Nhân kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19-5-1890 – 19-5-2017):

“Xin chúc Chủ tịch dũng cảm!”

Từ ngày Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946, quân dân Thủ đô đã giữ chân, tiêu hao quân chủ lực Pháp tại Hà Nội cho đến 17-2-1947. Còn ở các địa phương khác, cuộc vây hãm quân Pháp trong các đô thị cũng diễn ra giằng co, quyết liệt đến 90 ngày ở Nam Định, 50 ngày ở Huế và 25 ngày ở Đà Nẵng.

Sau khi chiếm xong Hà Nội, quân Pháp bắt đầu tấn công ra các vùng nông thôn để mở rộng quyền kiểm soát lãnh thổ. Mặc dù kẻ địch hung hãn và hiếu chiến, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn kiên trì kêu gọi nhà cầm quyền Pháp và bộ máy quân đội Pháp ở Đông Dương ngừng chiến tranh, thực thi những hiệp định hòa bình mà hai chính phủ đã ký kết.

Tháng 3-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho chính phủ, nghị viện và nhân dân Pháp cùng các nước dân chủ trên thế giới để nhắc lại rằng: Nhân dân Việt Nam muốn hòa bình, muốn cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp. Trong lúc đó tại Paris, Paul Ramadier đã lên làm Thủ tướng Pháp và tuyên bố trước Quốc hội Pháp rằng không thể giải quyết vấn đề Đông Dương bằng vũ lực.

Trong buổi tiếp Cao ủy Đông Dương d'Argenlieu, do hai bên mâu thuẫn gay gắt về quan điểm chính trị và vì tính hiếu chiến của viên Cao ủy quá lộ liễu nên Ramadier quyết định thay Cao ủy khác. Emile Bollaert, một cố vấn cộng hòa cấp tiến và là thành viên Hội đồng kháng chiến đã được chọn làm tân Cao ủy Đông Dương.

Ngày 21-3-1947 từ Việt Bắc, Đài Tiếng nói Việt Nam truyền đi lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Chúng tôi trịnh trọng tuyên bố rằng nhân dân Việt Nam chỉ mong muốn độc lập và thống nhất trong khối Liên hiệp Pháp, chúng tôi cam kết tôn trọng quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam"(1).

Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường kháng chiến.
Chủ tịch Hồ Chí Minh trên đường kháng chiến.

Ngày 1-4-1947, Bollaert đến Sài Gòn. Ngày 19-4-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi tiếp một thông điệp hòa bình cho chính phủ Pháp: "Thủ tướng Ramadier không chống lại độc lập và thống nhất của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam đề nghị với chính phủ Pháp ngừng ngay mọi hành động cừu nghịch và mở cuộc đàm phán để giải quyết hòa bình cuộc xung đột"(2).

Ramadier đồng ý để Bollaert và Valluy, Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Đông Dương đặt ra điều kiện ngừng bắn cho chính phủ Việt Nam và Paul Mus đã được chọn lựa để chuyển bức thông điệp này tới chính phủ Việt Nam.

Vốn là một nhà Đông phương học, Paul Mus đã theo cha mẹ đến Việt Nam từ năm 1907 và năm 25 tuổi đã là thành viên của Trường Viễn Đông Bác Cổ, sau khi đi theo chính phủ kháng chiến De Gaulle ở Pháp, Paul Mus nhận nhiệm vụ làm đặc phái viên của chính phủ Pháp tại Đông Dương và ông ta đã nhận thấy sự sa lầy của quân Pháp do tính hiếu chiến của một số quan chức cao cấp, ông ta kể rằng: "Trong những buổi trò chuyện vào năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã giao cho tôi chuyển lại cho tướng D'Argenlieu một thông điệp rõ ràng như sau: Nếu nước Pháp dùng Sài Gòn làm tin cho một ván bài khó thì tôi có thể hiểu được chiến lược đó. Nhưng nếu người Pháp muốn thực hiện vết dầu loang thì người Pháp sẽ phải đối mặt với một cuộc quyết tử"(3).

Từ ngày Toàn quốc kháng chiến, các cuộc gặp gỡ giữa ta và Pháp không nhiều, ngoài vài cuộc tiếp xúc giữa đại diện chính phủ ta với với các lãnh sự Mỹ, Anh, Ấn Độ và đại diện Hội chữ thập đỏ quốc tế nhằm giải quyết vấn đề tù binh Pháp.

