Nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-2017):

“Xin chúc Chủ tịch dũng cảm!”

Từ ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, quân dân Thủ đô đã giữ chân, tiêu hao quân chủ lực Pháp tại Hà Nội cho đến 17-2-1947. Còn ở các địa phương khác, cuộc vây hãm quân Pháp trong các đô thị cũng diễn ra giằng co, quyết liệt đến 90 ngày ở Nam Định, 50 ngày ở Huế và 25 ngày ở Đà Nẵng.

Sau khi chiếm xong Hà Nội, quân Pháp bắt đầu tấn công ra các vùng nông thôn để mở rộng quyền kiểm soát lãnh thổ. Mặc dù kẻ địch hung hãn và hiếu chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì kêu gọi nhà cầm quyền Pháp và bộ máy quân đội Pháp ở Đông Dương ngừng chiến tranh, thực thi những hiệp định hòa bình mà hai chính phủ đã ký kết.

Tháng 3-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho chính phủ, nghị viện và nhân dân Pháp cùng các nước dân chủ trên thế giới để nhắc lại rằng: Nhân dân Việt Nam muốn hòa bình, muốn cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp. Trong lúc đó tại Paris, Paul Ramadier đã lên làm Thủ tướng Pháp và tuyên bố trước Quốc hội Pháp rằng không thể giải quyết vấn đề Đông Dương bằng vũ lực.

Trong buổi tiếp Cao ủy Đông Dương d'Argenlieu, do hai bên mâu thuẫn gay gắt về quan điểm chính trị và vì tính hiếu chiến của viên Cao ủy quá lộ liễu nên Ramadier quyết định thay Cao ủy khác. Emile Bollaert, một cố vấn cộng hòa cấp tiến và là thành viên Hội đồng kháng chiến đã được chọn làm tân Cao ủy Đông Dương.

Ngày 21-3-1947 từ Việt Bắc, Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn độc lập và thống nhất trong khối Liên hiệp Pháp, chúng tôi cam kết tôn trọng quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam"(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường kháng chiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường kháng chiến.

Ngày 1-4-1947, Bollaert đến Sài Gòn. Ngày 19-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tiếp một thông điệp hòa bình cho chính phủ Pháp: "Thủ tướng Ramadier không chống lại độc lập và thống nhất của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đề nghị với chính phủ Pháp ngừng ngay mọi hành động cừu nghịch và mở cuộc đàm phán để giải quyết hòa bình cuộc xung đột"(2).

Ramadier đồng ý để Bollaert và Valluy, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương đặt ra điều kiện ngừng bắn cho chính phủ Việt Nam và Paul Mus đã được chọn lựa để chuyển bức thông điệp này tới chính phủ Việt Nam.

Vốn là một nhà Đông phương học, Paul Mus đã theo cha mẹ đến Việt Nam từ năm 1907 và năm 25 tuổi đã là thành viên của Trường Viễn Đông Bác Cổ, sau khi đi theo chính phủ kháng chiến De Gaulle ở Pháp, Paul Mus nhận nhiệm vụ làm đặc phái viên của chính phủ Pháp tại Đông Dương và ông ta đã nhận thấy sự sa lầy của quân Pháp do tính hiếu chiến của một số quan chức cao cấp, ông ta kể rằng: "Trong những buổi trò chuyện vào năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho tôi chuyển lại cho tướng D'Argenlieu một thông điệp rõ ràng như sau: Nếu nước Pháp dùng Sài Gòn làm tin cho một ván bài khó thì tôi có thể hiểu được chiến lược đó. Nhưng nếu người Pháp muốn thực hiện vết dầu loang thì người Pháp sẽ phải đối mặt với một cuộc quyết tử"(3).

Từ ngày Toàn quốc kháng chiến, các cuộc gặp gỡ giữa ta và Pháp không nhiều, ngoài vài cuộc tiếp xúc giữa đại diện chính phủ ta với với các lãnh sự Mỹ, Anh, Ấn Độ và đại diện Hội chữ thập đỏ quốc tế nhằm giải quyết vấn đề tù binh Pháp.

