Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng

Năm 1838, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam, với ý nghĩa nước Nam lớn mạnh. Đằng sau danh xưng đầy kiêu hãnh và tự hào đó, triều Nguyễn đã có chiến lược ngoại giao đáng chú ý nào đối với láng giềng?

Chuyện đổi quốc hiệu

Vua triều Nguyễn cho sự thể bang giao là một việc quan trọng. Sách Đại Nam thực lục chép, năm Gia Long thứ nhất (1802), vua lấy Tham tri Bộ Binh Lê Quang Định làm Thượng thư Bộ Binh, sung Chánh sứ sang nước Thanh… Vua hạ lệnh cho Quang Định đem quốc thư và phẩm vật (2 cân kỳ nam, 2 cặp ngà voi, 4 tòa sừng tê, 100 cân trầm hương, 200 cân tốc hương và trừu, the, vải đều 200 tấm) đi xin phong và xin đổi quốc hiệu làm Nam Việt. Vua Thanh cho rằng chữ Nam Việt giống chữ Đông Tây Việt nên không muốn cho. Vua Gia Long hai, ba lần phục thư để biện giải, lại nói nếu vua Thanh không cho thì không chịu phong. Vua Thanh sợ mất lòng nước ta, mới dùng chữ Việt Nam để đặt tên nước. Đến đây vua Thanh sai Bố Sâm đem cáo sắc và quốc ấn đến phong (1804).

Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng -0
Chánh sứ triều Nguyễn

Nhưng đến năm 1838, không cần thông qua nhà Thanh, vua Minh Mạng đã quyết định đổi tên nước từ Việt Nam thành Đại Nam với ý nghĩa nước Nam lớn mạnh. Từ đây, mọi xưng hô, văn bản, ngay cả các văn bản ngoại giao cũng đều phải theo đó tuân hành.

Vẻ vang quốc thể

Cổ nhân đúc kết: “Trị hay loạn ở tướng văn, thắng hay bại ở tướng võ, vinh hay nhục ở sứ thần”. Nói đến sự nghiệp ngoại giao của triều Nguyễn trong quan hệ với Trung Quốc, không thể không nhắc đến vai trò của các sứ thần với tư cách là những nhà ngoại giao trực tiếp thực hiện sứ mệnh cao cả mà đất nước giao phó “toàn quân mệnh, tráng quốc uy” (làm tròn mệnh vua, vẻ vang quốc thể).

Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng -0
Lãnh thổ Việt Nam dưới triều Minh Mạng (Nguồn: Võ Hương An)

Về việc chọn người đi sứ, vua Minh Mạng cho rằng: “Đi sứ phải chọn người tài đức”, trong đó khả năng ứng đối là yếu tố rất quan trọng: “Các ngươi ứng đối không được kiêu căng cho người ngoài ghét. Không được nói hèn khuất cho người ngoài khinh. Việc đi sứ, cốt sao lời lẽ cho khéo mà thôi”. Nhà vua nhấn mạnh: “Việc đi sứ không ví như việc tầm thường đi lại để giao hiếu khác, sắc cho văn võ thuộc các nha sáu bộ, ai có thể lĩnh sứ mạng cho tự tiến lên”.

Sau đó, với những người dâng biểu xin đi, vua sai đình thần sát hạch. Văn bản của đình thần ban Văn năm Tự Đức 23 (1870) về việc cử người đi sứ Thanh viết: “Chúng thần vâng mệnh hội đồng tuyển chọn ba viên quan làm sứ thần đều là người có học thức uyên thâm”.

Các sứ thần, bên cạnh sứ mệnh ngoại giao, còn có nhiệm vụ tìm hiểu về con người, phong vật nước Thanh. Vua Minh Mạng cho rằng bản nhật ký về việc đi sứ chỉ ghi tên đất và số dặm đường, còn tình hình dân và công việc nước, không đề cập đến là chưa đạt yêu cầu. Các sứ thần cần phải hỏi han dân tình được sung sướng hay bị đau khổ, trong nước có tai biến hay có điềm lành, ghi chép rõ ràng, còn tên đất và số dặm đường đã có sách chép, có thể khảo cứu được, không cần đề cập nữa.

