chuyện nhân tình thế thái bằng những thứ thoạt nghe có vẻ  tầm thường. Trong bài “Áo cũ dây phơi” anh bắt đầu bằng câu chuyện chiếc áo: Nằm nghe chuyện dây phơi/ Thầm yêu đời áo cũ/ Mà tâm hồn đưa hương/ Vờn bay cùng nắng gió.../ Áo mới đâu cần tôi/ Áo mới tôi đâu cần. Thật thấm thía: Chiếc áo cũ quý vì nó có hơi người. Nhưng rồi, Một hôm trời mưa giông/ Gần xa ào gió lốc/ Còn ai ngoài kia không/ Nhặt tôi giùm chiếc áo/ Áo cũ ôi tả tơi/ Áo cũ lấm lem rồi/ Tôi chỉ là dây phơi/ Thầm lặng nghe mưa rơi… Hóa ra chuyện chiếc áo lại là chuyện con người. “Bồ câu và hạt thóc” cũng là bài hát có ca từ rất hay của Tuấn: Khi cơn mơ vụt tắt trong đêm tiếng thở dài/ Đời tôi như bao hạt thóc vốn im ắng từ lâu.../ Từ ngày bồ câu vụt bay mãi về nơi nao/ Khúc ca bình minh mình anh lắng nghe/ Giờ này bồ câu bay đi đâu đã lâu không về.

Ngô Tự Lập là anh cả nhóm, nhưng hình như lại là tác giả có ca từ lạ nhất. Trong bài “Đường dương cầm”, Ngô Tự Lập phát triển một bài thơ ngắn của Dương Tường thành một bài hát đầy tâm trạng với từ “se sẽ” lặp đi lặp lại: Chiều se sẽ sương/ Vườn se sẽ hương/ Nhà se sẽ khuất/ Đường se sẽ quạnh/ Trời se sẽ lạnh/ Hồ se sẽ mờ/ Đời se sẽ gió/ Người se sẽ buồn và Chiều se sẽ mưa/ Cành se sẽ thưa/ Ngày se sẽ tắt/ Đàn se sẽ lặng/ Lời se sẽ vọng/ Màu se sẽ nhòa/ Lòng se sẽ nhớ/ Mùa se sẽ về…

Nhưng bài hát có ca từ mới mẻ nhất là “Hà Nội hiphop”. Xuất hiện lần đầu tiên trên chương trình Bài hát Việt (2007), “Hà Nội hiphop” có lẽ là bài hát đầu tiên mô tả Hà Nội không phải với phố nhỏ, mùi hoa sữa, chim sâm cầm…, mà với vẻ đẹp bề bộn đời thường: Những con đường bụi đen kề bên cánh đồng/ Những cây bằng lăng xanh xao dưới bê tông/ Khương Trung phố quen hàng xóm nay còn không/ Ai giờ đây sống trong căn phòng xép ngôi nhà cũ tôi từng sống…". “Hà Nội hiphop”. có lẽ cũng là bài hát đầu tiên có những hình ảnh đặc trưng của thời mở cửa: Đứng trên đường Nhật Tân nhìn hững hờ/ Những anh chàng Tây balô phóng Minxcơ/ Cô em váy cao và tóc xoăn nhuộm nâu…  và Nắng trên cầu Long Biên chiều lốm đốm vàng/ Gió đưa mùi mực khô thơm quán bia sang/ Hello, mấy anh nghệ sĩ say cười vang/ Bọt bia trắng tinh trong chiều phố vương đầy lá vương đầy gió". Bài hát kết thúc bằng câu hỏi: Em hay phố hay đất trời/ Hay là chính tôi, hay là chính tôi/ Hay là chính tôi đã khác xưa rồi?

Câu hỏi, cũng là câu trả lời ấy cứ vang vọng mãi trong tôi.

Những bài hát của M6 làm tôi thấy tin tưởng rằng những gì viết ra bằng tâm hồn được sự đồng cảm của người thưởng thức

Đào Tùng Vân

Các tin khác

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Nhà văn Hoàng Thế Sinh: Đứng để viết và viết để đứng

Ở Hoàng Thế Sinh, điều gây ấn tượng không nằm ở danh xưng, mà ở một phẩm chất lặng lẽ: sự tử tế. Sự tử tế ấy không cần tuyên bố, không cần phô bày, nhưng hiện diện trong cách sống, cách đối đãi và thấm dần vào từng trang viết. Nó tạo nên một nền đạo đức âm thầm nhưng bền bỉ, giúp văn chương của ông không trượt vào cảm tính dễ dãi, cũng không rơi vào sự lạnh lẽo của quan sát thuần túy.

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Thơ hậu hiện đại có gì mới?

Trong các nhà thơ Việt đương đại, Lê Vĩnh Tài (SN 1966, hội viên Hội Văn nghệ Đắk Lắk, đã in 6 tập thơ và trường ca) là một gương mặt tạo được dấu ấn riêng bởi một kiểu viết giàu tính thể nghiệm hậu hiện đại, dữ dội trong liên tưởng, phức hợp trong giọng điệu, và đặc biệt là có ý thức rất rõ về việc làm mới thi pháp thơ.

