Trên tờ An ninh Thủ đô (số ra ngày 24/10/2008), trong bài “Quá thiếu những bài hát hay”, tác giả Bích Hậu viết: Với ca từ bình dân đến mức nghèo nàn, tối nghĩa, còn giai điệu thì nghe bài nào cũng na ná như nhau, những bài hát kiểu như trên có đặc điểm chung là dễ nghe, dễ thuộc và cũng rất dễ... quên. Oái oăm ở chỗ, dù chỉ có tuổi thọ ngắn ngủi là vậy song lại có rất nhiều người trẻ sẵn sàng lao vào sáng tác.
Theo tin của báo Lao động, tại hội thảo "Âm nhạc Việt
Tác giả bài báo dẫn lời nhạc sĩ Nguyễn Cường, người nổi tiếng với những ca khúc mang phong cách Tây Nguyên, rằng: "Không nên quá lo lắng về việc xuất hiện nhiều ca khúc hay CD "thị trường". Hãy coi đó là cuộc chơi riêng, nơi thể hiện khát vọng của những người sáng tác trẻ và chúng ta sẽ tìm được trong đó những tài năng thực thụ… Còn gì buồn hơn, nếu như các nhạc sĩ trẻ bây giờ vẫn sáng tác theo khuôn mẫu của thế hệ trước? Chúng ta phải tự thân vận động. Quan trọng là, chúng ta có khát vọng không? Tôi tin rằng, với khát vọng và khả năng hiện có, chúng ta sẽ làm được".
Chúng tôi đồng ý với nhạc sĩ Nguyễn Cường. Thời nào cũng có những người sáng tác dễ dãi, những kẻ ăn theo. Nhưng thời nào cũng có những nghệ sĩ không ngừng trăn trở, vắt kiệt năng lượng tinh thần để làm ra tác phẩm. Không phải tất cả các nỗ lực đều thành công, nhưng sẽ có một số tác phẩm trụ lại với thời gian. Và số tác phẩm như thế bao giờ cũng ít. Ngày nay chúng ta chỉ còn nghe những ca khúc tiền chiến với ca từ tuyệt đẹp của Văn Cao, Phạm Duy, Nguyễn Văn Thương… nhưng nên nhớ rằng có hàng trăm tác phẩm tầm thường đã bị quên lãng. Cũng vậy, hàng trăm ca khúc tuyệt vời trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã làm nên một kỷ nguyên vàng của ca khúc Việt Nam thế kỷ XX. Những ca khúc này không chỉ có giai điệu đẹp, mà ca từ cũng rất giàu giá trị văn chương. Nhưng bên cạnh đó cũng có hàng ngàn ca khúc mang tính tuyên truyền cổ động dễ dãi mà ngày nay không còn ai nhớ. Ở miền Nam cũng vậy, tác phẩm của các tác giả như Trịnh Công Sơn, Cung Tiến… rõ ràng chỉ là thiểu số so với rất nhiều tác phẩm tầm thường mà chúng ta quen gọi là nhạc vàng .
Hai thập kỷ 80 và 90 (của thế kỷ XX), có thể coi là một khoảng trầm của nền ca khúc Việt Nam, khi có quá nhiều bài hát với ca từ xơ cứng, nhạt nhẽo, có lẽ vì cảm hứng hào hùng thời chiến đã qua trong khi cảm hứng đời thường chưa đến. Tuy vậy, giai đoạn này cũng đã sản sinh ra một thế hệ tài năng, với các tác giả như Trần Tiến, Thanh Tùng, Nguyễn Cường, Dương Thụ… Trong số này chúng tôi đặc biệt lưu ý Trần Tiến và Dương Thụ. Dương Thụ hầu như chỉ viết tình ca. Ca từ của ông cực kỳ trau chuốt, tinh tế và giàu chất tự sự. Sáng tác của Trần Tiến mang nhiều hơi thở cuộc sống hơn. Ông tạo ra được những hình ảnh có khả năng in hằn trong tâm trí người nghe, như “Những đôi mắt mang hình viên đạn”, “Vết chân tròn trên cát” … Nhiều câu của ông có thể coi là những câu thơ xuất thần...