Ông Hoàng Minh Giám, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao lúc đó, một người rất thông thạo tiếng Pháp kể lại: "Một ngày đầu tháng 5-1947, có cuộc gặp giữa tôi và lãnh sự Anh Trésor Wilson gần cầu Đuống. Sau mấy phút trao đổi ý kiến về "vấn đề tù binh" và tình hình chung, viên lãnh sự Anh nói: Ông có biết ông Paul Mus không? Ông ấy nói đã có dịp gặp ông ở Hà Nội và đã được yết kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh trước ngày 19-12-1946.

- Có. Đúng như vậy.

- Ông Paul Mus muốn gặp ông. Ông ấy đã đi theo tôi đến phía bên kia cầu Đuống, cách đây độ một km và đang chờ ở đó. Nếu ông đồng ý tiếp, thì ông ấy sẽ đến ngay. Ông ấy nói rằng có một việc rất quan trọng, và ông ấy tha thiết muốn gặp ông. Hiện nay ông ấy là một người giúp việc thân cận, một cố vấn của Cao ủy Emile Bollaert.

Một lát sau, Paul Mus đến. Sau khi chào hỏi, ông ta vào đề ngay:

 - Tôi có một việc rất quan trọng, bí mật và gấp, muốn được gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tôi được ủy nhiệm chuyển trực tiếp đến Chủ tịch một thông điệp của Cao ủy Emile Bollaert. Nếu có thể, tôi sẵn sàng đi theo ông ngay bây giờ.

- Rất tiếc. Đi ngay bây giờ thì không được. Tôi sẽ báo cáo với Hồ Chủ tịch. Và tôi sẽ trả lời cho ông biết quyết định của Người. Ông hãy cho biết nên trả lời ông bằng con đường nào, vừa nhanh chóng vừa bảo đảm bí mật?

- Cảm ơn. Đề nghị ông trả lời tôi bằng điện đài.

Paul Mus đọc một câu có nghĩa lóng và nói tiếp:

- Bắt đầu từ ngày kia mỗi buổi sáng, hồi 9 giờ, bộ phận nghe đài của chúng tôi sẽ đón nghe đài của các ông; nghe được câu lóng đó, tôi sẽ đến địa điểm này, đúng giờ hẹn, để được dẫn đến gặp Hồ Chủ tịch và trao trực tiếp bản thông điệp của Cao ủy Emile Bollaert"(4).

Sau khi nghe báo cáo, Chủ tịch Hồ Chí Minh đồng ý gặp Paul Mus. Người chỉ thị cho đồng chí Phan Mỹ, Chánh văn phòng Phủ Chủ tịch trực tiếp tổ chức cuộc gặp này tại Thái Nguyên.

Để đề phòng tình huống xấu nhất có thể xảy ra, các đồng chí Võ Nguyên Giáp, Trần Đăng Ninh và Lê Giản, Giám đốc Nha Công an Trung ương đã bàn kế hoạch phối hợp lực lượng bảo vệ an toàn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh. Một tiểu đoàn Vệ quốc quân tinh nhuệ, trang bị vũ khí tốt nhất về ém quân tại một địa điểm bí mật gần nơi diễn ra cuộc gặp gỡ.

Lực lượng cảnh vệ và một trung đội vệ quốc đoàn được tăng cường trên dọc tuyến đường từ Định Hóa về thị xã Thái Nguyên. Chủ tịch Hồ Chí Minh sẽ sử dụng chiếc xe Ford V8, trên xe chỉ có hai bảo vệ tiếp cận là Nguyễn Văn Lý và Long Văn Nhất tháp tùng Người.

Tại địa điểm được chọn cho cuộc gặp gỡ, một số trinh sát có kinh nghiệm đối phó với mật thám Pháp đã tiến hành làm sạch địa bàn và thường xuyên quan sát những hiện tượng điều binh bất thường của phía Pháp. Thị xã Thái Nguyên lúc đó đã tản cư triệt để và tiêu thổ kháng chiến. Các đồng chí bảo vệ tìm được một ngôi nhà không nguyên vẹn nhưng cũng còn được một gian phòng tương đối tốt, có bàn và ghế, có thể dùng làm nơi tiếp phái viên của Emile Bollaert.

Bìa một cuốn sách viết về Paul Mus.
Bìa một cuốn sách viết về Paul Mus.

