Vụ đột kích Nhật Bản phi thường trong lịch sử quân sự Mỹ

Buổi sáng ngày 12-4-1942, các thủy thủ Mỹ trên boong tàu sân bay USS Enterprise và đội đặc nhiệm hộ tống con tàu đã nhìn thấy có thứ gì đó khá kỳ lạ. Họ chỉ mới vừa đến điểm hội ngộ với tàu sân bay USS Hornet ở phía Bắc quần đảo Hawaii và giật mình khi thấy trên boong tàu mình đậu đầy những chiếc máy bay kỳ lạ, lớn hơn bất kỳ chiếc nào có mặt trên sàn máy bay khi đó. Rồi cuối cùng họ cũng biết chúng là những oanh tạc cơ hạng trung B-25 Mitchell của Không lực lục quân Mỹ B-25  đang trong một nhiệm vụ bí mật nhằm định hình cuộc chiến ở mặt trận Thái Bình Dương…

Ý tưởng lạ của lính Mỹ sau vụ Trân Châu Cảng

Ngày 7-12-1941, phát xít Nhật tấn công bất ngờ vào Trân Châu Cảng đã gây chấn động cho toàn lục địa Mỹ. Tổng cộng 8 chiến hạm tại căn cứ hải quân bao gồm 3 chiếc tuần dương hạm, 3 chiếc khu trục hạm cùng 5 chiếc tàu khác đã bị đánh chìm hoặc hư hỏng nặng, hàng trăm máy bay đã bị phá hủy. Khoảng 2.400 lính Mỹ và dân thường bị thiệt mạng, 1.200 người khác bị thương. Mỹ bị đẩy vào Thế chiến II theo một cách đột ngột nhất có thể.

94-1.jpg -0
Oanh tạc cơ hạng trung B-25 Mitchell của Không lực lục quân Mỹ trong Thế chiến II. Ảnh nguồn: Acepilots.

Chỉ trong một thời gian ngắn, các lực lượng Nhật đã càn quét Hương Cảng, đánh chiếm Philippines, tiếp quản bán đảo Mã Lai và Singapore, chiếm Đông Ấn thuộc Hà Lan, buộc đơn vị đồn trú của thủy quân lục chiến Mỹ trên đảo Wake (Tây Thái Bình Dương) phải đầu hàng, và rượt đuổi quân Anh ra khỏi Miến Điện. Trên biển, Nhật đã đánh chìm thiết giáp hạm HMS Prince of Wales cùng tuần dương hạm HMS Repulse của Anh…

Ở Thái Bình Dương, người Nhật đã thực hiện những cú đòn không hồi kết. Ban lãnh đạo Mỹ nhận ra rằng điều quan trọng là họ cần phải phản công (đánh trực diện Nhật Bản). Phải mất nhiều thời gian để có thể tập hợp đủ lực lượng, tuy nhiên cho đến khi đó có vẻ như máy bay Mỹ không có bom để đánh Nhật Bản? Ngày 21-12-1941, tức chỉ 2 tuần sau vụ tấn công Trân Châu Cảng, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt nói với Tổng tham mưu trưởng rằng nên đánh bom Nhật càng sớm càng tốt. Nhưng câu hỏi hóc búa là: làm thế nào để đánh bom Nhật Bản?

Hải quân Mỹ có các oanh tạc cơ có thể phóng từ tàu sân bay song tầm hoạt động của chúng rất ngắn. Vì thế các tàu sân bay phải đi tới giới hạn trong vòng 200 hải lý của lãnh hải Nhật Bản, vô tình đặt chúng trong tầm khai hỏa của các loại oanh tạc cơ của Nhật. Rủi ro đối với các tàu sân bay – cốt lõi của nỗ lực chiến tranh của Mỹ ở Thái Bình Dương – là quá cao trong khi cuối cùng chỉ là một cuộc tấn công mang tính biểu tượng. Không lực lục quân Mỹ có các loại oanh tạc cơ tầm xa 2 và 4 động cơ, song lại không có căn cứ bay nào đủ gần để cất cánh, bỏ bom Nhật và bay trở về. Đó dường như là một trở ngại khó hóa giải cho đến ngày Đại úy hải quân Mỹ Francis S. Low bay qua Chambers Field (trạm hải quân Norfolk, tiểu bang Virginia) và nhìn xuống dưới.

