Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ra đời đánh dấu bước chuyển mang tính cách mạng từ tư duy “quản lý” sang “quản trị và kiến tạo xã hội”. Để hiện thực hóa mô hình xã hội toàn diện “Kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển”, việc xác định đúng điểm xuất phát thể chế – con người, coi kỷ cương là hạt nhân trung tâm và triển khai đồng bộ hệ giải pháp chiến lược chính là con đường thực thi ngắn nhất, hiệu quả nhất đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình.
Trải qua bốn thập kỷ tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã ghi dấu những bước tiến vượt bậc mang tính lịch sử về quy mô kinh tế, hạ tầng cơ sở và vị thế quốc tế. Tăng trưởng kinh tế liên tục giữ vững đà bứt phá đã tạo nên nguồn lực vật chất to lớn, làm thay đổi sâu sắc diện mạo đất nước và nâng cao một cách căn bản đời sống nhân dân. Tuy nhiên, cùng với những thành tựu kinh tế nhanh chóng, xã hội hiện đại cũng phải đối mặt với những thách thức phức tạp chưa từng có trong lịch sử phát triển. Đó là sự gia tăng của các mâu thuẫn phân hóa giàu nghèo, áp lực gắt gao từ quá trình chuyển đổi số toàn diện, các rủi ro an ninh phi truyền thống đe dọa từ không gian mạng đến đời sống thực, cùng sự lệch chuẩn trong ứng xử công cộng và nguy cơ xói mòn trật tự pháp lý.
Trong bối cảnh lịch sử đầy biến động đó, Đại hội XIV của Đảng và trực tiếp là Hội nghị Trung ương 3 với Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 đã ban hành định hướng chiến lược vượt thời đại về “Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển”. Nghị quyết số 18-NQ/TW tuyệt đối không ra đời như một khẩu hiệu hành chính mang tính nhất thời hay một sự ứng phó ngắn hạn, mà đó là sự đúc kết sâu sắc kinh nghiệm thực tiễn bốn thập kỷ đổi mới và kết tinh tinh hoa lý luận về phát triển bền vững quốc gia.
Tầm nhìn chiến lược của nghị quyết nằm ở sự thay đổi căn bản trong tư duy phát triển: Chuyển từ tư duy “quản lý xã hội” mang tính ứng phó, bị động, mệnh lệnh sang tư duy “quản trị và kiến tạo xã hội” mang tính chủ động, hệ thống, khoa học và nhân văn. Đảng ta khẳng định một nguyên lý nền tảng: Phát triển xã hội không phải là yếu tố đi sau hay ăn theo sự phát triển kinh tế, mà phát triển xã hội phải là trụ cột song hành và cân bằng, vừa là mục tiêu hướng tới, vừa là bệ đỡ vững chắc cho toàn bộ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong kỷ nguyên mới.
Một câu hỏi mang tính phương pháp luận đặt ra đối với bất kỳ quyết sách chiến lược nào của Đảng là: Để hiện thực hóa một mô hình xã hội toàn diện như vậy, chúng ta phải bắt đầu từ đâu và lộ trình thực thi ra sao? Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, mọi sự chuyển biến xã hội dù lớn lao và tốt đẹp đến đâu cũng không thể phát sinh từ những mong muốn trừu tượng hay những lời kêu gọi suông. Để tạo ra sự dịch chuyển thực sự trong đời sống, điểm xuất phát gốc rễ phải là sự tương tác hữu cơ, sóng đôi giữa thể chế quản trị pháp quyền và con người chủ thể.
Trong mối tương tác này, thể chế chính là “khung xương” định hình và dẫn dắt mọi hành vi, tương tác xã hội; một xã hội không thể có kỷ cương nếu hệ thống pháp luật chồng chéo, thiếu minh bạch, có “kẽ hở” hoặc khó thi hành. Nền tảng đầu tiên mang tính quyết định là phải hoàn thiện hệ thống pháp luật pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính thống nhất, khả thi, công bằng và công khai tuyệt đối. Đồng thời, phải nâng cao năng lực quản trị nhà nước bằng công nghệ số và dữ liệu minh bạch để triệt tiêu triệt để cơ chế “xin - cho”, giảm thiểu hành vi cửa quyền, nhũng nhiễu và tham nhũng.