Ông Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc đó, một người rất thông thạo tiếng Pháp kể lại: "Một ngày đầu tháng 5-1947, có cuộc gặp giữa tôi và lãnh sự Anh Trésor Wilson gần cầu Đuống. Sau mấy phút trao đổi ý kiến về "vấn đề tù binh" và tình hình chung, viên lãnh sự Anh nói: Ông có biết ông Paul Mus không? Ông ấy nói đã có dịp gặp ông ở Hà Nội và đã được yết kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 19-12-1946.

- Có. Đúng như vậy.

- Ông Paul Mus muốn gặp ông. Ông ấy đã đi theo tôi đến phía bên kia cầu Đuống, cách đây độ một km và đang chờ ở đó. Nếu ông đồng ý tiếp, thì ông ấy sẽ đến ngay. Ông ấy nói rằng có một việc rất quan trọng, và ông ấy tha thiết muốn gặp ông. Hiện nay ông ấy là một người giúp việc thân cận, một cố vấn của Cao ủy Emile Bollaert.

Một lát sau, Paul Mus đến. Sau khi chào hỏi, ông ta vào đề ngay:

 - Tôi có một việc rất quan trọng, bí mật và gấp, muốn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi được ủy nhiệm chuyển trực tiếp đến Chủ tịch một thông điệp của Cao ủy Emile Bollaert. Nếu có thể, tôi sẵn sàng đi theo ông ngay bây giờ.

- Rất tiếc. Đi ngay bây giờ thì không được. Tôi sẽ báo cáo với Hồ Chủ tịch. Và tôi sẽ trả lời cho ông biết quyết định của Người. Ông hãy cho biết nên trả lời ông bằng con đường nào, vừa nhanh chóng vừa bảo đảm bí mật?

- Cảm ơn. Đề nghị ông trả lời tôi bằng điện đài.

Paul Mus đọc một câu có nghĩa lóng và nói tiếp:

- Bắt đầu từ ngày kia mỗi buổi sáng, hồi 9 giờ, bộ phận nghe đài của chúng tôi sẽ đón nghe đài của các ông; nghe được câu lóng đó, tôi sẽ đến địa điểm này, đúng giờ hẹn, để được dẫn đến gặp Hồ Chủ tịch và trao trực tiếp bản thông điệp của Cao ủy Emile Bollaert"(4).

Sau khi nghe báo cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý gặp Paul Mus. Người chỉ thị cho đồng chí Phan Mỹ, Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch trực tiếp tổ chức cuộc gặp này tại Thái Nguyên.

Để đề phòng tình huống xấu nhất có thể xảy ra, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh và Lê Giản, Giám đốc Nha Công an Trung ương đã bàn kế hoạch phối hợp lực lượng bảo vệ an toàn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tiểu đoàn Vệ quốc quân tinh nhuệ, trang bị vũ khí tốt nhất về ém quân tại một địa điểm bí mật gần nơi diễn ra cuộc gặp gỡ.

Lực lượng cảnh vệ và một trung đội vệ quốc đoàn được tăng cường trên dọc tuyến đường từ Định Hóa về thị xã Thái Nguyên. Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ sử dụng chiếc xe Ford V8, trên xe chỉ có hai bảo vệ tiếp cận là Nguyễn Văn Lý và Long Văn Nhất tháp tùng Người.

Tại địa điểm được chọn cho cuộc gặp gỡ, một số trinh sát có kinh nghiệm đối phó với mật thám Pháp đã tiến hành làm sạch địa bàn và thường xuyên quan sát những hiện tượng điều binh bất thường của phía Pháp. Thị xã Thái Nguyên lúc đó đã tản cư triệt để và tiêu thổ kháng chiến. Các đồng chí bảo vệ tìm được một ngôi nhà không nguyên vẹn nhưng cũng còn được một gian phòng tương đối tốt, có bàn và ghế, có thể dùng làm nơi tiếp phái viên của Emile Bollaert.

Bìa một cuốn sách viết về Paul Mus.
Bìa một cuốn sách viết về Paul Mus.