Bên dưới là một đường băng được sơn với đường viền của boong tàu sân bay. Có vẻ như không có gì lạ khi mà các phi công tàu sân bay luôn cất và hạ cánh trên những sàn mô phỏng như vậy. Tuy vậy, ngày hôm đó lại có một số oanh tạc cơ 2 động cơ của Lục quân đậu gần đó. Một tia sáng lóe lên trong đầu Low, ông liên tưởng kết nối những chiếc oanh tạc cơ của Lục quân với đường viền boong sơn liền kề. Low suy nghĩ nhanh tại sao không kết hợp 2 chiếc oanh tạc cơ Lục quân tầm xa được phóng từ boong tàu sân bay Hải quân?

94-2.jpg -0
Trung tá James Harold “Jimmy” Doolittle, một phi công bay thử nghiệm kiêm kỹ sư hàng không nổi tiếng trước chiến tranh. Ảnh nguồn: AF.mil.

Chọn người và máy bay thích hợp

Ngày 10-1-1942, Đại úy Francis S. Low (trợ lý Tham mưu trưởng về tác chiến chống tàu ngầm) đã trình bày ý tưởng lạ của mình lên cho Đô đốc Ernest J. King, Tổng tư lệnh Hạm đội Mỹ. Cho rằng ý tưởng đắt giá, ông King chuyển nó cho ông Henry “Hap” Arnold,  Tổng chỉ huy Không lực lục quân Mỹ. Cũng thích ý tưởng không kém, ông Arnold đã bắt đầu lên kế hoạch cho một nhiệm vụ tuyệt mật nhằm phóng các oanh tạc cơ tầm xa từ tàu sân bay để tấn công trực diện Nhật Bản.

Để tổ chức cuộc đột kích thành công, ông Arnold đã chọn Trung tá James Harold “Jimmy” Doolittle, một phi công bay thử nghiệm kiêm kỹ sư hàng không nổi tiếng trước chiến tranh. Doolittle đã cách mạng hóa ngành hàng không bằng cách bay bằng thiết bị tiên phong nhằm cho phép phi công cất cánh, bay, hạ cánh, bất kể tầm nhìn ra sao. Tuy nhiên, ngoài việc là quân nhân dự bị hay sĩ quan tại ngũ, Doolittle lại không có kinh nghiệm chiến đấu: suốt Thế chiến I, ông bị giữ lại với tư cách là hướng dẫn bay.

Đối với việc Hap Arnold chọn Doolittle cho một sứ mạng cực kỳ quan trọng dù biết rằng người được chọn có nhiều thiếu sót, chính là đã có ý đồ trao sự tin cậy cho người phi công. Trong tâm trạng phấn chấn, Doolittle lập tức lên đường. Nhiệm vụ đầu tiên là lựa oanh tạc cơ phù hợp với công việc. Nó cần phải đạt phạm vi bay xấp xỉ 2.400 hải lý trong lúc chở theo quả bom 907 kg.

Trong số các máy bay được thử nghiệm, các lựa chọn bao gồm Douglas B-18 Bolo, Douglas B-23 Dragon và Martin B-26 Marauder. Hai loại oanh tạc cơ B-18 và B-23 có sải cánh kềnh càng vốn là trở ngại đối với hoạt động tàu sân bay: rủi ro va đụng siêu cấu trúc là cao. Chúng chiếm nhiều không gian do đó số lượng đem lên tàu sân bay không nhiều. B-26 không có vấn đề, song đặc điểm cất cánh của nó lại không phù hợp với boong tàu sân bay. Vì vậy Doolittle bắt đầu để mắt tới loại máy bay chưa được thử nghiệm: North American B-25 Mitchell.

