William Sebold - điệp viên hai mang lẫy lừng của FBI

Làm thế nào một kỹ sư dân sự trở thành điệp viên hai mang trong Chiến tranh thế giới lần 2 và ngăn chặn hiệu quả mạng lưới gián điệp Duquesne của Đức quốc xã ngay trong lòng nước Mỹ?

William Sebold không bao giờ lên kế hoạch trở thành một điệp viên, nhưng số phận luôn có những kế hoạch khác nhau dành cho mỗi người cụ thể. Và số mệnh lịch sử đã đặt lên vai William Sebold.

William Sebold là ai?

William Sebol sinh ra ở Đức và chiến đấu cho Đức trong Thế chiến I, nhưng trở thành công dân Mỹ nhập tịch sau khi sống và làm việc ở Mỹ trong nhiều năm. Tuy nhiên, vào đêm trước Chiến tranh thế giới lần 2, Đức Quốc xã đã ép buộc Sebold gián điệp tại các nhà máy sản xuất của Mỹ.

Sau đó, Sebold lật ngược tình thế, bí mật liên kết với Mỹ và bắt đầu hạ gục các điệp viên Đức Quốc xã. Hơn 60 năm sau, di sản của Sebold luôn được người Mỹ ghi nhớ với tư cách là điệp viên hai mang đã đánh sập mạng lưới gián điệp Đức Quốc xã lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.

William Sebold và vợ.
William Sebold và vợ.

William Sebold - sinh năm 1899 tại Mülheim, Đức - di cư sang Mỹ ở tuổi 22, chỉ 3 năm sau khi phục vụ trong quân đội Đức trong Thế chiến I. Đó là năm 1921, và nền kinh tế Mỹ đang bùng nổ. Sebold tìm được công việc tại nhà máy sản xuất máy bay công nghiệp đang phát triển của Mỹ, nơi ông có được cái nhìn nội bộ về hoạt động sản xuất của Mỹ.

Đến năm 1936, Sebold trở thành công dân nhập tịch Mỹ. Đất nước quê hương Sebold đang rơi vào tay Adolf Hitler, nhưng ông không muốn trở thành một phần trong đó. Tuy nhiên, Sebold đã trở lại Đức vào tháng 2-1939 để thăm mẹ của mình ở Mülheim.

Nước Đức lúc bấy giờ đang trên bờ vực chiến tranh: Hitler yêu cầu Tiệp Khắc giảm quy mô quân đội và loại bỏ người Do Thái; Đức Quốc xã thành lập Văn phòng Trung ương Quốc gia về người Do thái Di cư, và Hitler tuyên bố sẽ loại bỏ người Do Thái nếu “các nhà tài chính Do Thái quốc tế” đe dọa một cuộc chiến tranh thế giới khác.

Khi trở về quê hương vào năm 1939, Sebold cảm thấy như mình đang đến một nước Đức rất khác so với nơi ông đã rời đi vào đầu thập niên 1920 - một thực tế mà ông phải đối mặt ngay lập tức. Một thành viên của cơ quan mật vụ Đức Quốc xã Gestapo nói với Sebold ngay tại sân bay Hamburg rằng ông sẽ được Gestapo liên lạc trong tương lai gần. Sebold lưu ý điều đó, và sau đó tiếp tục về quê nhà, nơi anh tìm được việc làm.

Bất chấp cuộc gặp mặt với người đàn ông bí ẩn tại sân bay, Sebold sống ở Mülheim mà không gặp sự cố nào cho đến tháng 9-1939. Đến lúc đó, Đức Quốc xã đã xâm chiếm Tiệp Khắc và sáp nhập các phần của Litva. Hitler đã bắt đầu một chương trình “euthanasia” (chết không gây đau đớn), và buộc người Do Thái vào các trại tập trung. Và sau đó, Đức xâm chiếm Ba Lan, châm ngòi cho cuộc chiến tranh thế giới.

Không lâu sau, một người đàn ông được xác định là Tiến sĩ Gassner đã tới Mülheim và thẩm vấn Sebold về các máy bay và thiết bị quân sự của Mỹ. Trong các chuyến thăm tiếp theo, Gassner thuyết phục được Sebold bằng cách đe dọa liên tục và buộc ông gia nhập Đế chế thứ ba với tư cách là một điệp viên khi trở về nước Mỹ.