Năm Tự Đức 2 (1849), các viên đã đi sứ nước Thanh là Bùi Quỹ, Vương Hữu Quang và Nguyễn Du đệ trình quốc thư mời sứ nước Thanh đến Kinh đô nước ta làm lễ bang giao. Vừa mới nhận được quốc thư, họ đã đồng ý ngay. Công lao này của sứ bộ đã được nhà vua ghi nhận: “Bọn họ đem mệnh nước đã thực hiện công việc xuất sắc dẫn đến thành công, thật đáng khen thưởng, nên cần ban ơn. Gia ơn truyền thưởng cho Chánh sứ Bùi Quỹ 3 tấm lụa sa mầu. Phó sứ thứ nhất là Vương Hữu Quang và Phó sứ thứ hai là Nguyễn Du cũng thưởng mỗi người 2 tấm lụa sa mầu. Ba viên trên đều thưởng thêm cho mỗi người 1 cấp. Những người tùy tùng đều có công lao, vất vả nên thưởng chung 200 quan tiền, giao cho bọn Bùi Quỹ phân hạng chia cấp”.

Sứ bộ nước ta từ nước Thanh trở về, Bộ Binh cho các tỉnh đạo tiếp giáp nhau trên đường điều binh trạm dân phu đến các nơi địa đầu đợi đón đoàn sứ bộ và khiêng hàng hóa để sớm về kinh, lại sẽ tư cho tỉnh Lạng theo lệ chuẩn bị đầy đủ phẩm vật để tặng quan viên nước Thanh.

Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng -0
Họa đồ hành trình đi sứ Trung Hoa thời Minh Mạng (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)

Đại lễ bang giao

Đại lễ bang giao tiếp sứ bộ thường được tổ chức trước điện Thái Hòa. “Việc có liên quan đến điển lệ lớn, người xa trông vào” và “sự đưa đón giao tế có điều không được chu đáo thì sự việc tuy nhỏ cũng liên quan đến quốc thể rất lớn” - điều này được khẳng định trong nhiều văn bản hành chính của triều đình - Châu bản triều Nguyễn (hiện được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I).

Trong một văn bản năm Tự Đức thứ 2 (1849), Giám sát Ngự sử đạo Bình Phú tâu về việc đón tiếp sứ bộ nước Thanh. Văn bản nhấn mạnh: “Nay sứ kỳ đã đến gần, việc khoản tiếp trên đường đi cũng nhiều”, “sự đưa đón giao tế nếu có điều không được chu đáo thì sự việc tuy nhỏ cũng liên quan đến quốc thể rất lớn”. Vì vậy, “từ nay về sau hễ thấy sứ nước Thanh đến, việc đưa đón nhất thiết phải hợp nghi thức, tuân theo nghị bàn của bộ để làm cho ổn thỏa, cốt phải chu đáo. Đến khi họ trở về càng nên ân cần chu đáo gấp bội, khiến cho cảm động lòng người, cũng không nên biểu hiện chút gì lười biếng, để tỏ đạo nghĩa cao đẹp”.

Một Châu bản triều Tự Đức còn cho hậu thế biết thêm thông tin phong phú, cụ thể về hoạt động tiếp sứ: Ba bài thơ Hoàng đế Tự Đức làm đề vào chiếc quạt tặng quan Đề đốc nhà Thanh Phùng Tử Tài được giao cho đình thần ban Văn xem lại cẩn thận, xem có vấn đề gì quan ngại không thì lập tức phúc trình đợi phê chuẩn trước khi gửi đi.

Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng -0
Bản tâu năm Minh Mạng thứ 8 (1827) cho biết Quốc vương Cao Miên bày tỏ lòng biết ơn khi được nước ta chẩn cấp cứu đói do mùa màng thất bát. (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia)

Với các tiểu quốc phía Tây Nam nước ta

Châu bản triều Nguyễn ghi chép lại không ít lần quốc vương các nước phía Tây Nam nước ta như Cao Miên, Vạn Tượng, Nam Chưởng, Thủy Xá, Hỏa Xá… tạ ơn triều Nguyễn đã cứu đói khi họ gặp thiên tai hay trợ giúp họ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập.

Châu bản năm Minh Mạng 8 (1827) cho biết Quốc vương Cao Miên tạ ơn nước ta: “Nay căn cứ theo báo cáo của quan thống chế bảo hộ Cao Miên quốc ấn Nguyễn Văn Thụy và công văn của Quốc vương Cao Miên, những năm gần đây, mùa màng thất bát, vào thu lại gặp nạn nước to, quân dân nước này phần nhiều bị thiếu đói… Nay quốc vương đem gộp hai khoản chẩn cấp làm sớ bày tỏ lời cảm ơn, mang đến thành mong chúng thần đề đạt thay”.

Một Châu bản tâu báo về tình hình Vạn Tượng cho chúng ta thấy rõ hơn vai trò của cường quốc Đại Nam: Quốc vương nước Vạn Tượng từ sau ngày đến Tam Động, từng sai người về Thành dò biết quân Xiêm chừng hơn ngàn người đã đóng quân ở trong thành, nhân dân tan tác khắp nơi, mong nhà vua trở về thành, nếu không thì sẽ bị nước Xiêm lấy mất. Quốc vương ấy vội đem sự việc chuyển trình, mong Hoàng thượng ta phái quân đến bảo hộ, khiến cho nước ấy hàng năm sắm lễ cống nạp, mãi làm dân vùng biên, khỏi bị quân Xiêm quấy nhiễu. Văn bản năm Minh Mạng thứ 8.

Nhận được cầu khẩn, vua Minh Mạng đã lệnh cho Trần Lợi Trinh sung làm Tham tán quân vụ đại thần đến trấn đó sắp đặt việc biên giới. Nhờ đó, tình hình ở biên giới đã dần dần đi vào ổn định. Nội dung này được đề cập trong Chiếu thăng cấp cho Thượng thư Trần Lợi Trinh vì đã có công. Văn bản ngày 18 tháng 12 năm Minh Mạng 8 (1827).

Bản tâu của Bộ Binh ngày 23 tháng 5 năm Minh Mạng 21 (1840) về quan hệ giữa nước ta và Cao Miên viết: “Nguyên nước Cao Miên từ lâu đã nội thuộc (nước ta) hơn 100 năm nay. Đến thời Thế Tổ Cao Hoàng Đế, nước ấy phụng sự kính cẩn, nên được gia phong trọng hậu như dân trong nước. Khoảng năm Gia Long, nước ấy bị quân Xiêm xâm lược chiếm cứ Nam Vang, cố quốc vương ấy tự bỏ nước mình, một mình chạy đến thành Gia Định, nước Cao Miên không còn là sở hữu của quốc vương ấy nữa. Trẫm vâng theo mệnh lệnh của vua cha ta Thế Tổ Cao Hoàng đế đem quân đi đánh đuổi quân Xiêm khôi phục nước đó.

Chuyện nhận cống nạp

Các nước Cao Miên, Vạn Tượng, Nam Chưởng, Thủy Xá, Hỏa Xá… thường sai sứ sang triều cống vua triều Nguyễn và được nhà vua ban thưởng. Sách Đại Nam thực lục chép, Năm Gia Long thứ 10 (1811), nước Vạn Tượng sai sứ đến cống, lại đưa trả về hơn ba chục người lính trốn. Vua bảo Nguyễn Văn Thành và Phạm Như Đăng rằng: “Vạn Tượng đã nộp lễ cống hằng năm, lại trả lính trốn về, đủ thấy lòng thành thực. Nên nhân đấy ban chiếu khen ngợi để cho yên lòng… Thế là Vạn Tượng là nước phên giậu miền thượng đạo của ta đấy”.