Những điều vừa nói cũng đúng với thế hệ những người viết ca khúc hôm nay. Có thể sự xuống cấp của đời sống âm nhạc là có thật, nhưng sẽ không công bằng nếu chúng ta coi tất cả các sáng tác mới đều dễ dãi, rẻ tiền. Tôi xin lấy một ví dụ là sáng tác của nhóm M6, cụ thể là qua các ca khúc trong album Hà Nội M6 phố mà họ coi là món quà chào mừng 1000 năm Thăng Long - Hà Nội. Ngay cái tên album, một cách chơi chữ của Hà Nội 36 phố cũng đã nói lên sự lao động của họ về mặt ca từ.
Sáu thành viên của nhóm (Ngô Tự Lập, Ngô Hồng Quang, Nguyễn Lê Tâm, Nguyễn Thắng, Nguyễn Vĩnh Tiến, Nguyễn Tuấn) có đặc điểm chung là làm nhiều nghề và ai cũng làm thơ. Ca từ trong tác phẩm của họ cũng rất mới mẻ, rất thơ.
Hai thành viên nổi đình đám nhất về ca khúc là Nguyễn Vĩnh Tiến và Nguyễn Lê Tâm. Nguyễn Vĩnh Tiến là nhà thơ theo nghĩa đen và ca từ của anh cũng đầy những trực cảm thi sĩ: Chương Dương nhịp bóng nối bóng/ Sông Hồng nước thổi lê thê/ Anh đi về phía trống vắng/ Em thành chỗ lở bên sông… (Hà Nội) hay Mỗi sớm, em thức giấc/ Thấy từng ngón tay mình, ngập ngừng.../ Mỗi sớm, hàng cây Hà Nội, như một lá thư tay... (Thư Hà Nội).
Nguyễn Lê Tâm cũng từng in thơ và truyện ngắn trên các báo trước khi nổi tiếng cùng ban nhạc Đồng hồ báo thức. Anh thường xuyên đề cập đến các vấn đề xã hội, như dân tộc, lý tưởng, lẽ sống… Trong album chung này, ngoài ca khúc “Thao thức” với ca từ phát triển từ thơ Nguyễn Đăng Luận, anh đóng góp một ca khúc hào sảng tràn đầy lòng tự hào về thành phố ngàn năm: Tôi Thao thức/ Theo gió sông Hồng gọi/ Mang trong hồn huyền thoại/ Thuở hào hoa Thăng Long in trong dáng đi tiếng nói/ Tôi Thao thức/ Theo gió sông Hồng gọi/ Tiếp nối theo dòng người/ Nhận hào quang thanh gươm cha ông lẫy lừng bốn cõi".
Hai tác giả sống bằng nghề nhạc trong nhóm là Nguyễn Thắng và Ngô Hồng Quang lại thiên về các cuộc kiếm tìm. Trong bài “Trong tôi Hà Nội”, Nguyễn Thắng tìm về những cảm xúc giản dị mà nên thơ của thời bao cấp đầy gian khó: "Chiếc xe cà tàng, bố đi vội vàng/ Rộn rã phiếu tem muộn màng". Bài “Yêu cọ cọ cháy” của anh là những trăn trở tìm kiếm của người họa sĩ: Cảm ơn năm tháng/ Hoang mang cọ buồn/ Mà yêu năm tháng/ Màu sắc tìm tôi/ Ôi đam mê biết bao mỗi khi cầm cọ khám phá thế giới.
Ngô Hồng Quang thì tìm chính Hà Nội - thành phố nơi anh sống, thành phố anh yêu mà không bao giờ hiểu hết: Dù ở ngay đây hay những miền quê xa lạ/ Tôi vẫn biết mình phải đi tìm nữa/ Tìm những hàng cây con phố không dài/ Tìm, tôi tìm mãi mãi trong tĩnh lặng cuộc đời/ Hay trong ồn ào còn bao nhiêu lớn lao thầm kín đâu dễ tìm ra/ Tôi đã biết gì Hà Nội của tôi?" (Tìm Hà Nội).