Máy bay 2 động cơ B-25 được thiết kế để đáp lại lời mời chào của Quân đoàn không quân năm 1939, đó là việc tìm kiếm loại máy bay có thể chở được một quả bom nặng 1.088,6 kg cho chặng bay 1.200 hải lý với tốc độ 300 dặm/ giờ. Hàng không Bắc Mỹ tung ra loại máy bay vượt quá yêu cầu về tải trọng bom và phạm vi: quả bom nặng 1.360,7 kg, chặng bay 1.350 hải lý, và đạt tốc độ 272 dặm / giờ. Nó bay lần đầu tiên năm 1940 và đưa vào biên chế năm 1941.

Chiếc B-25 chưa được thử nghiệm lâm trận, song trên giấy tờ nó dường như khớp với nhu cầu của Doolittle.  Vì vậy ông bắt đầu thử nghiệm B-25 và xem liệu nó có hoạt động tốt cho nhiệm vụ thực tế như trên lý thuyết hay không. 2 chiếc B-25 được đặt lên boong tàu sân bay USS Hornet và rời boong vào ngày 3-2-1942 mà không gặp sự cố gì. Doolittle bắt đầu tìm kiếm và đào tạo phi đội cho cuộc đột kích.

Doolittle tìm thấy họ trong Nhóm oanh tạc số 17, lái những chiếc B-25B trong nhiệm vụ tuần tra diệt tàu ngầm ở ngoài khơi biển tiểu bang Oregon. Nhóm này được chuyển đến Nam Carolina thực hiện các nhiệm vụ bay tương tự như ở duyên hải Đông Hoa Kỳ. Khi họ trở về, Doolittle hỏi họ làm tình nguyện viên cho “nhiệm vụ cực kỳ nguy hiểm”, gần như toàn bộ đã tiến về phía trước.

94-3.jpg -0
Mỹ trả thù Nhật trong sự kiện Trân Châu Cảng bằng Hải chiến Midway khiến quân Nhật thua liểng xiểng. Ảnh nguồn: CBS News.

Trận đánh thay đổi lịch sử

Doolittle đã chọn 24 thành viên tình nguyện, 22 chiếc B-25 của Nhóm oanh tạc 17 được gửi tới trung tâm biến cải ở Minneapolis nhằm thay đổi cấu trúc cho chúng. Đứng đầu trong số đó là việc bổ sung các thùng nhiên liệu phụ và ngăn chứa nhiên liệu nhằm tăng sức chứa từ 646 lên thành 1.141 gallon. Nhằm tạo không gian và bù lại trọng lượng nhiên liệu tăng thêm, tháp pháo dưới cũng như trạm vô tuyến đã được loại bỏ, trong khi đó khung ngắm bom tiêu chuẩn Norden đã được thay thế bằng một thiết bị tạm ngẫu hứng và nhẹ nhàng hơn.

Khi máy bay đã sẵn sàng, phi đội được cử đến để đón chúng và bay thử đến Eglin Field (Tây Florida). Tại đây, bắt đầu từ ngày 1-3-1942, Doolittle đã cho các tình nguyện viên tham gia khóa huấn luyện 3 tuần cam go nhằm chuẩn bị chiến đấu thực tế. Họ tập trung vào bay đêm tầm thấp, đánh bom tầm thấp, điều hướng đại dương, mô phỏng boong tàu sân bay cất cánh.

Hai chiếc B-25 bị hỏng trong các sự cố riêng rẽ, trong khi một phần ba đã bị xóa sổ vì các lỗi máy móc. Những chiếc còn lại bay đến California và đến Kho hàng không Sacramento vào ngày 27-3. Tại đó, chúng được sửa đổi và kiểm tra lần cuối, 16 chiếc tốt nhất đã bay tới trạm không hải quân Alameda vào ngày 31-3. Ngày hôm sau, những chiếc B-25 (mỗi chiếc chở theo 4 quả bom nặng 226,7 kg, 3 vật liệu nổ cao và 1 chất gây cháy, cùng với 5 phi hành đoàn và nhân sự bảo trì, tất cả cùng có mặt trên tàu sân bay USS Hornet.