Một giọng thơ nặng ân tình

Một giọng thơ nặng ân tình

Phó giáo sư - Tiến sĩ - Nhà lý luận phê bình văn học Ngô Văn Giá đã viết rất chân thành: “Ở chốn Kinh Bắc hiện nay, Tô Hoàn vẫn là một nhà thơ có uy tín, có vị trí trên văn đàn, có đóng góp vào đời sống thơ ca Việt Nam đương đại”.

Phận liễu xưa nay...

Phận liễu xưa nay...

Nguyễn Thị Lê Na đã cùng với phái yếu, phái đẹp tích cực góp công vào kiến thiết một dòng văn chương mang gương mặt nữ trên văn đàn Việt Nam đương đại.

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

“Những người lính của làng” - Bản hợp xướng đẹp & buồn

Tập trường ca “Những người lính của làng” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều vừa được Nha xuất bản Hội Nhà văn ấn hành là một dấu ấn khá đặc biệt. Ở đó, hình tượng người lính không còn được khắc họa đơn tuyến như biểu tượng anh hùng thuần túy, mà trở thành một thực thể đa chiều - vừa bi tráng, vừa mong manh, vừa mang nỗi đau riêng tư, vừa hòa vào số phận dân tộc.

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Cây bút "giải phẫu nội tâm"

Tuy là đồng nghiệp và đồng hương Quảng Bình, nhưng mãi đến năm 2018, tôi mới được gặp và quen biết Nguyễn Hương Duyên, cây bút nữ văn xuôi "7x đời chót" đang làm Trưởng ban Thư ký tòa soạn tạp chí Nhật Lệ của Hội VHNT ở quê nhà.

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

"Ước vọng xanh" - tập thơ học đường giành Huy chương Vàng Dickens

Trong những ngày đầu năm 2026, giới văn chương Việt Nam, đặc biệt là vùng đất "sen bùi nhãn ngọt" Hưng Yên, đón nhận tin vui: Đại tá Công an - nhà thơ Văn Diên (hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) đã chính thức được vinh danh Giải thưởng Văn học Quốc tế 2025 với Huy chương Vàng Dickens cho tập thơ thiếu nhi "Green Wishes" (Ước vọng xanh).

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Trưa hè nhớ bát “chè hai”

Một bữa nắng như chảo lửa nung cháy xứ Quảng, tôi ghé nhà bạn ở vùng trung du phía Tây Thăng Bình, nơi con sông Rù Rì chảy qua. Loáng thoáng trong câu chuyện quanh mâm giỗ, bà ngoại bạn thở than với mấy người già quê: “Trời ni mà có bát nước chè hai uống cái ực thì sướng phải biết!”.

Như thế nào là nghệ thuật?

Như thế nào là nghệ thuật?

Nghệ thuật (Tiếng Anh: Art), nếu chiết tự theo Hán Việt, đó là nuôi dưỡng, làm phát triển tài năng bên trong (tài nghệ) bằng các kỹ thuật, phương pháp. Sản phẩm nghệ thuật là hình thức hiện ra - kết quả của quá trình nuôi dưỡng tài năng cùng với các phương pháp biểu hiện tốt nhất có thể. Hiểu trên phương diện thực tế: nghệ thuật là sự biểu đạt thẩm mỹ thông qua các phương tiện/ chất liệu (ngôn ngữ, âm thanh, màu sắc, hình ảnh, hình khối, vũ đạo…).

Biết đủ để định vị bản thân

Biết đủ để định vị bản thân

Một sáng Chủ nhật thảnh thơi, tôi lại đem cuốn sách cũ ra đọc. Tiếng là những sách cũ, giấy đã sờn và rách gáy nhưng chữ nghĩa cổ nhân ngẫm ra thật thú vị. Trong "Đạo đức kinh", Lão Tử viết: "...Tri túc bất nhục, tri chỉ bất đài, khả dĩ trường cửu". Nghĩa là: Biết thế nào là đủ thì không nhục, biết lúc nào nên ngừng thì không nguy, may có thể sống lâu được".

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Nhà báo Hồ Quang Lợi: Viết bằng cả trái tim

Gần nửa thế kỷ cầm bút, 11 đầu sách đã xuất bản, 9 Giải thưởng Báo chí quốc gia - đó là những con số biết nói về một hành trình sáng tạo bền bỉ của nhà báo Hồ Quang Lợi. Nhưng, có lẽ, điều khiến độc giả nhớ nhất ở ông không chỉ là nhà báo với những bài bình luận quốc tế sắc sảo, mà còn trong tư cách nhà văn qua những trang viết chân dung đầy nhân văn về những con người "làm nên thời đại".