Cố vấn đặc biệt, phái viên Paul Mus nhớ lại lúc đó Bộ trưởng Bộ chiến tranh của Pháp nhận định "vấn đề quân sự ở Đông Dương có thể coi như xong rồi", một nhân vật quan trọng trong chính giới Pháp cũng khẳng định: Chỉ ba tuần nữa thôi mọi điều sẽ được giải quyết tốt, miễn là không đặt vấn đề đàm phán. Chẳng bao lâu nữa cuộc "kháng chiến của Việt Nam "sẽ bị đè bẹp, cho nên: "Chuyến công tác của tôi vào tháng 5-1947 không có sự bảo vệ về mặt ngoại giao. Tôi là người chuyển thông điệp bằng lời, trong đó nước Pháp ra điều kiện để ngừng chiến theo đề nghị của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những điều kiện đó là: Quân đội Việt Nam phải trao nộp tất cả vũ khí; quân đội Pháp được quyền di chuyển tự do trên toàn lãnh thổ Việt Nam; quân đội Việt Nam phải được tập trung vào một số địa điểm xác định; trao trả lại các con tin người Pháp và người Việt; giao lại cho phía Pháp vô điều kiện những người không phải là người Pháp đang ở cùng người Việt và phía Pháp không đưa ra chi tiết về những dự định đối với những người này"(5).

Ngày 12-5-1947, vào lúc 22 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Paul Mus tại Thái Nguyên. Ông Hoàng Minh Giám ghi trong hồi ký: "Sau khi nghe những điều kiện láo xược đó của Cao ủy Pháp, Hồ Chủ tịch nghiêm nét mặt, nhưng bình tĩnh và giọng nói ôn tồn, Người hỏi:

- Ông Paul Mus, tôi biết ông đã tham gia cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống Hitler, điều đó có đúng không?

- Thưa Chủ tịch, đúng.

- Vậy thì ông hãy trả lời tôi: Nếu ở địa vị tôi, ông sẽ có thái độ thế nào đối với bản thông điệp của ông Emile Bollaert? Ông có nhận những điều kiện đó không?

Paul Mus lúng túng. Bác nói tiếp:

- Tôi nghe nói ông Emile Bollaert cũng đã tham gia cuộc kháng chiến chống Hitler và có thành tích. Những điều kiện ông ấy đưa ra để ngừng bắn có nghĩa gì? Có nghĩa là ông ấy đòi chúng tôi phải đầu hàng. Ông Paul Mus, bản thân ông có nghĩ rằng chúng tôi có thể đầu hàng không?

Lại còn điều kiện liên quan đến những người nước ngoài đứng trong hàng ngũ kháng chiến Việt Nam chống thực dân Pháp. Phải là một con người hèn mạt mới chấp nhận điều đó. Nếu tôi chấp nhận, tôi là kẻ "hèn mạt". Và tôi nghĩ rằng trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn mạt.

Paul Mus im lặng, gật đầu, tỏ ý đồng tình. Rồi nói:

- Tôi hiểu, thưa Chủ tịch, tôi hiểu …

Thế rồi không ai nói đến bản thông điệp nữa. Bác giải thích về lập trường của Chính phủ và nhân dân ta: Yêu chuộng hòa bình, muốn có quan hệ tốt với nhân dân Pháp, nhưng kiên quyết kháng chiến để bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc mình. Paul Mus thừa nhận rằng đó là những tình cảm và ý chí chính đáng, hứa sẽ báo cáo với Cao uỷ Emile Bollaert những ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Paul Mus cũng thú nhận đã được thấy tận mắt quang cảnh thị xã Thái Nguyên "đã tiêu thổ kháng chiến", ông ta rất khâm phục lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Ông ta chúc sức khỏe Bác, và lúc chào từ biệt, tỏ ra cảm động thực sự. Lời cuối cùng của ông ta lúc ra về là:

- Chúc Chủ tịch dũng cảm!

Bác đáp lại:

- Luôn luôn! Tất nhiên!