Nhưng sự sắp xếp đó không bao giờ thực sự có được kết quả tốt đẹp. Sau các cuộc họp với Gassner, Sebold đã bị đánh cắp hộ chiếu, buộc ông phải đến Lãnh sự quán Mỹ ở Cologne để lấy giấy tờ mới. Và tại lãnh sự quán Mỹ, Sebold thú nhận hết mọi chuyện với Cục Điều tra liên bang Mỹ (FBI). Sebold nói với họ mọi thứ ông biết và thông báo muốn làm việc với người Mỹ như một điệp viên hai mang để giúp triệt phá mạng lưới gián điệp Đức Quốc xã khi trở về Mỹ.

Cuối cùng, William Sebold trở thành điệp viên hai mang đầu tiên của Mỹ trong Chiến tranh thế giới lần 2. Sebold trở lại thành phố New York vào ngày 8-2-1940, với một nhiệm vụ gian khổ và mang tên giả là Harry Sawyer. Vào thời điểm đó, ý định thống trị toàn cầu của Đức đã rõ ràng. Châu Âu đã có chiến tranh.

Mạng lưới gián điệp Duquesne

Fritz Duquesne (tên thật là Fritz Joubert Marquis du Quesne) chào đời trong một nông trại trên bờ biển miền nam Nam Phi năm 1877 và học trung học ở Anh. Khi chiến tranh giữa Nam Phi và Anh nổ ra vào mùa thu năm 1899, Duquesne trở về quê hương để chiến đấu. Sau khi mẹ và em gái bị bắt, Duquesne cải trang thành một nhà nghiên cứu khoa học, cài bom hẹn giờ trên nhiều tàu Anh và đánh chìm chúng.

Ảnh căn cước của Duquesne trong hồ sơ FBI.
Ảnh căn cước của Duquesne trong hồ sơ FBI.

Sau khi được thăng cấp đại úy, Duquesne chỉ huy một đơn vị biệt kích tấn công nhiều chuyến tàu hỏa Anh. Duquesne từng bị người Anh bắt giữ 3 lần và lần nào cũng trốn thoát được.

Từ đó, người Anh gán cho Duquesne biệt danh “Báo đen trên thảo nguyên” và đặt mục tiêu ám sát kẻ đã tiến hành rất nhiều chiến dịch thù địch chống lại chính quyền Anh dưới những tên giả như: Fred, Fredericks, đại tá Claude Staughton, đại tá Bezan, von Ricthofen, Piet Niacus v.v…

Không chỉ là một chiến binh đáng sợ mà Duquesne còn là nhà thám hiểm và thợ săn tài ba. Trong một lần giả dạng sĩ quan Anh ám sát hụt tổng tư lệnh quân đội Anh ở Nam Phi là tướng Herbert Horatio Kitchener, Duquesne bị bắt giam tại Bermuda.

Lần này, Duquesne cũng trốn thoát và men theo đường biển đến Mỹ, trở thành công dân nước này. Khi Chiến tranh thế giới lần 1 nổ ra năm 1914, Duquesne tiếp tục âm mưu giết tướng Kitchener, lúc này là Bộ trưởng Chiến tranh của chính quyền Anh, song vẫn gặp thất bại. Trong cuộc chiến, Duquesne được tình báo Đức tuyển mộ.

Nhờ lập nhiều chiến công mà Duquesne được trao tặng Huân chương Chữ Thập sắt của Đức. Năm 1937, Cơ quan tình báo quân đội Đức Quốc xã (Abwehr) giao cho Duquesne nhiệm vụ tổ chức mạng lưới gián điệp hoạt động ngầm trên đất Mỹ chuẩn bị cho Chiến tranh thế giới lần 2.

Trong vài tháng đầu tiên xâm nhập vào Mỹ, Duquesne đã lấy được bí mật liên quan đến những chiếc máy ngắm ném bom sử dụng trên máy bay chiến đấu của Mỹ.