Song song với thể chế, con người vừa là mục tiêu tối thượng, vừa là chủ thể trực tiếp thực thi nghị quyết. Thể chế dù có hoàn thiện đến đâu cũng chỉ dừng lại ở một bộ khung kỹ thuật khô cứng, nếu thiếu đi ý thức tự giác tuân thủ của mỗi công dân. Do đó, sự thay đổi bền vững phải bắt đầu từ giáo dục nền tảng: từ giáo dục gia đình, giáo dục nhà trường đến môi trường văn hóa công sở, công cộng, nhằm nuôi dưỡng năng lực tự ý thức, lòng tự trọng, tri thức pháp lý và tinh thần trách nhiệm sâu sắc với cộng đồng của mỗi cá nhân.
Đi sâu vào bản chất cấu trúc của Nghị quyết 18-NQ/TW, trong chuỗi 5 thuộc tính được xác định, thực tiễn khẳng định “kỷ cương” chính là nội dung trung tâm, đóng vai trò nền tảng và hạt nhân quyết định toàn bộ các giá trị còn lại. Để làm rõ vị thế trung tâm của “kỷ cương”, cần nhìn nhận thuật ngữ này trên hai phương diện song hành và bổ trợ lẫn nhau: Kỷ cương pháp luật (pháp trị) và Kỷ cương đạo đức (đức trị). Kỷ cương là sự thừa nhận và tuân thủ tuyệt đối các chuẩn mực ứng xử chung của toàn thể xã hội, từ các cơ quan nhà nước, cán bộ đảng viên cho đến từng người dân.
Nếu thiếu đi kỷ cương, khái niệm “an toàn” chỉ còn là sự bình yên hình thức, tạm thời và dễ vỡ. Khi pháp luật bị coi nhẹ, trật tự công cộng bị xâm phạm, sự an toàn của con người và tài sản sẽ khó có thể được đảm bảo một cách trọn vẹn. Không có kỷ cương, giá trị “văn minh” chỉ dừng lại ở những hình thức phô trương, khẩu hiệu bên ngoài, bởi văn minh thật sự phải bắt nguồn từ văn hóa tuân thủ, sự tôn trọng không gian chung và quyền lợi hợp pháp của người khác. Không có kỷ cương, trạng thái “hài hòa” dễ biến dạng thành sự cào bằng, “dĩ hoà vi quý”, né tránh mâu thuẫn hoặc thỏa hiệp với các hành vi tiêu cực. Và cuối cùng, nếu thiếu đi kỷ cương, mọi nguồn lực xã hội sẽ bị lãng phí nghiêm trọng, tham nhũng và cửa quyền gia tăng, giảm sút và nguy cơ tiêu tan niềm tin xã hội, dẫn đến sự “phát triển” chệch hướng, thiếu bền vững. Như vậy, kỷ cương giữ vai trò là “chất keo kết nối” và là “màng lọc an ninh” của xã hội hiện đại, thiết lập tính dự đoán được cho các hành vi xã hội, tạo môi trường minh bạch cho các hoạt động kinh tế, và đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.
Xét về tính logic hệ thống và mối quan hệ biện chứng, Nghị quyết 18-NQ/TW không đặt ra 5 thuộc tính như những mục tiêu tách rời hay một phép cộng đại số đơn thuần. Mà 5 nội dung này hợp thành một chỉnh thể cấu trúc logic chặt chẽ, có quan hệ nhân quả và tác động qua lại lẫn nhau theo các tầng nấc phát triển: từ kỷ cương tiến tới an toàn, từ an toàn nâng tầm thành văn minh, từ văn minh lan tỏa thành hài hòa, và từ hài hòa tạo động lực trực tiếp cho phát triển.
