Vì sao ông Franklin D. Roosevelt tại vị 4 nhiệm kỳ Tổng thống?

Trước khi có Tu chính án Hiến pháp Hoa Kỳ thứ 22, các tổng thống Mỹ có thể tại nhiệm hơn 2 nhiệm kỳ. Thế nhưng, chỉ có Franklin D. Roosevelt có thể chiến thắng hơn 2 cuộc bầu cử liên tiếp.

Phá vỡ tiền lệ

George Washington, nhà lập quốc đồng thời là Tổng thống đầu tiên của Mỹ từ năm 1789 đến 1797, đã tạo lập một truyền thống thiêng liêng của nước Mỹ, theo đó một tổng thống Mỹ nên từ bỏ quyền lực của mình sau 8 năm tại nhiệm.

Ngày 5-11-1940, Franklin D. Roosevelt đã phá vỡ tiền lệ lâu nay, một tiền lệ có từ thời George Washington - khi ông trở thành tổng thống đầu tiên của Mỹ được bầu giữ chức vụ này nhiệm kỳ thứ 3. Roosevelt cũng rất hào hứng thêm một nhiệm kỳ nữa và ông đã chiến thắng nhiệm kỳ thứ 4, làm ông chủ Nhà Trắng một lần nữa vào ngày 20-1-1945.

Ông Roosevelt tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ tổng thống Mỹ thứ 4 vào ngày 20 tháng 1 năm 1945.

Ông Roosevelt tuyên thệ nhậm chức nhiệm kỳ tổng thống Mỹ thứ 4 vào ngày 20 tháng 1 năm 1945.

Roosevelt đã trở thành tổng thống Mỹ đầu tiên và cũng là cuối cùng giành chiến thắng hơn 2 cuộc bầu cử tổng thống và nhiệm kỳ thứ 4 "độc nhất vô nhị" là một phần trong chuỗi chiến thắng đó. Cuộc bầu cử cho nhiệm kỳ thứ 3 của ông diễn ra khi Mỹ vẫn đang trải qua thời kỳ Đại suy thoái và Chiến tranh Thế giới thứ II mới chỉ vừa bắt đầu.

Mặc dù nhiều tổng thống khác trước đó đã tìm cách giành chiến thắng trong nhiệm kỳ thứ 3 song sự bất ổn của thời cuộc lại "mở đường" để Roosevelt chứng minh trước cử tri rằng ông sẽ đem lại sự ổn định cho đất nước.

Barbara Perry, Giáo sư đồng thời là Giám đốc Trung tâm Miller nghiên cứu về các vấn đề liên quan tổng thống thuộc Đại học Virginia, giải thích: "Bạn gặp phải những vấn đề kinh tế trong nước và bạn có chính sách đối ngoại trong thời kỳ bùng nổ Chiến tranh Thế giới thứ 2 vào năm 1939. Sau đó, bạn có khả năng giải quyết vấn đề về mặt chính trị. Vì  vậy, ông ấy đã thắng cử trong cuộc bầu cử năm 1936 với hơn 2/3 số phiếu phổ thông".

Cuối cùng các nghị sĩ đảng Cộng hòa đã phản đối, cho rằng việc giới hạn nhiệm kỳ là cần thiết để kiểm soát việc lạm dụng quyền lực. 2 năm sau khi Roosevelt qua đời, Quốc hội Mỹ đã thông qua tu chính án Hiến pháp lần thứ 22, giới hạn nhiệm kỳ tổng thống Mỹ xuống 2 nhiệm kỳ. Sau đó, tu chính án này được thông qua vào năm 1951.

Tuy nhiên, vào thời điểm Roosevelt tranh cử nhiệm kỳ thứ 3, Giáo sư Perry tiếp tục nói rằng không có gì ngoài tiền lệ cản đường ông. Tuy nhiên, chính tiền lệ, nhất là khi nó liên quan đến nhiệm kỳ tổng thống, có thể là công cụ khá mạnh mẽ".

Các tổng thống Mỹ phá tiền lệ bất thành

Phần lớn các tổng thống Mỹ chỉ giữ 1 nhiệm kỳ, trong đó, một số tổng thống bị cử tri "quay lưng" và số khác thì tự rút lui. Một số tổng thống Mỹ khác dù cố gắng song đều thất bại trong cuộc đua đến với nhiệm kỳ thứ 3 liên tiếp.

