Nhà văn Lý Văn Sâm: Người kể chuyện một mình

Trong số những nhà văn từ rừng về thành phố, có lẽ ông là người cao tuổi nhất. Ông sinh ngày 17/2/1921 tại Vĩnh Cửu, Đồng Nai. Ông còn là người giữ chức vụ cao nhất trong số các nhà văn kháng chiến: Tổng thư ký Hội Văn nghệ Giải phóng, Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật, Bộ Văn hoá trong Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam. Và điều quan trọng nhất: Ông chính là người còn sót lại trong nhóm nhà văn khởi đi từ những câu chuyện đường rừng.

Sinh ra ở vùng đất địa linh nhân kiệt, chỉ một khúc sông Đồng Nai thôi, mà đã sinh ra đến bốn bậc thi nhân lẫy lừng và hào sảng. Một thi tướng Huỳnh Văn Nghệ chọc nước khuấy trời miền Đông một thuở, một nhà văn kể chuyện đường rừng Lý Văn Sâm, một cây viết cần cù, một nhà quay phim đầy trách nhiệm Hoàng Văn Bổn và một nhà văn đi giữa hai làn nước đục trong với những tác phẩm còn mãi với thời gian Bình Nguyên Lộc.

Bốn người lúc khởi thuỷ cùng đi một hướng, chỉ sau chín năm kháng chiến, khi thời cuộc đẩy đưa, hai người tham gia trong đội quân tập kết (Huỳnh Văn Nghệ và Hoàng Văn Bổn), còn hai người ở lại Sài Gòn tiếp tục sống với cây súng là ngòi bút của mình (Lý Văn Sâm và Bình Nguyên Lộc).

Mỗi người tuỳ vị trí của mình, bước vào cuộc kháng chiến mới trong tâm thế và tư thế khác nhau. Bình Nguyên Lộc trong tâm thế của người dinh tê, rời bỏ kháng chiến trong thế đặng chẳng đừng, trở về thành nặng công việc áo cơm, nhưng cũng không quên những bạn bè một thời “nóp với giáo”, nhận ra và giúp đỡ họ bằng những công ăn việc làm thiết thân và vững chãi.

Lý Văn Sâm từ chuyện là anh cán bộ cơ sở ở Biên Hoà, bị Pháp bắt tạm giam một thời gian, sau lên Sài Gòn tiếp tục hoạt động trong Lực lượng Công an Sài Gòn cùng với nhà thơ Hoàng Tấn và liên tục giới thiệu với bạn đọc miền Nam những tác phẩm văn học thuộc nhiều đề tài của mình trong những năm từ 1947 đến 1950. Sau đó ông được điều ra vùng kháng chiến và hoà bình 1954 trở lại Sài Gòn tiếp tục sứ mệnh chiến đấu cao cả của mình bằng ngòi bút giữa trùng vây kẻ thù, và một năm sau ngày ký kết Hiệp định Geneve đã bị xộ khám với tội danh “Cộng sản nằm vùng” thông qua truyện ngắn có tên là Chuông rung trên tháp đổ dưới bút danh là Bách Thảo Sương.

Vào tù đúng một năm, ông cùng một số bạn tù tổ chức tham gia cuộc phá ngục lớn, đưa hàng trăm người của kháng chiến cũ bị giam cầm trong nhà lao Tân Hiệp, Biên Hoà trở về với kháng chiến, với cách mạng đang nhen nhóm từ trong rừng sâu hay trên rẻo cao. Cuộc vượt thoát cho dù có trả giá đắt nhưng cũng đã thành công, và Lý Văn Sâm lại trở về với đồng đội của mình một cách chính danh là người kháng chiến.