Chiếc tàu sân bay và đội hộ tống của nó là Đặc nhiệm 18 đã đi từ San Francisco vào ngày 2-4. Đến Bắc Hawaii vào ngày 12, họ liên kết với tàu sân bay USS Enterprisevà Đặc nhiệm 16, được chỉ huy bởi Phó đô đốc William F. “Bull” Halsey. Khi Halsey thông báo với Đặc nhiệm 16 rằng họ sẽ đến Tokyo, tất cả các thủy thủ đều reo hò phấn khích, các phi công từ con số 0 đã trở thành anh hùng.

Sáng ngày 18-4-1942, họ đã bị tàu địch phát hiện khi chỉ còn cách lục địa Nhật Bản 750 hải lý. Sợ rằng sẽ mất đi yếu tố bất ngờ nên quyết định đưa ra là sẽ tổ chức oanh tạc ngay lập tức, sớm hơn 10 tiếng và ở khoảng cách 170 hải lý tính từ thềm lục địa Nhật Bản so với kế hoạch ban đầu. Lúc 8h20 phút sáng, Doolittle bay chiếc B-25 đầu tiên rời tàu sân bay Hornet, đến khoảng 9h19 phút thì 15 chiếc khác đã nối đuôi nhau cất cánh. Để tránh việc bị phát hiện, họ đã bay thấp trực chỉ Nhật Bản. Họ đến vào lúc trưa và đánh bom hàng loạt mục tiêu từ Tokyo, Yokohama, Kobe, Osaka, Nagoya và Yokosuka.

Những chiếc B-25 có thể cất cánh trên tàu sân bay nhưng lại không thể hạ cánh. Vì thế, theo kế hoạch, 15 chiếc B-25 tiếp tục bay ngược lên hướng Tây và trực chỉ Trung Quốc, nơi chúng bị rơi. Những chiếc khác sẽ lên đường đến Vladivostok, nơi họ bị Liên Xô đánh chặn. 3 trong số 80 người thành viên phi đội đã hy sinh. 8 người bị Nhật bắt (3 người bị hành quyết và 1 người chết trong thời gian bị giam).

Cuộc đột kích để lại tác động tâm lý mạnh mẽ ở đôi bờ Thái Bình Dương. Doolittle được trao tặng Huân chương danh dự. Người Nhật cũng tìm cách giữ thể diện thông qua việc chiếm đảo Midway (Bắc Thái Bình Dương) chỉ vài tuần sau đó. Lính Nhật phản công thần tốc song kết cục lại bị đả bại thê thảm trong Chiến địa Midway, trận chiến đã xoay chuyển cục diện chiến tranh Thái Bình Dương.

Nguyễn Thanh Hải (Tổng hợp)

Các tin khác

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Những sai lầm tình báo tai hại trong chiến dịch của Mỹ và Israel nhằm vào Iran

Cuộc đối đầu quân sự giữa liên minh Mỹ - Israel và Iran đang là tâm điểm thu hút sự chú ý của dư luận quốc tế; song những diễn biến thực sự lại luôn bị che phủ bởi bức màn bí mật. Để làm sáng tỏ những góc khuất trong cuộc chiến tranh tình báo âm thầm tại khu vực đầy biến động này, phóng viên tờ “Argumenty Nedeli” (Luận cứ trong tuần của Nga) đã có cuộc trao đổi với chuyên gia về Trung Đông, Trung tá tình báo Nga Aleksandr Voronin.

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Những thiết bị tình báo kỳ lạ nhất thế kỷ XX

Hoạt động tình báo luôn là động lực thúc đẩy sự đổi mới và các phát minh mang tính đột phá. Trong những năm 1960-1970, các cơ quan tình báo trên thế giới đã tạo ra một khối lượng công nghệ khổng lồ phục vụ cho Chiến tranh Lạnh. Nhiều công nghệ gián điệp được phát triển và sử dụng trong thế kỷ XX hiện vẫn được giữ bí mật. Nhưng ngay cả những gì đã biết cũng đủ khiến người ta phải ngạc nhiên.