Văn bản năm Thiệu Trị 4 (1844) chuẩn định cho hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá ba năm cống nạp một lần.

Ngoài ra, ở giữa các tiểu quốc và dãy Trường Sơn là các cộng đồng người đương thời được nhà Nguyễn gọi là “man”. Các “man” này ban đầu tự trị và chịu lệ cống nạp, nhưng về sau, dưới sự đe dọa của quân Xiêm, họ tự nguyện sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Vua Minh Mạng cho đặt thành phủ, huyện và đặt quan cai trị.

Một văn bản triều Thiệu Trị chép: Hoàng thượng buổi đầu nối nghiệp nên ban phát ân trạch, gia ơn miễn thuế cho các địa phương, trong đó có đoạn: “Các phủ Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị, Trấn Man thuộc tỉnh Thanh Hóa và bốn phủ thuộc tỉnh Nghệ An là Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Tĩnh, Trấn Biên cùng hai huyện mới lệ thuộc phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh làm Cam Môn, Cam Cát, thổ dân của các phủ huyện đó đã lệ thuộc sổ tịch của triều đình từ lâu”.

Trong quan hệ với Trung Quốc, dù bề ngoài triều Nguyễn tỏ ra thần phục nhưng luôn âm thầm tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của cường quốc phương Bắc. Trong khi đó, đối với các tiểu quốc Tây Nam, triều Nguyễn lại luôn đóng vai trò là chỗ dựa vững chắc, sẵn sàng đưa tay cứu giúp mỗi khi họ gặp hiểm nguy, thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với các nước láng giềng.

Hồng Nhung

Các tin khác

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Bầy voi trong cánh rừng tái sinh

Voi luôn là biểu tượng của sức mạnh, sự hiền hòa và mối quan hệ gắn kết giữa con người với thiên nhiên. Sự nỗ lực bảo tồn của các cấp ngành và người dân suốt nhiều năm đang giúp hồi sinh biểu tượng của một vùng đất nhiều huyền thoại.

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kỳ 5: Thất bại của một kế hoạch hoàn hảo

Kéo dài suốt 10 năm với rất nhiều công sức chuẩn bị, đầu tư con người, trang bị vũ khí tối tân nhất, tuy nhiên, CIA chỉ nhận được những bản báo cáo giả; chi viện lực lượng, vũ khí theo kế hoạch của an ninh miền Bắc.

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Đơn vị bảo vệ đặc biệt trong kháng chiến chống Mỹ

Thắng lợi của Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử là thắng lợi vĩ đại nhất, trọn vẹn nhất, kết thúc chặng đường 21 trường kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Góp phần đặc biệt quan trọng làm nên thành công đó phải kể đến những đóng góp thầm lặng của CBCS Đoàn 180 An ninh vũ trang miền Nam - Đơn vị tiền thân của Phòng Bảo vệ 180 (Phòng Cảnh vệ miền Nam), Bộ Tư lệnh Cảnh vệ ngày nay.

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

Chuyện tình thời chiến của cựu tù Côn Đảo

10 năm chịu đòn tra tấn trong ngục tù, 10 năm chờ đợi một tình yêu, đất nước được giải phóng, họ nên duyên vợ chồng. Đó là câu chuyện về một thế hệ yêu nhau thủy chung trong gian khó. Tình yêu của họ chưa bao giờ tách rời tình yêu Tổ quốc...