Theo Trung tâm Hiến pháp Quốc gia, phần lớn những nhà kiến tạo Hiến pháp Mỹ đã phản đối việc giới hạn nhiệm kỳ và mặc dù các tu chính án đều tìm cách thực thi các giới hạn nhiệm kỳ vốn đã được đề xuất khoảng 200 lần từ năm 1796 đến 1940 mà không được thông qua, nhưng hầu hết các tổng thống hai nhiệm kỳ đều tuân theo tiền lệ của Washington trong việc không tìm cách tái tranh cử lần thứ 3.

Báo chí Mỹ đưa tin khi ông Roosevelt đắc cử nhiệm kỳ thứ 4.
Báo chí Mỹ đưa tin khi ông Roosevelt đắc cử nhiệm kỳ thứ 4.

Mặc dù vậy, một số tổng thống đã thử phá tiền lệ. Tổng thống đời thứ 18 của Mỹ, Ulysses S. Grant, đã thua cuộc trong chiến dịch tranh cử cho nhiệm kỳ thứ 3 vào năm 1880 khi James Garfield giành được đề cử ứng viên tổng thống của đảng Cộng hòa. 

Theodore Roosevelt thất bại trong nỗ lực tranh cử lần thứ 3 không liên tiếp của mình vào năm 1912 trước đối thủ là William Howard Taft (Taft trước đó đã hoàn thành nốt phần còn lại của nhiệm kỳ tổng thống của William McKinley và sau đó được tái đắc cử). 

Harry Truman, người kế nhiệm Franklin D. Roosevelt sau khi ông qua đời, đã trở thành tổng thống trước khi tu chính án thứ 22 được thông qua và theo đó được miễn trừ khỏi luật mới này. Truman đã vận động chiến dịch tranh cử cho nhiệm kỳ thứ 3 vào năm 1952, song phải rút lui sau khi thua trong cuộc bỏ phiếu sơ bộ ở bang New Hampshire.

Cuộc Đại suy thoái

Lần đầu tiên đắc cử trở thành Tổng thống Mỹ thứ 32 vào năm 1932, Franklin D. Roosevelt lúc đó đang trên cương vị thống đốc bang New York nhiệm kỳ thứ 2. Thời điểm Roosevelt nhậm chức vào ngày 4-3-1933 là lúc cuộc Đại suy thoái lên tới mức tột đỉnh.

Trong bối cảnh đất nước "sa lầy" vào sâu trong cuộc Đại suy thoái, Roosevelt nhanh chóng khôi phục niềm tin của người dân thông qua các bài diễn văn qua đài phát thanh, được biết đến là "các buổi nói chuyện qua lò sưởi".

Trong 100 ngày đầu tiên trên cương vị tổng thống, Roosevelt bắt đầu triển khai các chính sách mới như "ngân hàng nghỉ làm việc" để thanh kiểm tra từng ngân hàng và chỉ cho phép mở cửa trở lại khi đạt đủ yêu cầu cũng như cho đến khi Quốc hội thông qua dự luật cải cách liên quan lĩnh vực tài chính.

Roosevelt cũng triển Các chương trình Thỏa thuận mới vì người dân Mỹ như cam kết trong chiến dịch tranh cử và các chương trình cải cách sau này đã xác định lại vai trò của chính phủ liên bang trong đời sống người dân.

Ngoài ra, ông cũng thúc đẩy các chương trình tạo công ăn việc làm và giảm nhẹ thiệt hại kinh tế cho người dân. Đến năm 1935, nền kinh tế Mỹ khi đó đã có những dấu hiệu hồi phục.

Âm hưởng của những thành công trong nhiệm kỳ 1 đã góp phần đem lại chiến thắng cho ông khi tái tranh cử nhiệm kỳ 2 vào năm 1936. Roosevelt đã đánh bại đối thủ đảng Cộng hòa, Thống đốc Alf Landon thuộc bang Kansas và đã giành chiến thắng ngoạn mục.

Roosevelt và Thế chiến II

Đầu năm 1937, Roosevelt đã cảnh báo người dân Mỹ về những mối nguy hiểm do những chế độ theo đường lối cứng rắn ở Đức, Italy và Nhật Bản gây ra, song ông không khuyến nghị Mỹ nên từ bỏ chính sách biệt lập của mình.