Với mật danh Dunn, Duquesne thành lập mạng lưới gián điệp gồm 33 thành viên tìm kiếm thông tin về vũ khí của Mỹ cũng như các quốc gia đồng minh nước này. Mạng lưới của Duquesne thu thập nhiều chi tiết về một số vũ khí quan trọng như thiết bị điều khiển ném bom trên máy bay chiến đấu, thiết kế mặt nạ chống khí độc, các khí tài được kiểm soát bằng radio, bể chứa nhiên liệu chống rò rỉ…

Từ cuối những năm 1930, một số thành viên của Duquesne làm việc trên các tàu buôn và hãng hàng không của Mỹ với nhiệm vụ làm liên lạc viên, trong khi những người khác thu thập các tin tức tình báo bằng cách đóng giả những nhà thầu quân sự.

Khi tình hình trở nên căng thẳng ở châu Âu, Abwehr cần thêm người hoạt động gián điệp ở Mỹ và đối tượng được chọn là William Sebold, một người Mỹ gốc Đức. Abwehr giao cho Sebold - với tên giả là Harry Sawyer - liên lạc với Duquesne và mạng lưới gián điệp của người này để thu thập thông tin mật chuyển về Đức.

Nhưng Sebold đã âm thầm tiết lộ kế hoạch của Abwehr với FBI. Từ tháng 2-1940, Harry Sawyer trở thành điệp viên hai mang đầu tiên của FBI giúp phá vỡ mạng lưới Duquesne của Đức Quốc xã. Do lo sợ gián điệp điện tử, Duquesne luôn từ chối lời mời đến văn phòng của Sebold ở Manhattan. Cuối cùng, vào ngày 25-6-1941, Duquesne rơi vào bẫy và bị FBI bắt giữ cùng với toàn bộ thành viên mạng lưới gián điệp.

Mẻ lưới

Khi Sebold, sống với bí danh Harry Sawyer, đến thành phố New York, FBI cho ông làm việc với tư cách là một nhà tư vấn kỹ thuật động cơ diesel. 

Ở đó, Sebold có thể dễ dàng kết nối với các thành viên của nhóm gián điệp Duquesne mà các quan chức Đức Quốc xã không nhận ra rằng ông hiện đang thực sự làm việc cho FBI. Sebold làm việc trực tiếp với đặc vụ FBI James Ellsworth, nhưng các báo cáo của Sebold đã đi thẳng vào tai của Giám đốc FBI J. Edgar Hoover, và từ đó đến chính Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt.

Ảnh cắt từ đoạn phim FBI quay lén về cuộc gặp giữa Sebold (luôn luôn bên trái) và Duquesne ở Manhattan.
Ảnh cắt từ đoạn phim FBI quay lén về cuộc gặp giữa Sebold (luôn luôn bên trái) và Duquesne ở Manhattan.

Sebold nhúng mình sâu vào mạng gián điệp của Đức Quốc xã mà Duquesne đã xây dựng và có được sự tin tưởng của Duquesne và những người quản lý ông ở Đức. Cuối cùng, Sebold đã thuyết phục những người quản lý người Đức của mình về sự cần thiết phải có một đường dây liên lạc trực tiếp từ Mỹ đến Đức, vì vậy họ đã thiết lập một điểm điện báo ở Centerport, Long Island.

Điều mà những người quản lý người Đức không biết là Sebold cho phép FBI bí mật truy cập vào đường dây liên lạc đó. Vào tháng 5-1940, FBI bắt đầu xâm nhập vào đường dây liên lạc này. Trong 16 tháng, FBI đã nghe hơn 300 tin nhắn được gửi từ các điệp viên Đức Quốc xã ở Mỹ đến Đức và khoảng 200 được gửi theo hướng khác. Chiến dịch triệt phá mạng lưới gián điệp Đức Quốc xã lớn nhất ở Mỹ đang ngày càng gần hơn.