Cuộc vượt thoát của Lý Văn Sâm, của Viễn Phương đã thành công, nhưng đồng đội chiến đấu cùng chiến tuyến với ông là nhà báo - nhà văn Dương Tử Giang thì đành nằm lại với núi rừng Biên Hoà ngàn năm gió thổi. Cuộc vượt ngục thắng lợi không những đã mang về cho cách mạng những chiến sĩ ưu tú trên mặt trận văn nghệ của mình mà còn mở ra một chân trời mới, một tổ chức mới, đó là sự hình thành Hội Văn nghệ Giải phóng miền Nam Việt Nam và nhà văn Lý Văn Sâm đảm nhiệm chức vụ Tổng thư ký đầu tiên của Hội.

Những năm tháng ở Ban Tuyên huấn Trung ương Cục - nghĩa là những năm tháng ở rừng, ông không nề hà bất cứ công việc gì. Từ làm chính trị viên Đoàn Văn công Giải phóng thuở ban đầu đến khi thành lập Hội Văn nghệ Giải phóng năm 1963 thì đảm nhiệm chức vụ Tổng thư ký đầu tiên, hay khi Mặt trận cần tổ chức chính phủ hợp pháp cho chính thể Cộng hoà miền Nam Việt Nam năm 1966 thì ông sẵn sàng đóng vai Vụ trưởng Vụ Nghệ thuật trong Bộ Văn hoá cho đủ mâm đủ bát.

Sau ngày giải phóng, ông đảm nhiệm chức vụ Phó tổng thư ký Ủy ban Liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam khoá 3, đại biểu Quốc hội khoá 4 hay Chủ tịch đầu tiên của Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Đồng Nai. Dù ở cương vị nào, người ta cũng dễ dàng nhận ra ông, một con người nhẹ nhàng từ tốn trong dáng đi, cách nói và cả trong công việc điều hành.

Vẫn trên môi luôn lập loè điếu thuốc, vẫn cái vóc dáng khiêm nhường, chú Hai Lý Văn Sâm là hình ảnh khó quên trong lòng những người hoạt động văn học nghệ thuật ở Đồng Nai nói riêng, ở miền Đông Nam Bộ và cả Nam Bộ nói chung. Nhờ có ông cùng nhà văn Hoàng Văn Bổn mà so với các tỉnh miền Đông Nam Bộ, Đồng Nai đã trở thành một vườn ươm văn học.

Ở đó sau năm 1975, đã xuất hiện thế hệ nhà văn mới với những sục sôi đầy tâm huyết như Nguyễn Đức Thọ, Khôi Vũ (Nguyễn Thái Hải), Phạm Thanh Quang, Đàm Chu Văn, Nguyễn Một, Thu Trân, Bùi Quang Huy và nhiều người khác nữa. 

So với những nhà văn cùng thời đã từng có thời gian hoạt động trong ngành công an thời kỳ đầu kháng chiến như Đoàn Giỏi, Hoàng Tấn thì Lý Văn Sâm có gương mặt của một người trí thức ưu thời mẫn thế. Vẻ nhã nhặn trong cách đi dáng đứng, trong hành xử giao tiếp phần nào thể hiện được tính cách của ông, một người viết lớn lên từ miền Đông, trông rất thanh tao nhưng vô cùng cường tráng.

Có thể nói Lý Văn Sâm là nhà văn Nam Bộ duy nhất viết chuyện đường rừng trong giai đoạn cuối của Tự lực văn đoàn khi Lan Khai, Tchya Đái Đức Tuấn (miền Bắc) đã tạo nên một nền móng vững chắc cho thể loại văn học này. Chuyện đường rừng của Lý Văn Sâm mang đầy màu sắc thơ mộng với cảnh núi non rừng đồi hoang vu bát ngát, có những cuộc đời nông dân cơ cực, những luật tục đáng tự hào, những chuyện tình éo le ít nhiều hơi hướng hoang dã và tự nhiên trong Kòn Trô, Sương gió biên thuỳ hay Rồng bay trên núi Gia Nhang.

Những con người trong tác phẩm của Lý Văn Sâm là những nhân vật trí thức nửa vời, tròng trành trước thế cuộc với nhiều chọn lựa được hơn, nhưng cuối cùng còn giữ được chút lòng son để về với nhân dân, về với cộng đồng trong niềm tin chính nghĩa.