Tuy nhiên, sau khi Thế chiến II nổ ra vào tháng 9-1939, Roosevelt đã triệu tập một phiên họp quốc hội đặc biệt để sửa đổi những đạo luật trung lập hiện hành của đất nước nhằm cho phép Anh và Pháp mua vũ khí của Mỹ. Đức đóng chiếm Pháp vào cuối tháng 6-1940 và Roosevelt đã thuyết phục quốc hội cung cấp thêm hỗ trợ cho Anh vốn lúc đó phải một mình chiến đấu với Đức Quốc xã.

Mặc dù truyền thống đối với các tổng thống Mỹ khi đó là chỉ nắm giữ 2 nhiệm kỳ kể từ thời George Washington, song Roosevelt đã quyết định tái tranh cử lần thứ 3 vào năm 1940.

Chiến dịch tranh cử nhiệm kỳ thứ 3 của ông Roosevelt diễn ra khi Mỹ chưa tham gia Thế chiến II và tổng thống vẫn duy trì chính sách đối ngoại biệt lập. Theo giải thích của Giáo sư Perry, Roosevelt đã nỗ lực lãnh đạo và dẫn dắt người dân theo đường hướng hỗ trợ để Anh có đủ tiền trả nợ cho những thứ như chương trình Lend-Lease. 

Cụm từ "Lend-Lease" ở đây mang nghĩa là cho vay không lấy lãi và việc trả nợ sẽ bắt đầu 5 năm sau khi chiến tranh kết thúc. Ban đầu, chương trình Lend-Lease được dùng để trợ giúp quân Anh chống lại Đức bằng cách cho tổng thống quyền "bán, chuyển giao, trao đổi, cho thuê mượn, hoặc định đoạt" bất kỳ nguồn lực quân sự nào mà Tổng thống cho rằng ít cần thiết nhất đối với quốc phòng Mỹ. 

Lý do đằng sau đó là "Nếu láng giềng của một quốc gia bảo vệ thành công đất nước của mình, thì an ninh của quốc gia đó cũng được nâng cao".

"Điều đó đã rõ ràng gặm nhấm tâm trí Roosevelt và ông ấy không nghĩ rằng Mỹ có thể 'thay ngựa giữa dòng' khi cuộc chiến này đang hướng tới điều mà Roosevelt biết rằng sẽ rốt cục là sự can dự chính thức và toàn diện của Mỹ ở cả chiến trường châu Âu và Thái Bình Dương", Giáo sư Perry nói.

Trong cuộc tái tranh cử tổng thống lần thứ 3, chiến  thắng của Roosevelt đối với nhà kinh doanh thuộc đảng Cộng hòa Wendell Willkie không mấy ấn tượng như các lần trước song ông vẫn giành được đa số phiếu và phiếu cử tri đoàn là 449/82.

Sau khi quan hệ ngoại giao và thương mại giữa Mỹ và Nhật Bản xấu đi, ngày 7-12-1941, Không lực Hải quân Nhật Bản đã thực hiện đòn tấn công bất ngờ vào căn cứ hải quân Mỹ tại Trân Châu Cảng thuộc tiểu bang Hawaii. Cuộc tấn công không một lời tuyên chiến này đã khiến Tổng thống Roosevelt thay đổi quan điểm từ chủ nghĩa biệt sang ủng hộ Mỹ tham chiến. 

Ông đã kêu gọi quốc hội tuyên chiến với Nhật Bản. Ba ngày sau đó, 11-12-1941, Mỹ cũng tuyên chiến với Đức Quốc xã và Italy, trong khi hai nước thuộc phe Trục này tuyên chiến với Mỹ với cớ là Washington đã phá vỡ tính trung lập.

Mặc dù gặp nhiều khó khăn nhưng Tổng thống Roosevelt đã dẫn dắt Mỹ đi từ chủ nghĩa biệt lập đến cùng phe Đồng Minh giành chiến thắng phát xít Đức và các đồng minh của Đức trong Thế chiến II. Ông cũng đồng thời đặt nền móng thiết lập một tổ chức hòa bình mà sau này trở thành Liên Hợp Quốc.

Giới hạn nhiệm kỳ tổng thống

Dĩ nhiên, không phải ai cũng đứng về phía Tổng thống Roosevelt. Trung tâm Hiến pháp Quốc gia ghi nhận rằng quyết định tranh cử nhiệm kỳ 3 của ông đã khiến các lực lượng ủng hộ và cố vấn thuộc đảng Dân chủ rời bỏ chiến dịch tranh cử của ông.