Vào ngày 28-6-1941, công việc của Sebold bắt đầu. Một cuộc vây bắt phối hợp có sự tham gia của 250 đặc vụ FBI đã đồng thời tóm gọn các điệp viên Đức Quốc xã từ các địa điểm tương ứng của họ. Mạng lưới gián điệp Duquesne bị tuyên án tổng cộng hơn 300 năm tù giam, trong đó Duquesne lĩnh 18 năm tù. Lần này, Duquesne đã 64 tuổi và không trốn thoát khỏi nhà tù được nữa. Duquesne bị giam tại nhà tù liên bang Leavenworth ở bang Kansas cùng với một gián điệp Đức khác tên là Hermann Lang.

Năm 1945, Duquesne được chuyển đến một bệnh viện nhà tù do có vấn đề về sức khỏe. Năm 1954, Duquesne được thả vì bệnh tật sau khi thụ án được 14 năm. Duquesne qua đời do đột quỵ tại bệnh viện trên Đảo Welfare (sau đổi tên thành Đảo Roosevelt) thuộc thành phố New York vào ngày 24-5-1956 ở tuổi 78. Có 33 người bị buộc tội, 16 người trong số họ nhận tội. 17 người còn lại bị kết án trong phiên tòa ngày 13 tháng 12 năm 1941 -  tức 6 ngày sau trận Trân Châu Cảng và một ngày sau khi Hitler tuyên chiến với Mỹ.

Đặc vụ FBI James Ellsworth và vợ được chỉ định làm người quản lý William Sebold.
Đặc vụ FBI James Ellsworth và vợ được chỉ định làm người quản lý William Sebold.

Sau khi hoàn tất nghĩa vụ đối với đất nước nhận nuôi của mình, Sebold di chuyển đến California với một phiên bản đầu tiên của những gì mà chúng ta biết bây giờ là “chương trình bảo vệ nhân chứng”.

Nhưng vai trò một điệp viên hai mang đã ám ảnh Sebold cả về tinh thần và thể xác sau đó - gia đình ông ở Đức thỉnh thoảng báo với ông rằng Đức Quốc xã sẽ xử tội vì sự phản bội. Năm 1965, nghèo khó và hoang tưởng, Sebold được đưa vào Bệnh viện bang Napa với chẩn đoán mắc chứng bệnh hưng trầm cảm. Năm 1970, Sebold qua đời sau một cơn đau tim.

Câu chuyện của William Sebold được kể trong Cuốn sách “Double Agent: The First Hero of World War II and How the FBI Outwitted and Destroyed a Nazi Spy Ring” (tạm dịch: Điệp viên hai mang: Anh hùng đầu tiên trong Chiến tranh thế giới lần 2 và FBI đã đánh lừa và hủy diệt Mạng lưới gián điệp Đức Quốc xã như thế nào) của tác giả Peter Duffy xuất bản ngày 7-7-2015.

Duy Ân (tổng hợp)

Các tin khác

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Kế hoạch an ninh chưa từng có cho World Cup 2026 của người Mỹ

Khi trái bóng Trionda chính thức lăn trên sân vào ngày 11/6/2026, World Cup lớn nhất trong lịch sử, trải dài trên 16 thành phố thuộc 3 quốc gia Bắc Mỹ, với 48 đội tuyển và 104 trận đấu đã chính thức khai mạc. Với tư cách là quốc gia chủ nhà chính đăng cai tới 78 trận đấu, nước Mỹ đã chuẩn bị một kế hoạch an ninh lớn chưa từng có để bảo vệ an toàn cho sự kiện lần này.

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

“Con mắt ma” của CIA trên bầu trời Liên Xô

Trong Chiến tranh lạnh, có những vũ khí không cần khai hỏa vẫn làm rung chuyển thế giới. U-2 là một trường hợp như vậy. Nó không mang bom, không tên lửa, không được thiết kế để giao chiến trên không. Thứ nguy hiểm nhất là máy ảnh, cảm biến và độ cao tưởng như ngoài tầm với của phòng không Liên Xô.

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Đại tá tình báo trong vai giám đốc hãng phim

Với tiêu đề Lights, Camera, Covert Action (Ánh sáng, máy quay và hoạt động bí mật) đăng trên tạp chí Lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) trực tuyến Nga, tác giả, Đại tá KGB Stanislav Lekarev đã kể về những năm tháng hoạt động bí mật của ông tại Vương quốc Anh dưới vai giám đốc điều hành hãng phim SovExportFilm những thập niên 70 thế kỷ trước.