Cố vấn đặc biệt, phái viên Paul Mus nhớ lại lúc đó Bộ trưởng Bộ chiến tranh của Pháp nhận định "vấn đề quân sự ở Đông Dương có thể coi như xong rồi", một nhân vật quan trọng trong chính giới Pháp cũng khẳng định: Chỉ ba tuần nữa thôi mọi điều sẽ được giải quyết tốt, miễn là không đặt vấn đề đàm phán. Chẳng bao lâu nữa cuộc "kháng chiến của Việt Nam "sẽ bị đè bẹp, cho nên: "Chuyến công tác của tôi vào tháng 5-1947 không có sự bảo vệ về mặt ngoại giao. Tôi là người chuyển thông điệp bằng lời, trong đó nước Pháp ra điều kiện để ngừng chiến theo đề nghị của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những điều kiện đó là: Quân đội Việt Nam phải trao nộp tất cả vũ khí; quân đội Pháp được quyền di chuyển tự do trên toàn lãnh thổ Việt Nam; quân đội Việt Nam phải được tập trung vào một số địa điểm xác định; trao trả lại các con tin người Pháp và người Việt; giao lại cho phía Pháp vô điều kiện những người không phải là người Pháp đang ở cùng người Việt và phía Pháp không đưa ra chi tiết về những dự định đối với những người này"(5).

Ngày 12-5-1947, vào lúc 22 giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp Paul Mus tại Thái Nguyên. Ông Hoàng Minh Giám ghi trong hồi ký: "Sau khi nghe những điều kiện láo xược đó của Cao ủy Pháp, Hồ Chủ tịch nghiêm nét mặt, nhưng bình tĩnh và giọng nói ôn tồn, Người hỏi:

- Ông Paul Mus, tôi biết ông đã tham gia cuộc kháng chiến của nhân dân Pháp chống Hitler, điều đó có đúng không?

- Thưa Chủ tịch, đúng.

- Vậy thì ông hãy trả lời tôi: Nếu ở địa vị tôi, ông sẽ có thái độ thế nào đối với bản thông điệp của ông Emile Bollaert? Ông có nhận những điều kiện đó không?

Paul Mus lúng túng. Bác nói tiếp:

- Tôi nghe nói ông Emile Bollaert cũng đã tham gia cuộc kháng chiến chống Hitler và có thành tích. Những điều kiện ông ấy đưa ra để ngừng bắn có nghĩa gì? Có nghĩa là ông ấy đòi chúng tôi phải đầu hàng. Ông Paul Mus, bản thân ông có nghĩ rằng chúng tôi có thể đầu hàng không?

Lại còn điều kiện liên quan đến những người nước ngoài đứng trong hàng ngũ kháng chiến Việt Nam chống thực dân Pháp. Phải là một con người hèn mạt mới chấp nhận điều đó. Nếu tôi chấp nhận, tôi là kẻ "hèn mạt". Và tôi nghĩ rằng trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn mạt.

Paul Mus im lặng, gật đầu, tỏ ý đồng tình. Rồi nói:

- Tôi hiểu, thưa Chủ tịch, tôi hiểu …

Thế rồi không ai nói đến bản thông điệp nữa. Bác giải thích về lập trường của Chính phủ và nhân dân ta: Yêu chuộng hòa bình, muốn có quan hệ tốt với nhân dân Pháp, nhưng kiên quyết kháng chiến để bảo vệ độc lập và thống nhất của Tổ quốc mình. Paul Mus thừa nhận rằng đó là những tình cảm và ý chí chính đáng, hứa sẽ báo cáo với Cao uỷ Emile Bollaert những ý kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Paul Mus cũng thú nhận đã được thấy tận mắt quang cảnh thị xã Thái Nguyên "đã tiêu thổ kháng chiến", ông ta rất khâm phục lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Ông ta chúc sức khỏe Bác, và lúc chào từ biệt, tỏ ra cảm động thực sự. Lời cuối cùng của ông ta lúc ra về là:

- Chúc Chủ tịch dũng cảm!

Bác đáp lại:

- Luôn luôn! Tất nhiên!

Một sự việc nhỏ có lẽ đã làm cho Paul Mus ngạc nhiên: Khi cuộc tiếp kiến kết thúc, các đồng chí phục vụ đã bưng ra mấy cốc rượu sâm-banh để Bác mời khách uống trước khi ông ta rút lui vào bóng tối của đêm khuya.