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

Đặng Thùy Tiên - “con ngựa” trên thảo nguyên Pu Ta Leng

“Nơi tôi sống, núi rừng trùng điệp, màu xanh cây cối đã thành quen mắt. Từ khi tôi còn là một đứa trẻ bé tí theo mẹ đi chợ, những hoa văn thổ cẩm đã theo vào mắt tôi, cùng tôi khôn lớn”, nhà văn trẻ Đặng Thùy Tiên giới thiệu về mình. Nơi “núi rừng trùng điệp” ấy chính là thị trấn Tam Đường, nay là xã Bình Lư, tỉnh Lai Châu.

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

Nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung - ân nghĩa quê nhà

“Rộn ràng, rộn ràng hạnh phúc đang tràn dâng/ Nôn nao lâng lâng xao xuyến đến ngập lòng...” - nhạc sĩ Nguyễn Duy Trung “chào sân” bằng bài hát vui vui. Không cần guitar đệm nhạc, chỉ có nhịp vỗ tay đã thấy rộn lên như trong một hội hôn. Hát xong, người nhạc sĩ đến từ miệt Sen hồng Đồng Tháp cúi đầu chào khán giả. Sau tràng pháo tay khích lệ, anh hát tiếp: “Nhớ không em! trò chơi đám cưới ngày xưa/ Tóc cô dâu thả suông kết bông mười giờ/ bên chú rể lưng trần, che lộng vàng lá chuối/ Xây tổ ấm uyên ương mơ ước ngày nên đôi...”.

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Bút ký Tô Hoàng - làm mới cách viết về chiến tranh

Trong dòng chảy văn xuôi Việt Nam viết về chiến tranh và hậu chiến, có những tác phẩm không chọn giọng điệu sử thi lớn lao, cũng không cố dựng lên những tượng đài bất khả xâm phạm, mà lặng lẽ đi vào ký ức cá nhân, từ đó chạm đến phần sâu nhất của lịch sử dân tộc. Tác phẩm bút ký - tản văn “Lính già mau nhớ lâu quên” của nhà văn Tô Hoàng vừa được NXB Hội Nhà văn ấn hành tháng 2/2026 là một tập sách như thế.

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

Khi lịch sử trở thành câu hỏi của hiện tại

“Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”của tiến sĩ Nguyễn Thành Nam không chỉ kể lại lịch sử Việt Nam hơn một thế kỷ qua, mà còn đặt lịch sử vào một vai trò khác, như tấm gương để soi chiếu hiện tại. Khi các sự kiện và nhân vật được nhìn lại bằng những câu hỏi mới, lịch sử không còn là những mốc thời gian khép kín, mà trở thành nguồn bài học sống động, đặc biệt với người trẻ, trong việc hiểu mình đang ở đâu và nên đi về đâu.

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Nguyễn Thu Hằng: Thắp mình cháy lên như một ngọn nến

Lần mới đây nhất tôi gặp lại nhà văn Nguyễn Thu Hằng chính là tại lễ tổng kết, trao giải Cuộc thi viết tiểu thuyết, truyện và ký về đề tài "Vì an ninh Tổ quốc và bình yên cuộc sống" lần thứ V, giai đoạn 2022-2025. Cuộc thi do Bộ Công an phối hợp với Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Ở cuộc thi này chị đã đoạt giải Nhất với tiểu thuyết “Chiều qua thị trấn”.

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trần Nhương với cảm hứng thi ca về đất nước, con người

Trong thơ Việt Nam đương đại nửa sau thế kỷ XX, lớp nhà thơ trưởng thành từ chiến tranh đã tạo nên một diện mạo đặc biệt cho thi ca dân tộc. Họ mang đến cho thơ không chỉ cảm xúc mà còn là ký ức lịch sử, những trải nghiệm sống động của một thế hệ đã đi qua chiến tranh và bước vào công cuộc dựng xây đất nước.

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải: Kiến tạo "bảo tàng sống" về những cuộc đời vĩ đại

Nhà văn Nguyễn Thị Ngọc Hải là gương mặt quen thuộc trong làng văn, làng báo Việt Nam. Trải qua nhiều thăng trầm, bà khẳng định mình không chỉ là nhà báo tâm huyết mà còn là cây bút kiên trì với thể loại phi hư cấu, đặc biệt là những cuốn sách chân dung gây tiếng vang như tác phẩm về nhà tình báo huyền thoại Phạm Xuân Ẩn – cuốn sách được giới nghiên cứu quốc tế đánh giá cao, từng được dịch nhiều chương trên tạp chí The Consequence (Mỹ).

Tơ duyên trong chữ

Tơ duyên trong chữ

Tập tiểu luận phê bình "Duyên khởi đến cõi văn" (NXB Hội Nhà văn, 2025) của PGS.TS Hoàng Kim Ngọc là kết quả sau hơn 3 năm đọc, nghĩ và viết dưới ánh sáng của chữ duyên: “Hữu duyên, nhân duyên, thiện duyên và duyên khởi. Đó là sự gặp gỡ giữa nhà phê bình với nhà văn, giữa nhà văn với cõi văn linh diệu của họ” (Lời nói đầu).