Khác với thi tướng Huỳnh Văn Nghệ chọn con đường binh nghiệp, Lý Văn Sâm đã chọn con đường viết văn như một cách tham gia tích cực vào công cuộc cách mạng của dân tộc. Từ “quê hương rừng thẳm sông dài” (tên một tác phẩm hồi ký tuổi thơ của Huỳnh Văn Nghệ), Lý Văn Sâm đã đến Sài Gòn, ra đi và trở lại Sài Gòn với tư cách một người viết văn, không hơn không kém. Cho dù sau năm 1975 ông ở tại Sài Gòn và về quê Đồng Nai làm quan văn nghệ, ông vẫn được xem là một nhà văn Đồng Nai kiệt xuất trong tứ trụ một thời.

Những năm kháng chiến chống Pháp, trong vòng kìm kẹp của kẻ địch, bằng sức viết cường tráng của mình, Lý Văn Sâm đã công bố nhiều tác phẩm có giá trị đương thời thuộc nhiều thể tài như mảng truyện đường rừng, mảng cuộc sống đô thị và mảng cuộc sống kháng chiến.

Có thể nói, bằng bút lực tự thân của một người viết xuất thân từ vùng đồng rừng trù phú, Lý Văn Sâm đã miệt mài với chữ nghĩa để tạo nên những hình tượng văn chương thơ mộng, đẹp đẽ mà không kém phần lung linh, thi vị. Những nhân vật tiểu tư sản hay tầng lớp nghèo thành thị trong mảng truyện đô thị của ông thường vật lộn với cuộc sống khó nhọc, có thân phải biết giữ thân, mà vẫn canh cánh bên lòng nỗi ưu tư về thế thời, về đất nước.

Những truyện ngắn như Ngoài mưa lạnh, Ngàn sau sông Dịch, Mưa Sài Gòn hay Nắng bên kia làng, Tàn một đời thơ đã phần nào nêu lên được những hiện thực sống động của cuộc sống đô thị luôn bị kìm hãm nhưng vẫn sáng ngời ý chí tự tôn, tự tin.

Về mảng đề tài chuyện kháng chiến, có thể nói Lý Văn Sâm đã thật sự nhuần nhuyễn trong cách diễn đạt để vẫn nói về những người trong rừng kháng chiến mà kẻ thù không thể vu cho ông tội tuyên truyền chống chế độ được. Hình ảnh người du kích, chị cứu thương, và những hoạt động trong vùng kháng chiến được tác giả cài cắm vào trong các tác phẩm như Nắng bên kia làng, Mây trôi về bắc hay Hoàng hôn sắc tím... đã phần nào giúp cho người đọc thành thị hiểu người kháng chiến và cuộc chiến đấu chính nghĩa của họ.

Từ khi vào rừng lần hai trong kháng chiến chống Mỹ, Lý Văn Sâm không viết nhiều. Có lẽ công việc của một cán bộ tuyên huấn với nhiều thứ phải lo đã làm cho con người văn học trong ông không còn những bay bổng cần thiết để dành cho sáng tác. Nhưng những gì ông để lại trong thời kỳ sống và viết dưới giá treo cổ những năm 1947 - 1950 đã tạo nên một hình tượng Lý Văn Sâm không thể phai nhạt trên văn đàn. Nói như nhà văn Sơn Nam - một người Nam Bộ viết văn khác, một người mà sau ông gần chục năm cũng lại kiếm sống giữa Sài Gòn bằng nghiệp văn chương, đã nhận xét: “Nếu không có Lý Văn Sâm, văn học ta chịu một thiệt thòi lớn, không gì bù đắp nổi”.