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Tăng cường quản lý xuất, nhập cảnh, đảm bảo an ninh biên giới

Phòng quản lý xuất, nhập cảnh Công an tỉnh Tây Ninh phối hợp chặt chẽ với Phòng An ninh điều tra và Công an các xã (đặc biệt là tuyến biên giới), đồn biên phòng siết chặt quản lý lưu trú và quản lý xuất nhập cảnh tại các cửa khẩu, phối hợp tuần tra, kiểm soát. Chỉ trong thời gian từ đầu tháng 5 đến nay, các đơn vị phối hợp đã kịp thời phát hiện, xử lý hàng trăm đối tượng vi phạm pháp luật, ngăn chặn hàng trăm trường hợp không đủ điều kiện nhập cảnh vào trong nước, bắt giữ hàng chục đối tượng có tiền án giao cho Công an các địa phương xử lý theo pháp luật; khởi tố nhiều băng nhóm tổ chức cho người nước ngoài nhập cảnh và lưu trú trái phép…

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Kỳ 4: Đấu trí qua điện đài

Sau khi khuất phục được toán Castor và Phạm Chuyên, Ban Chuyên án quyết định triển khai “trò chơi nghiệp vụ” khi cho Phạm Chuyên và Lò Văn Piếng lên máy liên lạc vào Nam, một cuộc chiến qua sóng điện đài chính thức bắt đầu.

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Người Anh hùng trên dãy Trường Sơn

Giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ, nơi những con suối reo vang hòa cùng tiếng gió ngàn của xã biên giới Avương (Đà Nẵng), có một “ngọn núi lớn” trong lòng đồng bào Cơ Tu. Đó là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (LLVTND) Arất Blư. Ở tuổi 88, đôi chân ấy có thể đã chậm, mái đầu đã bạc trắng như sương sớm, nhưng ký ức về một thời hoa lửa và cái tâm sáng của một người Cộng sản vẫn rực cháy như ngọn lửa thiêng giữa nhà Gươl.

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trưởng Công an xã đi qua “một thời đạn bom, một thời hòa bình”

Trải qua những trận đánh giữa lòng Sài Gòn, nếm đủ đòn roi tra tấn thảm khốc trong lao tù, ông dường như đã chai sạn trước cái chết. Bản lĩnh của một cựu tù Côn Đảo trở về từ “địa ngục trần gian” giúp ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một Trưởng Công an xã những ngày mới giải phóng.

Cổ phục Việt góp phần thu hút khách du lịch, quảng bá hình ảnh Việt Nam.

Cổ phục Việt - Từ bảo tàng ra phố

Từ những hiện vật lặng lẽ trong bảo tàng đến các không gian văn hóa, di tích và mạng xã hội, cổ phục Việt đang có một hành trình trở lại đầy ấn tượng. Sự hồi sinh ấy đến từ những con người đang biến cổ phục thành chiếc cầu nối với quá khứ, để di sản không dừng lại ở ký ức mà tiếp tục sống trong hiện tại bằng những cách rất mới.

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Nước mắt của mẹ và "chìa khóa"... ADN

Trong những ngày tháng Bảy tri ân, khi cả dân tộc đang hướng về Ngày thương binh - liệt sĩ (27/7) với tấm lòng tri ân sâu sắc trước những hy sinh cao cả của các anh hùng liệt sĩ, tại tỉnh Quảng Ngãi, lực lượng Công an tỉnh đang triển khai Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ với tất cả sự khẩn trương, trách nhiệm và lòng thành kính. Những giọt máu, những mẫu sinh phẩm được lấy đi không chỉ là dữ liệu khoa học, mà là niềm hy vọng, nhóm lên ngọn lửa đoàn tụ cho biết bao gia đình mòn mỏi đợi chờ suốt nhiều thập kỷ qua.

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Hành trình thế kỷ của cựu chiến binh Semyon Lyulko

Lịch sử Chiến tranh Vệ quốc vĩ đại thường được ghi dấu bằng những trận đánh lớn và tên tuổi của các anh hùng. Nhưng phía sau những tấm bản đồ chiến dịch đồ sộ là sự cống hiến và chiến công của hàng triệu con người. Nhân kỷ niệm 85 năm ngày phát xít Đức tấn công Liên Xô (22/6/1941 - 22/6/2026), xin trân trọng giới thiệu câu chuyện về người lính cận vệ Semyon Lyulko - một mảnh ghép bình dị góp phần làm nên chiến thắng vĩ đại.