Nguyễn Tuấn, thành viên người Hải Phòng, có biệt tài nói chuyện nhân tình thế thái bằng những thứ thoạt nghe có vẻ tầm thường. Trong bài “Áo cũ dây phơi” anh bắt đầu bằng câu chuyện chiếc áo: Nằm nghe chuyện dây phơi/ Thầm yêu đời áo cũ/ Mà tâm hồn đưa hương/ Vờn bay cùng nắng gió.../ Áo mới đâu cần tôi/ Áo mới tôi đâu cần. Thật thấm thía: Chiếc áo cũ quý vì nó có hơi người. Nhưng rồi, Một hôm trời mưa giông/ Gần xa ào gió lốc/ Còn ai ngoài kia không/ Nhặt tôi giùm chiếc áo/ Áo cũ ôi tả tơi/ Áo cũ lấm lem rồi/ Tôi chỉ là dây phơi/ Thầm lặng nghe mưa rơi… Hóa ra chuyện chiếc áo lại là chuyện con người. “Bồ câu và hạt thóc” cũng là bài hát có ca từ rất hay của Tuấn: Khi cơn mơ vụt tắt trong đêm tiếng thở dài/ Đời tôi như bao hạt thóc vốn im ắng từ lâu.../ Từ ngày bồ câu vụt bay mãi về nơi nao/ Khúc ca bình minh mình anh lắng nghe/ Giờ này bồ câu bay đi đâu đã lâu không về.
Ngô Tự Lập là anh cả nhóm, nhưng hình như lại là tác giả có ca từ lạ nhất. Trong bài “Đường dương cầm”, Ngô Tự Lập phát triển một bài thơ ngắn của Dương Tường thành một bài hát đầy tâm trạng với từ “se sẽ” lặp đi lặp lại: Chiều se sẽ sương/ Vườn se sẽ hương/ Nhà se sẽ khuất/ Đường se sẽ quạnh/ Trời se sẽ lạnh/ Hồ se sẽ mờ/ Đời se sẽ gió/ Người se sẽ buồn và Chiều se sẽ mưa/ Cành se sẽ thưa/ Ngày se sẽ tắt/ Đàn se sẽ lặng/ Lời se sẽ vọng/ Màu se sẽ nhòa/ Lòng se sẽ nhớ/ Mùa se sẽ về…
Nhưng bài hát có ca từ mới mẻ nhất là “Hà Nội hiphop”. Xuất hiện lần đầu tiên trên chương trình Bài hát Việt (2007), “Hà Nội hiphop” có lẽ là bài hát đầu tiên mô tả Hà Nội không phải với phố nhỏ, mùi hoa sữa, chim sâm cầm…, mà với vẻ đẹp bề bộn đời thường: Những con đường bụi đen kề bên cánh đồng/ Những cây bằng lăng xanh xao dưới bê tông/ Khương Trung phố quen hàng xóm nay còn không/ Ai giờ đây sống trong căn phòng xép ngôi nhà cũ tôi từng sống…". “Hà Nội hiphop”. có lẽ cũng là bài hát đầu tiên có những hình ảnh đặc trưng của thời mở cửa: Đứng trên đường Nhật Tân nhìn hững hờ/ Những anh chàng Tây balô phóng Minxcơ/ Cô em váy cao và tóc xoăn nhuộm nâu… và Nắng trên cầu Long Biên chiều lốm đốm vàng/ Gió đưa mùi mực khô thơm quán bia sang/ Hello, mấy anh nghệ sĩ say cười vang/ Bọt bia trắng tinh trong chiều phố vương đầy lá vương đầy gió". Bài hát kết thúc bằng câu hỏi: Em hay phố hay đất trời/ Hay là chính tôi, hay là chính tôi/ Hay là chính tôi đã khác xưa rồi?
Câu hỏi, cũng là câu trả lời ấy cứ vang vọng mãi trong tôi.
Những bài hát của M6 làm tôi thấy tin tưởng rằng những gì viết ra bằng tâm hồn được sự đồng cảm của người thưởng thức