Một sự việc nhỏ có lẽ đã làm cho Paul Mus ngạc nhiên: Khi cuộc tiếp kiến kết thúc, các đồng chí phục vụ đã bưng ra mấy cốc rượu sâm-banh để Bác mời khách uống trước khi ông ta rút lui vào bóng tối của đêm khuya.

Khi Paul Mus ra về rồi, Bác và chúng tôi còn ngồi lại khoảng một tiếng nữa để đợi ông ta đi xa rồi mới về nơi ở. Lúc đó, vào khoảng một giờ sáng, Bác không về chỗ ở của mình mà về Sơn Dương, chỗ cơ quan Bộ Ngoại giao. Việc Bác từ nơi nào đến gặp Paul Mus, ngoài anh Phan Mỹ thì không ai biết cả.

Cuốn sách "Việt Nam, xã hội học một cuộc chiến tranh".
Cuốn sách "Việt Nam, xã hội học một cuộc chiến tranh".

Bác bảo tôi: "Bây giờ chú về với tôi bằng xe com-măng-ca". Lúc đó xe đã đợi sẵn ở đó, theo sự bố trí của anh Phan Mỹ. Chúng tôi đi xe đến đèo Khế thì trời bắt đầu sáng. Bác bảo chúng tôi: "Thôi, chúng ta xuống đi bộ, vì nếu đi xe, máy bay địch dễ phát hiện".

Tôi và Bác đi bộ về khu tự do Sơn Dương và ghé vào chỗ Bộ Ngoại giao. Tôi hứa với Bác là sẽ nhớ và viết lại lời của bức thông điệp mà Emile Bollaert gửi Bác qua Paul Mus. Hai ngày sau, tôi gửi bài viết đó cho Văn phòng của Bác"(6).

Sau khi nghe Paul Mus trở về báo cáo, Bollaert đã  gấp rút chuẩn bị một chiến dịch quân sự lớn vào mùa khô. Còn Paul Mus kể lại cảm nghĩ của mình với bạn bè về ấn tượng tiêu thổ kháng chiến: "Tôi vừa sửng sốt, vừa khâm phục những người dân đã tự tay phá sập nhà mình. Khó có sức mạnh nào khuất phục nổi một dân tộc có tinh thần hy sinh như vậy"(7).

Lúc 20h ngày 15-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp Hội đồng chính phủ để thông báo về cuộc gặp với Paul Mus. Mấy ngày sau Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ra sức kháng chiến, đánh giặc và khẳng định: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Việt Nam thống nhất, độc lập muôn năm!"(8).

Năm năm sau, trong quyển sách "Việt Nam, xã hội học một cuộc chiến tranh", Paul Mus phê phán nội dung của bản thông điệp mà ông ta đã có trách nhiệm chuyển đến Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thị xã Thái Nguyên.

Cuối cùng thì Paul Mus đã kết luận rằng: "Những người phương Tây chúng ta đã ra sức ngăn cản chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam bởi vì họ coi đó là một thứ ảnh hưởng chính trị phi pháp, có thể và cần phải thủ tiêu bằng vũ lực. Thế nhưng, lịch sử đã chứng minh những người cộng sản Việt Nam đã tạo ra sức mạnh của mình, kiên quyết lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độc lập, dẫn đến việc thủ tiêu chủ nghĩa thực dân và xây dựng một nước Việt Nam thống nhất. Độc lập dân tộc là một lý tưởng không bao giờ tách rời tâm trí người Việt Nam"(9).

* Ghi chú

1, Chiến đấu trong vòng vây. Nxb Quân đội nhân dân 2001, tr 103

2, Paris-Sài Gòn-Hà Nội. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 2003, tr 408

3, Thông tin xã hội học 3/99 năm 2007, tr 133

4, Hoàng Minh Giám - Người con của thế hệ vàng. Nxb Chính trị quốc gia 2013

5, Thông tin xã hội học 3/99 năm 2007, tr 135

6, Hoàng Minh Giám - Người con của thế hệ vàng. Nxb Chính trị quốc gia 2013

7, Trận đánh 30 năm. Nxb Quân đội nhân dân 2005, tr 158

8, Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia 2011. Tập V, tr 150

9, Thông tin xã hội học 3/99 năm 2007, tr 139

Đỗ Hoàng Linh (PGĐ Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch)

Đ.H.L.