Khi Paul Mus ra về rồi, Bác và chúng tôi còn ngồi lại khoảng một tiếng nữa để đợi ông ta đi xa rồi mới về nơi ở. Lúc đó, vào khoảng một giờ sáng, Bác không về chỗ ở của mình mà về Sơn Dương, chỗ cơ quan Bộ Ngoại giao. Việc Bác từ nơi nào đến gặp Paul Mus, ngoài anh Phan Mỹ thì không ai biết cả.

Cuốn sách "Việt Nam, xã hội học một cuộc chiến tranh".
Cuốn sách "Việt Nam, xã hội học một cuộc chiến tranh".

Bác bảo tôi: "Bây giờ chú về với tôi bằng xe com-măng-ca". Lúc đó xe đã đợi sẵn ở đó, theo sự bố trí của anh Phan Mỹ. Chúng tôi đi xe đến đèo Khế thì trời bắt đầu sáng. Bác bảo chúng tôi: "Thôi, chúng ta xuống đi bộ, vì nếu đi xe, máy bay địch dễ phát hiện".

Tôi và Bác đi bộ về khu tự do Sơn Dương và ghé vào chỗ Bộ Ngoại giao. Tôi hứa với Bác là sẽ nhớ và viết lại lời của bức thông điệp mà Emile Bollaert gửi Bác qua Paul Mus. Hai ngày sau, tôi gửi bài viết đó cho Văn phòng của Bác"(6).

Sau khi nghe Paul Mus trở về báo cáo, Bollaert đã  gấp rút chuẩn bị một chiến dịch quân sự lớn vào mùa khô. Còn Paul Mus kể lại cảm nghĩ của mình với bạn bè về ấn tượng tiêu thổ kháng chiến: "Tôi vừa sửng sốt, vừa khâm phục những người dân đã tự tay phá sập nhà mình. Khó có sức mạnh nào khuất phục nổi một dân tộc có tinh thần hy sinh như vậy"(7).

Lúc 20h ngày 15-5-1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ tọa phiên họp Hội đồng chính phủ để thông báo về cuộc gặp với Paul Mus. Mấy ngày sau Người kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước ra sức kháng chiến, đánh giặc và khẳng định: "Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi. Việt Nam thống nhất, độc lập muôn năm!"(8).

Năm năm sau, trong quyển sách "Việt Nam, xã hội học một cuộc chiến tranh", Paul Mus phê phán nội dung của bản thông điệp mà ông ta đã có trách nhiệm chuyển đến Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thị xã Thái Nguyên.

Cuối cùng thì Paul Mus đã kết luận rằng: "Những người phương Tây chúng ta đã ra sức ngăn cản chủ nghĩa cộng sản ở Việt Nam bởi vì họ coi đó là một thứ ảnh hưởng chính trị phi pháp, có thể và cần phải thủ tiêu bằng vũ lực. Thế nhưng, lịch sử đã chứng minh những người cộng sản Việt Nam đã tạo ra sức mạnh của mình, kiên quyết lãnh đạo phong trào đấu tranh giành độc lập, dẫn đến việc thủ tiêu chủ nghĩa thực dân và xây dựng một nước Việt Nam thống nhất. Độc lập dân tộc là một lý tưởng không bao giờ tách rời tâm trí người Việt Nam"(9).

* Ghi chú

1, Chiến đấu trong vòng vây. Nxb Quân đội nhân dân 2001, tr 103

2, Paris-Sài Gòn-Hà Nội. Nxb Thành phố Hồ Chí Minh 2003, tr 408

3, Thông tin xã hội học 3/99 năm 2007, tr 133

4, Hoàng Minh Giám - Người con của thế hệ vàng. Nxb Chính trị quốc gia 2013

5, Thông tin xã hội học 3/99 năm 2007, tr 135

6, Hoàng Minh Giám - Người con của thế hệ vàng. Nxb Chính trị quốc gia 2013

7, Trận đánh 30 năm. Nxb Quân đội nhân dân 2005, tr 158

8, Hồ Chí Minh toàn tập. Nxb Chính trị quốc gia 2011. Tập V, tr 150

9, Thông tin xã hội học 3/99 năm 2007, tr 139

Đỗ Hoàng Linh (PGĐ Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch)

Đ.H.L.

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.