Đại hội XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lãnh đạo khi lần đầu tiên xác định mục tiêu xây dựng “xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển” là một định hướng chiến lược của thời kỳ phát triển mới. Trên cơ sở đó, Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV ban hành nghị quyết chuyên đề đầu tiên về xây dựng xã hội kể từ khi thành lập Đảng. Đây không chỉ là sự bổ sung một văn kiện mới mà còn là bước phát triển quan trọng về lý luận, khẳng định phát triển kinh tế phải gắn chặt với phát triển con người, văn hóa, bảo đảm an ninh con người và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Xây dựng xã hội – từ yêu cầu thực tiễn đến quyết sách chiến lược của Đảng
Sau gần 40 năm đổi mới, đất nước đạt nhiều thành tựu quan trọng về tăng trưởng kinh tế, giảm nghèo, mở rộng an sinh xã hội, nâng cao dân trí, chăm sóc sức khỏe Nhân dân, củng cố quốc phòng, an ninh và mở rộng đối ngoại. Tuy nhiên, thực tiễn cũng cho thấy tăng trưởng kinh tế chưa đồng nghĩa với phát triển xã hội bền vững. Khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền còn lớn; chất lượng một số dịch vụ công chưa đáp ứng yêu cầu; vi phạm pháp luật, tội phạm, tệ nạn xã hội, ô nhiễm môi trường và những thách thức từ chuyển đổi số, an ninh phi truyền thống, già hóa dân số, biến đổi khí hậu tiếp tục đặt ra nhiều vấn đề mới.
Thực tiễn đó đòi hỏi phải đổi mới tư duy phát triển. Nghị quyết khẳng định xây dựng xã hội không chỉ là kết quả của phát triển kinh tế mà là một trụ cột của mô hình phát triển quốc gia, được đặt ngang tầm với phát triển kinh tế, xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Quan điểm này thể hiện nhận thức sâu sắc của Đảng: một quốc gia chỉ phát triển bền vững khi người dân được sống trong môi trường kỷ cương, an toàn, văn minh, nhân văn; pháp luật được thượng tôn; niềm tin xã hội được củng cố; con người được phát triển toàn diện và thụ hưởng công bằng thành quả đổi mới. Đó cũng là sự cụ thể hóa quan điểm nhất quán của Đảng về lấy con người làm trung tâm, vừa là mục tiêu, vừa là chủ thể và động lực của sự phát triển.
Phát triển tư duy của Đảng về xây dựng xã hội trong kỷ nguyên mới
Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển đánh dấu bước phát triển quan trọng trong tư duy của Đảng về phát triển xã hội. Đây không chỉ là nghị quyết giải quyết các vấn đề xã hội, mà xác lập mô hình phát triển xã hội xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, lần đầu tiên xây dựng xã hội được xác định là một trụ cột của mô hình phát triển quốc gia. Nếu trước đây phát triển xã hội chủ yếu được nhìn nhận thông qua các chính sách an sinh, giáo dục, y tế, văn hóa, thì Nghị quyết khẳng định xây dựng xã hội là sự nghiệp chiến lược của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Thành tựu phát triển không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô nền kinh tế mà còn bằng chất lượng quản trị quốc gia, trình độ phát triển con người, niềm tin xã hội và hạnh phúc của Nhân dân. Đây là sự cụ thể hóa quan điểm phát triển lấy con người làm trung tâm, hướng tới mục tiêu cao nhất là nâng cao chất lượng cuộc sống và hạnh phúc của Nhân dân.
Thứ hai, chuyển mạnh từ tư duy “quản lý xã hội” sang “quản trị xã hội hiện đại”. Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, mô hình quản lý truyền thống không còn đáp ứng yêu cầu phát triển. Nghị quyết xác định xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại, lấy người dân làm trung tâm, văn hóa làm nền tảng, pháp luật làm trụ cột, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số làm động lực. Quản trị xã hội không chỉ là điều hành mà còn là kiến tạo môi trường để người dân phát triển, tham gia quản lý xã hội và được thụ hưởng công bằng thành quả phát triển.
Thứ ba, đặt an ninh con người ở vị trí trung tâm của quá trình phát triển. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng, khẳng định mọi chủ trương, chính sách đều hướng tới bảo vệ con người, bảo đảm để mỗi người dân được sống an toàn, có cơ hội phát triển và được tiếp cận công bằng các dịch vụ thiết yếu. Bảo đảm an ninh con người vì thế không chỉ là nhiệm vụ của các lực lượng bảo vệ pháp luật mà là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, gắn chặt với phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, môi trường và củng cố quốc phòng, an ninh.
Thứ tư, xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, hướng tới hình thành “trật tự tự thân” của xã hội. Nghị quyết không chỉ yêu cầu tăng cường quản lý bằng pháp luật mà hướng tới mục tiêu cao hơn là xây dựng ý thức tự giác chấp hành pháp luật và chuẩn mực đạo đức của mỗi cá nhân. Khi pháp luật trở thành nhu cầu tự thân trong ứng xử, xã hội sẽ giảm chi phí quản lý, nâng cao hiệu quả quản trị, củng cố niềm tin và tạo nền tảng bền vững cho phát triển.