Các tin khác

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Voi luôn là biểu tượng của sức mạnh, sự hiền hòa và mối quan hệ gắn kết giữa con người với thiên nhiên. Sự nỗ lực bảo tồn của các cấp ngành và người dân suốt nhiều năm đang giúp hồi sinh biểu tượng của một vùng đất nhiều huyền thoại.

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kéo dài suốt 10 năm với rất nhiều công sức chuẩn bị, đầu tư con người, trang bị vũ khí tối tân nhất, tuy nhiên, CIA chỉ nhận được những bản báo cáo giả; chi viện lực lượng, vũ khí theo kế hoạch của an ninh miền Bắc.

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Thắng lợi của Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc chặng đường 21 trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Góp phần đặc biệt quan trọng làm nên thành công đó phải kể đến những đóng góp thầm lặng của CBCS Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam - Đơn vị tiền thân của Phòng Bảo vệ 180 (Phòng Cảnh vệ miền Nam), Bộ Tư lệnh Cảnh vệ ngày nay.

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

10 năm chịu đòn tra tấn trong ngục tù, 10 năm chờ đợi một tình yêu, đất nước được giải phóng, họ nên duyên vợ chồng. Đó là câu chuyện về một thế hệ yêu nhau thủy chung trong gian khó. Tình yêu của họ chưa bao giờ tách rời tình yêu Tổ quốc...

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Phòng quản lý xuất, nhập cảnh Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp chặt chẽ với Phòng An ninh điều tra và Công an các xã (đặc biệt là tuyến biên giới), đồn biên phòng siết chặt quản lý lưu trú và quản lý xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu, phối hợp tuần tra, kiểm soát. Chỉ trong thời gian từ đầu tháng 5 đến nay, các đơn vị phối hợp đã kịp thời phát hiện, xử lý hàng trăm đối tượng vi phạm pháp luật, ngăn chặn hàng trăm trường hợp không đủ điều kiện nhập cảnh vào trong nước, bắt giữ hàng chục đối tượng có tiền án giao cho Công an các địa phương xử lý theo pháp luật; khởi tố nhiều băng nhóm tổ chức cho người nước ngoài nhập cảnh và lưu trú trái phép…

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Sau khi khuất phục được toán Castor và Phạm Chuyên, Ban Chuyên án quyết định triển khai “trò chơi nghiệp vụ” khi cho Phạm Chuyên và Lò Văn Piếng lên máy liên lạc vào Nam, một cuộc chiến qua sóng điện đài chính thức bắt đầu.

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi những con suối reo vang hòa cùng tiếng gió ngàn của xã biên giới Avương (Đà Nẵng), có một “ngọn núi lớn” trong lòng đồng bào Cơ Tu. Đó là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Arất Blư. Ở tuổi 88, đôi chân ấy có thể đã chậm, mái đầu đã bạc trắng như sương sớm, nhưng ký ức về một thời hoa lửa và cái tâm sáng của một người Cộng sản vẫn rực cháy như ngọn lửa thiêng giữa nhà Gươl.

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trải qua những trận đánh giữa lòng Sài Gòn, nếm đủ đòn roi tra tấn thảm khốc trong lao tù, ông dường như đã chai sạn trước cái chết. Bản lĩnh của một cựu tù Côn Đảo trở về từ “địa ngục trần gian” giúp ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Trưởng Công an xã những ngày mới giải phóng.

Cổ phục Việt góp phần thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Cổ phục Việt - Từ bảo tàng ra phố

Từ những hiện vật lặng lẽ trong bảo tàng đến các không gian văn hóa, di tích và mạng xã hội, cổ phục Việt đang có một hành trình trở lại đầy ấn tượng. Sự hồi sinh ấy đến từ những con người đang biến cổ phục thành chiếc cầu nối với quá khứ, để di sản không dừng lại ở ký ức mà tiếp tục sống trong hiện tại bằng những cách rất mới.