Dù đã đọc văn ông từ lâu, nhưng mãi đến những năm cuối của thập niên tám mươi thế kỷ trước, tôi mới biết về ông - Lý Văn Sâm. Lúc đó ông đã nghỉ hưu, không còn công tác ở Hội Văn nghệ Đồng Nai nữa, mà chỉ còn là hội viên lão thành của Hội Nhà văn thành phố Hồ Chí Minh. Chú Hai Lý thi thoảng cũng ghé Hội, lúc ở 81 Trần Quốc Thảo, quận 3, lúc đến 62 Nguyễn Văn Đậu, quận Bình Thạnh, nói dăm câu ba điều một cách vui vẻ, không câu nệ tuổi tác cách biệt xa vời. Có lẽ ông cũng là nhà văn hội nhập vào cuộc đổi thay khá sớm trong các nhà văn thành phố khi quyết định biến căn villa trên đường Trương Quốc Dung, quận Phú Nhuận của mình thành nhà cho người nước ngoài thuê. Ông bà thu hẹp chỗ ở của mình lại một góc nhà, dành sự rộng lớn của căn villa cho người ngoài ở.

Những năm cuối đời, tuổi già cộng với tai biến đã không cho phép ông vượt qua tuổi tám mươi. Nhưng dù sao ông cũng đã đón được năm đầu tiên của thế kỷ 21 được hơn tám tháng (ông mất ngày 14/9/2000), và sau đó được Nhà nước truy tặng Giải thưởng Nhà nước năm 2006.

Dù làm quan cao chức trọng hay cuối đời làm một nhà văn bình thường thì Lý Văn Sâm vẫn là người một mình kể chuyện đời giữa vòng vây bủa. Và chính những năm tháng ấy đã để lại cho chúng ta một Lý Văn Sâm - nhà văn.

Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 7/2013

Phạm Sỹ Sáu

Các tin khác

Chiến lược An ninh Quốc gia mới, toàn diện là yêu cầu tất yếu của thời đại

Chiến lược An ninh Quốc gia mới, toàn diện là yêu cầu tất yếu của thời đại

Ấn tượng của chúng tôi mỗi lần gặp Trung tướng, GS.TS Nguyễn Xuân Yêm là ông luôn bận rộn và rất nhiều ý tưởng. Trong câu chuyện với phóng viên Chuyên đề An ninh thế giới Giữa tháng - Cuối tháng, ông nói tới những dự định trong việc nghiên cứu, đào tạo và tư vấn chính sách trong lĩnh vực An ninh phi truyền thống.

Nhà báo Lưu Văn Hân, người đổi mới lặng lẽ

Nhà báo Lưu Văn Hân, người đổi mới lặng lẽ

Trên căn hộ tầng thứ 31 của khu nhà chung cư bên tả sông Hồng, gần mé cầu Long Biên, Hà Nội, ở tuổi 90, nhà báo Lưu Văn Hân vừa lục lại trí nhớ để giúp tôi ghi tư liệu, vừa để mắt, trò chuyện với người vợ 86 tuổi đang ốm nặng để giúp bà rèn luyện trí nhớ. Vậy mà ông vẫn rộn ràng câu chuyện, nhớ rành rẽ nhiều chi tiết của những công việc đã qua, những con người gắn bó với ông suốt cuộc đời làm báo.

Đi chênh vênh giữa tin đồn và sự thật

Đi chênh vênh giữa tin đồn và sự thật

Người ngoài nghề thường nghĩ phóng viên mảng nội chính - pháp luật là những người thích nghe chuyện án mạng. Nghĩ thế cũng không sai hẳn. Nhưng, đi lâu mới biết thứ giữ chân họ lâu nhất không phải hung thủ, cũng không phải bản án. Mà là những chi tiết nằm ngoài hồ sơ, những mảnh vụn sự thật vẫn còn ấm hơi người mà không một văn bản tố tụng nào chịu ghi lại.

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Nhiều năm sau khi không còn xuất hiện đều đặn trên sóng truyền hình, Đại tá Nguyễn Thị Mai Thao - Phó giám đốc Truyền hình Công an nhân dân (ANTV) vẫn gặp những người nhận ra mình chỉ bằng giọng nói.

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.