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Ông Trump và những lần bị mưu sát hụt

Vụ nổ súng tại bữa tiệc tối dành cho các phóng viên Nhà Trắng chỉ là một trong chuỗi các sự kiện an ninh có liên quan đến Tổng thống Trump kể từ năm 2024.

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Thu thập dữ liệu quân sự dưới vỏ bọc dân sự

Không cần tiếp cận trực diện, mạng lưới thu thập thông tin có thể khởi nguồn từ những tương tác dân sự tưởng chừng vô hại. Vụ việc tại Philippines cho thấy phương thức hoạt động ngày càng tinh vi, khó nhận diện trong môi trường an ninh phức tạp.

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Song trùng bế tắc đàm phán và eo biển Hormuz

Mỹ và Iran đang “đấu phong tỏa” giữa lúc bế tắc trong đàm phán tiếp tục kéo dài - theo đó Mỹ ra sức phong tỏa các cảng biển Iran để buộc nước này xuống thang trong đàm phán, còn Iran cáo buộc Mỹ vi phạm thỏa thuận ngừng bắn 14 ngày và tuyên bố tiếp tục đóng eo biển Hormuz.

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch “Susannah” và những hệ lụy trong lịch sử tình báo Israel

Chiến dịch phá hoại do cơ quan tình báo quân đội Israel (Aman) tổ chức vào tháng 7/1954 đã thất bại thảm hại. Được xây dựng trên những toan tính thực dụng và chiến thuật phi đạo đức mang tên “hành động dưới màu cờ giả”, chiến dịch này cuối cùng trở nên phản tác dụng đối với chính những kẻ chủ mưu, đồng thời để lại nhiều tranh cãi lớn trong lịch sử ngành tình báo thế giới.

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Gã phù thủy truyền thông và cú lừa thế kỷ

Cuối thế kỷ XIX, trong suốt hơn 10 năm, nước Pháp tin rằng, Hội Tam Điểm là một tổ chức thờ quỷ với những bí mật đen tối đang bị phanh phui. Nhưng đến năm 1897, người dựng nên toàn bộ câu chuyện ấy công khai thú nhận: từ nhân chứng, tài liệu đến các nghi lễ gây rúng động, tất cả đều là giả. Cú lừa của Léo Taxil vì thế không chỉ là một scandal thế kỷ, mà còn là một minh chứng cho thấy niềm tin xã hội có thể bị dẫn dắt như thế nào.

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Bão giá lương thực đẩy thế giới vào nạn đói thảm họa

Nguy cơ một cuộc khủng hoảng lương thực mới đang bùng nổ khi chỉ số giá lương thực toàn cầu quay đầu tăng tháng thứ hai liên tiếp. Trong bối cảnh xung đột Trung Đông bóp nghẹt nguồn cung phân bón và một “siêu El Nino” được dự báo sẽ tàn phá các vựa lúa lớn nhất hành tinh thời gian tới, liệu chúng ta có thể làm gì để ngăn lại một thảm họa?

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Donald Nichols - điệp viên cừ khôi vùng Viễn Đông

Đầu tháng 10/2017, tại Âu Mỹ người ta đồng loạt phát hành ấn phẩm "King of Spies: The Dark Reign of America’s Spymaster in Korea" (tạm dịch: Vua gián điệp: Thời kỳ suy tàn của trùm tình báo Mỹ tại Triều Tiên) của nhà văn Blaine Harden. Sách mô tả Donald Nichols là “điệp viên giỏi nhất vùng Viễn Đông” hay chiến binh “cuộc chiến một người”.