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Chiến trường trên màn hình điện thoại

Một ứng dụng nhắc giờ cầu nguyện ở Iran bất ngờ phát đi thông điệp kêu gọi buông vũ khí giữa lúc chiến sự leo thang. Vụ việc cho thấy chiến tranh hiện đại không chỉ đánh vào căn cứ quân sự hay mạng lưới chỉ huy, mà còn len vào những không gian riêng tư nhất của đời sống số: màn hình điện thoại, thói quen hằng ngày và cả niềm tin tôn giáo.

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Mất tích 28 ngày, ám ảnh suốt gần 3 thế kỷ

Đêm 29/1/1753, Elizabeth Canning, một cô hầu gái 18 tuổi ở London, trở về nhà sau 28 ngày mất tích. Người cô gầy rộc, chân không giày, đầu quấn một mảnh vải thấm máu. Cô kể rằng mình bị cướp, rồi bị đưa đến một căn nhà ở Enfield Wash, bị một phụ nữ người Romani nhốt trên gác xép suốt gần một tháng. Lời khai ấy khiến một người bị kết án tử hình, chia London thành hai phe và cuối cùng đưa chính Elizabeth ra tòa vì tội khai man.

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

Bài cuối: Những cú lừa ngoạn mục

27 chuyên án. Gần 1.000 tên gián điệp biệt kích bị bắt, tiêu diệt. Hàng trăm tấn vũ khí, thuốc men, nhu yếu phẩm bị thu giữ. Và CIA, trong suốt hơn 10 năm đó, không biết mình đã thua. Tất cả bắt đầu từ 4 người ngồi trong khoang tối của chiếc C-47.

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Bài 2: Chuyên án CM12 - Lưới giăng ngoạn mục

Chuyện xảy ra cách đây trên 40 năm trên miền đất cực Nam Tổ quốc tại Hòn Đá Bạc, thuộc xã Bình Khánh Tây, huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau, trở thành huyền thoại và chiến công của lực lượng An ninh nhân dân Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ quốc.

 Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Bài 1: Trường kỳ mai phục - Bí ẩn Chuyên án C30

Ngày 22/8/1954, 16 người rời Hải Phòng. Họ xuống tàu ra vịnh Hạ Long, lên chiến hạm 125 của Pháp, nhìn bờ biển Việt Nam nhạt dần phía sau mạn tàu. Một tuần trên biển. Rồi đảo Okinawa, nơi nhân viên tình báo Mỹ chờ sẵn để khám sức khỏe, lấy lý lịch, loại bớt 3 người không đủ tiêu chuẩn. Số còn lại lên máy bay chở thẳng đến đảo Guam ngoài khơi Thái Bình Dương.

Những hồ sơ cùng được giải mã

Những hồ sơ cùng được giải mã

Trung tuần tháng 3/2025, Mỹ đã công bố những tài liệu cuối cùng liên quan đến vụ ám sát Tổng thống John F. Kennedy tại Dallas năm 1963. Nhân sự kiện trên, tạp chí Chuyện xứ người (ODC) Mỹ cập nhật nhiều hồ sơ còn “thú vị hơn” cả vụ ám sát JKF đã được CIA giải mã “toàn tập”.

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Ngăn chặn ma túy ngay từ cơ sở

Vừa tiếp giáp với trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước đó là TP Hồ Chí Minh, lại có gần 369km đường biên giới tiếp giáp với nước bạn Campuchia nên Tây Ninh luôn tiềm ẩn phức tạp do các đối tượng tội phạm luôn rình rập tuồn ma túy qua biên giới để tiêu thụ tại chỗ và trung chuyển đến các tỉnh thành lân cận tiêu thụ.