Một số người còn đeo những huy hiệu chính trị in dòng chữ "FDR Out at Third" (Tạm dịch là "FDR hết thời nhiệm kỳ 3", FDR là chữ cái đầu tên đầy đủ của Franklin Delano Roosevelt).

Giáo sư Perry ghi nhận rằng mặc dù có uy tín, song 1/3 người Mỹ, đặc biệt là dân kinh doanh và những người giàu có vẫn không bỏ phiếu ủng hộ Roosevelt. Giáo sư Perry kể lại: "Đặc biệt, có những người từ chối nhắc đến cái tên Roosevelt và chỉ gọi ông là 'Người đàn ông đó'. 

Tuy nhiên, ông ấy nắm rõ số phiếu phổ thông và số phiếu cử tri đoàn đều nghiêng về phía ông. Ông ấy muốn giúp nước Mỹ vượt qua hai thảm họa to lớn nhất của thế kỷ 20 và ông ấy đã thành công".

Giới hạn được thiết lập để tránh quyền lực chuyên chế

Năm 1944, theo Trung tâm Hiến pháp Quốc gia, tranh luận về giới hạn nhiệm kỳ lại một lần nữa trở thành đề tài trọng tâm. Đảng Cộng hòa đi đầu trong phong trào kêu gọi giới hạn nhiệm kỳ tổng thống mặc dù nhiều nghị sĩ Dân chủ đồng tình với tiền lệ 2 nhiệm kỳ mà Washington đặt ra nhằm tránh xảy ra tình trạng quyền lực chuyên chế. Trong một bài phát biểu vào năm 1944, Thomas Dewey, đối thủ thuộc phe Cộng hòa của Roosevelt khẳng định: "4 nhiệm kỳ hay 16 năm cầm quyền là mối đe dọa nguy hiểm nhất đối với nền tự do vốn từng được đề ra của chúng ta".

Roosevelt đã giành thắng lợi nhiệm kỳ thứ 4 khi ông đánh bại đối thủ Dewey nói trên với số phiếu phổ thông chiếm 54%, đưa số phiếu của cử tri đoàn chiếm tỷ lệ áp đảo là 432 /99.

Ông mất ngày 12-4-1945, tức 11 tuần sau khi lên nắm quyền tổng thống nhiệm kỳ thứ 4. Hai năm sau đó, lời kêu gọi thay đổi quy định trong Hiến pháp Mỹ về nhiệm kỳ tổng thống đã được thực hiện với đa số 2/3 nghị sĩ quốc hội ủng hộ Tu chính án 22. Văn kiện này có đoạn viết: "Không ai được bầu làm Tổng thống quá hai lần và nếu một người nắm quyền Tổng thống hoặc quyền Tổng thống hơn 2 năm của một nhiệm kỳ mà một người khác được bầu làm Tổng thống thì người đó chỉ có thể được bầu làm tổng thống một lần".

Tóm lại, ông Roosevelt đã vượt qua những thách thức về mặt chính trị và đời sống cá nhân để nổi lên thành một trong những vị tổng thống có tầm ảnh hưởng và đáng kính nhất của nước Mỹ. Năm 1921, ở tuổi 39, ông mắc bệnh bại liệt và phải dùng nạng đi lại, rồi cuối cùng phải ngồi trên xe đẩy. Thời điểm ông được bầu làm tổng thống lần đầu tiên vào năm 1932 rồi nhiệm kỳ thứ 4 vào năm 1945.

Qua đời khi vẫn đang tại nhiệm kỳ thứ 4, Roosevelt đã điều hành đất nước vượt qua hai cuộc khủng hoảng lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ: Cuộc Đại suy thoái trong những năm 1930 và Thế chiến thứ II. Roosevelt đã thi hành luật pháp nghiêm túc và cứng rắn để đưa Mỹ vượt qua cuộc Đại suy thoái. 

Mặc dù ban đầu ông đã nỗ lực tránh lôi kéo Mỹ can dự vào Thế chiến II vốn bắt đầu năm 1939, song cuộc đánh bom Trân Châu Cảng vào tháng 12-1941 đã đẩy Mỹ vào cuộc xung đột này.

Hà Ngọc (tổng hợp)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.