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Nga ngăn chặn chiến dịch nghe lén điện thoại lớn nhất của tình báo Phương Tây

Trong thế kỷ XXI, những bí mật của chúng ta liên tục bị săn lùng bằng các phương tiện điện tử. Vì vậy, yêu cầu thận trọng trong phát ngôn và chia sẻ thông tin ngày càng trở nên cấp thiết. Trao đổi với phóng viên Báo “Luận chứng tuần”, Đại tá Sergey Matveev, chuyên gia an ninh mạng từng công tác tại Cơ quan An ninh Liên bang Nga, đã chia sẻ một số ý kiến về những nguy cơ mà thời đại kỹ thuật số đang đặt ra. Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Lỗ hổng của nước Anh

Lỗ hổng của nước Anh

Hai lá đơn từ chức được gửi đi gần như đồng thời của hai bộ trưởng đứng đầu lực lượng quân đội Anh hôm 11/6/2026 vừa qua không chỉ bộc lộ những bất đồng trong chính phủ. Nghiêm trọng hơn, nó đã phơi bày một lỗ hổng an ninh nghiêm trọng đe dọa vị thế của Anh trên bản đồ thế giới.

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Số phận người phụ nữ ám sát hụt Tổng thống Gerald Ford

Ngày 15/1/1976, bồi thẩm đoàn tại Tòa án Liên bang khu vực Bắc California đã kết án tù chung thân đối với Sara Moore. Bản án có thể được xem là quá nghiêm khắc, bởi vì Moore không giết ai, mà chỉ thực hiện một vụ ám sát bất thành. Tuy nhiên, mục tiêu của bà ta là Tổng thống Hoa Kỳ Gerald Ford.

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Bí mật về tàu ngầm Mỹ đắt giá nhất Thế chiến II

Ngày 10/2/1942, tàu ngầm Mỹ US Trout (SS-202) đã đánh chìm hai tàu vận tải của Nhật Bản. Thoạt nhìn, điều này dường như chẳng có gì đặc biệt, bởi trong suốt cuộc chiến ở Thái Bình Dương, có hàng trăm cuộc tấn công tương tự. Tuy nhiên, cuộc tấn công lần này được thực hiện bởi một tàu ngầm đang chở trên khoang một kho báu trị giá hàng triệu USD.

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

60 con thuyền trong bóng tối và sai số chết người của tình báo Ottoman

Từ Công đồng Trent đến vùng biển Lepanto, tình báo Ottoman thế kỷ XVI từng len qua những lối mà châu Âu ít nghi ngờ nhất: áo giáo sĩ, thương nhân, hải tặc, người cải đạo, tù binh được thả. Nhưng một đế chế có thể thu được rất nhiều tin tức mà vẫn thua, nếu thông tin khi về đến trung tâm quyền lực bị che khuất bởi nỗi sợ nói thật.

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Đằng sau vụ bắt giữ nhân sự quốc phòng tại Ba Lan

Vụ bắt giữ một nhân sự trong lĩnh vực quốc phòng tại Ba Lan công bố hôm 30/5/2026 đang đặt ra những câu hỏi về mức độ an toàn của thông tin chiến lược, nhất là trong bối cảnh chuỗi cung ứng quân sự ngày càng trở nên nhạy cảm.

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

“Trạm rửa tiền” của Mafia trong vỏ bọc cửa hàng kem

Giữa miền Tây nước Đức, một cửa hàng kem Ý trở thành tâm điểm của chiến dịch truy quét mafia lớn nhất châu Âu. Không phải vì những tiếng súng hay một vụ giết người công khai, mà vì một thứ tinh vi hơn nhiều: dòng tiền mua bán ma túy từ Nam Mỹ được hợp thức hóa qua những doanh nghiệp bề ngoài rất bình thường.

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

AI và cuộc chiến quyền kiểm soát

Một cuộc kiểm thử đối với chatbot AI đã làm dấy lên những lo ngại mới về nguy cơ công nghệ này có thể bị lợi dụng để tiếp cận và phổ biến các tri thức liên quan đến vũ khí sinh học.