Thứ năm, đổi mới tiêu chí đánh giá sự phát triển của đất nước. Bên cạnh các chỉ tiêu kinh tế, Nghị quyết yêu cầu coi trọng các chỉ số phản ánh chất lượng phát triển như mức độ hài lòng của người dân, chỉ số phát triển con người, niềm tin xã hội, hiệu quả quản trị và chất lượng môi trường sống. Điều đó khẳng định mục tiêu cuối cùng của phát triển không chỉ là tăng trưởng kinh tế mà là xây dựng một xã hội văn minh, hạnh phúc và phát triển bền vững.
Năm quan điểm trên tạo thành một chỉnh thể thống nhất, định hình mô hình xã hội Việt Nam trong kỷ nguyên mới: lấy con người làm trung tâm, pháp luật làm nền tảng, văn hóa làm sức mạnh nội sinh, quản trị hiện đại làm động lực và sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại làm phương thức phát triển bền vững.
Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển trở thành nền tảng của phát triển bền vững
Nếu những quan điểm chỉ đạo của Nghị quyết xác định mô hình xã hội cần xây dựng, thì các nhiệm vụ, giải pháp là điều kiện để hiện thực hóa mô hình đó. Trọng tâm là đổi mới phương thức quản trị, nâng cao chất lượng phát triển và củng cố sức mạnh nội sinh của đất nước.
Trước hết, cần tạo chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức trong toàn hệ thống chính trị. Xây dựng xã hội không phải là nhiệm vụ riêng của từng ngành, từng lĩnh vực mà là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân. Mọi chủ trương, chính sách và hoạt động quản lý nhà nước đều phải hướng tới nâng cao chất lượng cuộc sống, củng cố niềm tin xã hội và tăng cường sự gắn kết cộng đồng.
Cùng với đó, phải xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật trở thành nền tảng của đời sống xã hội. Điều cốt lõi không chỉ là hoàn thiện hệ thống pháp luật mà còn hình thành ý thức tự giác chấp hành pháp luật của mỗi cán bộ, đảng viên và người dân. Đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu, phải thực sự gương mẫu, đề cao trách nhiệm giải trình, công khai, minh bạch và tinh thần phục vụ Nhân dân, qua đó từng bước hình thành “trật tự tự thân” trong xã hội.
Nghị quyết cũng đặt con người ở vị trí trung tâm của mọi chính sách phát triển. Vì vậy, cần tiếp tục đầu tư cho giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, văn hóa, y tế và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đồng thời chú trọng bồi dưỡng lý tưởng cách mạng, ý thức công dân, đạo đức, lối sống và khát vọng cống hiến, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên số.
Một yêu cầu quan trọng khác là xây dựng nền quản trị xã hội hiện đại trên nền tảng chuyển đổi số và dữ liệu. Cần đẩy mạnh phát triển Chính phủ số, chính quyền số, xã hội số; nâng cao năng lực dự báo, quản trị rủi ro; bảo đảm an toàn dữ liệu, an ninh mạng và chủ động ứng phó hiệu quả với các thách thức an ninh phi truyền thống.
Đặc biệt, bảo đảm an ninh con người phải gắn chặt với củng cố quốc phòng, an ninh và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Một xã hội ổn định, người dân được bảo vệ, được thụ hưởng thành quả phát triển và có niềm tin vào Đảng, Nhà nước sẽ tạo nên “thế trận lòng dân” vững chắc – nền tảng của nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước.
Để Nghị quyết đi vào cuộc sống, cần khẩn trương thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng thành pháp luật, cơ chế và chính sách đồng bộ; đồng thời tăng cường giám sát việc thực hiện, lấy chất lượng cuộc sống, mức độ hài lòng và niềm tin của Nhân dân làm thước đo hiệu quả quản trị quốc gia.
Xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển trở thành nền tảng vững chắc cho khát vọng phát triển đất nước
Nghị quyết về xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển không chỉ giải quyết những vấn đề xã hội trước mắt mà còn xác lập một mô hình phát triển quốc gia phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên mới. Nếu phát triển kinh tế tạo ra nguồn lực vật chất, Chiến lược An ninh quốc gia tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định, thì xây dựng xã hội chính là nền tảng hình thành nguồn lực con người, củng cố niềm tin xã hội và phát huy sức mạnh nội sinh của đất nước. Ba trụ cột đó gắn bó hữu cơ, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững.
Thành công của nghị quyết phụ thuộc trước hết vào việc thể chế hóa đầy đủ các quan điểm của Đảng thành hệ thống pháp luật, cơ chế và chính sách đồng bộ; đồng thời phát huy vai trò của cả hệ thống chính trị, sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ, đảng viên và sự tham gia tích cực của Nhân dân trong xây dựng văn hóa thượng tôn pháp luật, củng cố kỷ cương và trách nhiệm xã hội.
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng quản trị quốc gia, việc xây dựng xã hội kỷ cương, an toàn, văn minh, hài hòa, phát triển không chỉ là mục tiêu của chính sách xã hội mà còn là điều kiện bảo đảm ổn định chính trị, tăng cường quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả đối ngoại và khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Đó cũng chính là nền tảng vững chắc để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và hùng cường trong kỷ nguyên mới.