Cụ thể, kỷ cương siết chặt trật tự pháp lý giúp triệt tiêu các hành vi vi phạm, trực tiếp mang lại sự an toàn toàn diện cho môi trường sống, môi trường đầu tư và không gian mạng; khi sự an toàn được bảo đảm vững chắc, con người mới có đủ điều kiện tâm trí để nâng cao tri thức, bồi đắp tâm hồn, hình thành lối sống văn minh; sự văn minh lại tạo tiền đề cho sự tôn trọng tính đa dạng, giải quyết các xung đột lợi ích bằng công cụ pháp trị và đối thoại, từ đó đạt được sự hài hòa giữa cá nhân và tập thể, giữa phát triển kinh tế và bảo vệ an ninh quốc gia, bảo vệ môi trường, giữa các tầng lớp xã hội; trạng thái hài hòa giúp giải phóng toàn bộ năng lượng sáng tạo của nhân dân, trở thành động lực trực tiếp thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh và bền vững. Mối quan hệ này không dừng lại ở đường thẳng một chiều mà vận hành theo chu trình quay vòng biện chứng: khi xã hội đạt tới trình độ phát triển cao hơn, đất nước sẽ tích lũy được nguồn lực vật chất, khoa học công nghệ và tri thức dồi dào để quay trở lại đầu tư củng cố hệ thống kỷ cương ở trình độ cao hơn, gia tăng năng lực bảo đảm an toàn, từ đó liên tục nâng tầm giá trị văn minh và tính hài hòa của toàn xã hội.
Để chuyển hóa tư duy lý luận xuất sắc của Nghị quyết số 18-NQ/TW thành kết quả thực tiễn sinh động, lộ trình hành động đòi hỏi phải triển khai đồng bộ hệ thống giải pháp chiến lược vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lâu dài. Trọng tâm hàng đầu là tiếp tục đẩy mạnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, siết chặt kỷ luật, kỷ cương công vụ, đẩy mạnh phòng chống tham nhũng, tiêu cực và hoàn thiện hệ thống pháp luật theo nguyên tắc nghiêm minh, không có “vùng cấm”, không có “ngoại lệ”.
Chủ động quản trị an ninh xã hội toàn diện, chuyển mạnh từ trạng thái bị động xử lý sang chủ động phòng ngừa tội phạm từ sớm, từ xa, ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống, bảo vệ sự bình yên tuyệt đối cho cuộc sống nhân dân. Tạo bước đột phá trong đổi mới giáo dục và xây dựng văn hóa, đưa văn hóa tuân thủ pháp luật vào chương trình giáo dục các cấp, xây dựng chuẩn mực ứng xử văn minh từ không gian thực đến không gian mạng. Giải quyết hài hòa các lợi ích xã hội thông qua chính sách an sinh xã hội tiến bộ, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, chăm lo cho các đối tượng yếu thế để không ai bị bỏ lại phía sau. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản trị quốc gia, xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số (công dân số) để nâng cao hiệu quả dự báo, quản lý minh bạch và phục vụ nhân dân ngày càng tốt hơn.
Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV thực sự là một tuyên ngôn phát triển có tầm vóc lịch sử. Việc xác định rõ Kỷ cương là trung tâm, thể chế và con người là điểm xuất phát, cùng nhận thức sâu sắc mối quan hệ biện chứng giữa 5 thuộc tính đã cung cấp một bản thiết kế quản trị xã hội hoàn chỉnh, khoa học và khả thi. Xây dựng một xã hội Việt Nam “Kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển” không phải là nhiệm vụ riêng của bất kỳ ngành hay cấp nào, mà là sự nghiệp cách mạng toàn diện của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Khi kỷ cương trở thành thói quen tự giác, an toàn trở thành môi trường sống tự nhiên, văn minh trở thành thước đo giá trị, hài hòa trở thành nguyên tắc ứng xử và phát triển trở thành kết quả tất yếu, Việt Nam sẽ vững vàng bước vào kỷ nguyên phát triển mới – kỷ nguyên vươn mình rực rỡ của dân tộc.