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Báo cáo tình báo Mỹ năm 2026 từ góc nhìn của một đại tá Nga

Tháng 3 năm nay, tại phiên điều trần trước Ủy ban Tình báo Thượng viện Mỹ, Giám đốc Tình báo Quốc gia Tulsi Gabbard đã trình bày báo cáo “Đánh giá mối đe dọa thường niên” của cộng đồng tình báo nước này. Sau đây, chúng tôi xin trân trọng giới thiệu một số phân tích và nhận định của Đại tá tình báo Igor Orlov, người từng phục vụ trong hàng ngũ KGB, về các nội dung trọng tâm của bản báo cáo này.

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

New START sụp đổ: Mỹ - Nga trước ngưỡng cửa chạy đua hạt nhân

Đầu tháng 2/2026, Hiệp ước về cắt giảm vũ khí tấn công chiến lược giữa Mỹ và Nga (Hiệp ước New START) đã chính thức hết hạn mà không có thỏa thuận mới nào được ký kết. New START là trở ngại cuối cùng đối với một cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân tiềm tàng giữa Moscow và Washington. Tuy nhiên, theo chuyên gia về chính sách hạt nhân Nicole Grajewski, Nga hiện không đủ nguồn lực để sản xuất hàng loạt các loại vũ khí chiến lược mới.

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Giải mật điệp viên nhị trùng qua hồi ký của Martha Peterson

Tạp chí trực tuyến Kho lưu trữ lịch sử tình báo (EHA) của Nga vừa cập nhật vụ án được CIA giải mật theo Đạo luật tiết lộ thông tin, có liên quan đến nữ điệp viên CIA Martha Peterson bị bắt quả tang cùng với điệp viên hai mang của KGB.

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

“Cyber warfare” và quy luật mới của chiến tranh hiện đại

Khi chiến trường thực địa bị chi phối bởi hỏa lực và không kích, một dạng xung đột khác cũng đã hình thành trong không gian số. Cuộc chiến Cyber warfare (chiến tranh mạng) đã chính thức khai hỏa, đang biến những cơ sở hạ tầng trọng yếu tại Mỹ, Israel và Iran thành những mục tiêu bị tấn công không ngừng nghỉ .

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

An ninh mạng: Hiểm họa kinh doanh toàn cầu

Trong bối cảnh các nền kinh tế ngày càng phụ thuộc vào hạ tầng số, báo cáo rủi ro thường niên của hãng bảo hiểm Allianz công bố đầu năm 2026 một lần nữa khẳng định nguy cơ đến từ môi trường mạng. Giờ đây, các sự cố an ninh mạng không chỉ là câu chuyện kỹ thuật mà đã trở thành vấn đề sống còn của nền kinh tế toàn cầu, đặt ra áp lực chưa từng có lên các lực lượng bảo vệ không gian mạng.

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập và cái giá của sự thống nhất

Liên đoàn các quốc gia Ả Rập (LAS) được thành lập ngày 22/3/1945 tại Cairo. Dựa trên Nghị định thư Alexandria năm 1944, LAS tuyên bố mục tiêu cốt lõi là thắt chặt quan hệ, phối hợp chính sách, bảo vệ độc lập và chủ quyền của các nước Ả Rập. Ý tưởng về chủ nghĩa Liên Ả Rập là một phản ứng hợp lý đối với việc giải phóng thuộc địa, nhưng hiệp ước của LAS đã đưa ra một quy tắc về sau trở thành hạn chế chính của nó.

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Điệp viên “Romeo”:Vũ khí bí mật của các cơ quan tình báo

Để thu thập được nhiều thông tin quan trọng, các cơ quan tình báo KGB và Stasi đã thành lập mạng lưới điệp viên "Casanova" (điệp viên “Romeo”). Họ là những người có sức hút đặc biệt và được huấn luyện bài bản các thủ thuật nghiệp vụ. Ở CHDC Đức, kế hoạch đào tạo này mang mật danh “Romeo”; còn ở Liên Xô, các học viên của Trường Kỹ thuật tình báo Lenin được trang bị những phương thức quyến rũ để biến tình yêu thành vũ khí lợi hại.