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Trong những ngày tháng Bảy tri ân, khi cả dân tộc đang hướng về Ngày thương binh - liệt sĩ (27/7) với tấm lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, tại tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Công an tỉnh đang triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ với tất cả sự khẩn trương, trách nhiệm và lòng thành kính. Những giọt máu, những mẫu sinh phẩm được lấy đi không chỉ là dữ liệu khoa học, mà là niềm hy vọng, nhóm lên ngọn lửa đoàn tụ cho biết bao gia đình mòn mỏi đợi chờ suốt nhiều thập kỷ qua.

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Lịch sử Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại thường được ghi dấu bằng những trận đánh lớn và tên tuổi của các anh hùng. Nhưng phía sau những tấm bản đồ chiến dịch đồ sộ là sự cống hiến và chiến công của hàng triệu con người. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày phát xít Đức tấn công Liên Xô (22/6/1941 - 22/6/2026), xin trân trọng giới thiệu câu chuyện về người lính cận vệ Semyon Lyulko - một mảnh ghép bình dị góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại.

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Một ứng dụng nhắc giờ cầu nguyện ở Iran bất ngờ phát đi thông điệp kêu gọi buông vũ khí giữa lúc chiến sự leo thang. Vụ việc cho thấy chiến tranh hiện đại không chỉ đánh vào căn cứ quân sự hay mạng lưới chỉ huy, mà còn len vào những không gian riêng tư nhất của đời sống số: màn hình điện thoại, thói quen hằng ngày và cả niềm tin tôn giáo.

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Đêm 29/1/1753, Elizabeth Canning, một cô hầu gái 18 tuổi ở London, trở về nhà sau 28 ngày mất tích. Người cô gầy rộc, chân không giày, đầu quấn một mảnh vải thấm máu. Cô kể rằng mình bị cướp, rồi bị đưa đến một căn nhà ở Enfield Wash, bị một phụ nữ người Romani nhốt trên gác xép suốt gần một tháng. Lời khai ấy khiến một người bị kết án tử hình, chia London thành hai phe và cuối cùng đưa chính Elizabeth ra tòa vì tội khai man.

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

27 chuyên án. Gần 1.000 tên gián điệp biệt kích bị bắt, tiêu diệt. Hàng trăm tấn vũ khí, thuốc men, nhu yếu phẩm bị thu giữ. Và CIA, trong suốt hơn 10 năm đó, không biết mình đã thua. Tất cả bắt đầu từ 4 người ngồi trong khoang tối của chiếc C-47.

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Chuyện xảy ra cách đây trên 40 năm trên miền đất cực Nam Tổ quốc tại Hòn Đá Bạc, thuộc xã Bình Khánh Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, trở thành huyền thoại và chiến công của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

 Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Ngày 22/8/1954, 16 người rời Hải Phòng. Họ xuống tàu ra vịnh Hạ Long, lên chiến hạm 125 của Pháp, nhìn bờ biển Việt Nam nhạt dần phía sau mạn tàu. Một tuần trên biển. Rồi đảo Okinawa, nơi nhân viên tình báo Mỹ chờ sẵn để khám sức khỏe, lấy lý lịch, loại bớt 3 người không đủ tiêu chuẩn. Số còn lại lên máy bay chở thẳng đến đảo Guam ngoài khơi Thái Bình Dương.

Những hồ sơ cùng được giải mã

Những hồ sơ cùng được giải mã

Trung tuần tháng 3/2025, Mỹ đã công bố những tài liệu cuối cùng liên quan đến vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy tại Dallas năm 1963. Nhân sự kiện trên, tạp chí Chuyện xứ người (ODC) Mỹ cập nhật nhiều hồ sơ còn “thú vị hơn” cả vụ ám sát JKF đã được CIA giải mã “toàn tập”.

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Vừa tiếp giáp với trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước đó là TP Hồ Chí Minh, lại có gần 369km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia nên Tây Ninh luôn tiềm ẩn phức tạp do các đối tượng tội phạm luôn rình rập tuồn ma túy qua biên giới để tiêu thụ tại chỗ và trung chuyển đến các tỉnh thành lân cận tiêu thụ.