Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng

Năm 1838, vua Minh Mạng cho đổi quốc hiệu là Đại Nam, với ý nghĩa nước Nam lớn mạnh. Đằng sau danh xưng đầy kiêu hãnh và tự hào đó, triều Nguyễn đã có chiến lược ngoại giao đáng chú ý nào đối với láng giềng?

Chuyện đổi quốc hiệu

Vua triều Nguyễn cho sự thể bang giao là một việc quan trọng. Sách Đại Nam thực lục chép, năm Gia Long thứ nhất (1802), vua lấy Tham tri Bộ Binh Lê Quang Định làm Thượng thư Bộ Binh, sung Chánh sứ sang nước Thanh… Vua hạ lệnh cho Quang Định đem quốc thư và phẩm vật (2 cân kỳ nam, 2 cặp ngà voi, 4 tòa sừng tê, 100 cân trầm hương, 200 cân tốc hương và trừu, the, vải đều 200 tấm) đi xin phong và xin đổi quốc hiệu làm Nam Việt. Vua Thanh cho rằng chữ Nam Việt giống chữ Đông Tây Việt nên không muốn cho. Vua Gia Long hai, ba lần phục thư để biện giải, lại nói nếu vua Thanh không cho thì không chịu phong. Vua Thanh sợ mất lòng nước ta, mới dùng chữ Việt Nam để đặt tên nước. Đến đây vua Thanh sai Bố Sâm đem cáo sắc và quốc ấn đến phong (1804).

Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng -0
Chánh sứ triều Nguyễn

Nhưng đến năm 1838, không cần thông qua nhà Thanh, vua Minh Mạng đã quyết định đổi tên nước từ Việt Nam thành Đại Nam với ý nghĩa nước Nam lớn mạnh. Từ đây, mọi xưng hô, văn bản, ngay cả các văn bản ngoại giao cũng đều phải theo đó tuân hành.

Vẻ vang quốc thể

Cổ nhân đúc kết: “Trị hay loạn ở tướng văn, thắng hay bại ở tướng võ, vinh hay nhục ở sứ thần”. Nói đến sự nghiệp ngoại giao của triều Nguyễn trong quan hệ với Trung Quốc, không thể không nhắc đến vai trò của các sứ thần với tư cách là những nhà ngoại giao trực tiếp thực hiện sứ mệnh cao cả mà đất nước giao phó “toàn quân mệnh, tráng quốc uy” (làm tròn mệnh vua, vẻ vang quốc thể).

Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng -0
Lãnh thổ Việt Nam dưới triều Minh Mạng (Nguồn: Võ Hương An)

Về việc chọn người đi sứ, vua Minh Mạng cho rằng: “Đi sứ phải chọn người tài đức”, trong đó khả năng ứng đối là yếu tố rất quan trọng: “Các ngươi ứng đối không được kiêu căng cho người ngoài ghét. Không được nói hèn khuất cho người ngoài khinh. Việc đi sứ, cốt sao lời lẽ cho khéo mà thôi”. Nhà vua nhấn mạnh: “Việc đi sứ không ví như việc tầm thường đi lại để giao hiếu khác, sắc cho văn võ thuộc các nha sáu bộ, ai có thể lĩnh sứ mạng cho tự tiến lên”.

Sau đó, với những người dâng biểu xin đi, vua sai đình thần sát hạch. Văn bản của đình thần ban Văn năm Tự Đức 23 (1870) về việc cử người đi sứ Thanh viết: “Chúng thần vâng mệnh hội đồng tuyển chọn ba viên quan làm sứ thần đều là người có học thức uyên thâm”.

Các sứ thần, bên cạnh sứ mệnh ngoại giao, còn có nhiệm vụ tìm hiểu về con người, phong vật nước Thanh. Vua Minh Mạng cho rằng bản nhật ký về việc đi sứ chỉ ghi tên đất và số dặm đường, còn tình hình dân và công việc nước, không đề cập đến là chưa đạt yêu cầu. Các sứ thần cần phải hỏi han dân tình được sung sướng hay bị đau khổ, trong nước có tai biến hay có điềm lành, ghi chép rõ ràng, còn tên đất và số dặm đường đã có sách chép, có thể khảo cứu được, không cần đề cập nữa.

Năm Tự Đức 2 (1849), các viên đã đi sứ nước Thanh là Bùi Quỹ, Vương Hữu Quang và Nguyễn Du đệ trình quốc thư mời sứ nước Thanh đến Kinh đô nước ta làm lễ bang giao. Vừa mới nhận được quốc thư, họ đã đồng ý ngay. Công lao này của sứ bộ đã được nhà vua ghi nhận: “Bọn họ đem mệnh nước đã thực hiện công việc xuất sắc dẫn đến thành công, thật đáng khen thưởng, nên cần ban ơn. Gia ơn truyền thưởng cho Chánh sứ Bùi Quỹ 3 tấm lụa sa mầu. Phó sứ thứ nhất là Vương Hữu Quang và Phó sứ thứ hai là Nguyễn Du cũng thưởng mỗi người 2 tấm lụa sa mầu. Ba viên trên đều thưởng thêm cho mỗi người 1 cấp. Những người tùy tùng đều có công lao, vất vả nên thưởng chung 200 quan tiền, giao cho bọn Bùi Quỹ phân hạng chia cấp”.

Sứ bộ nước ta từ nước Thanh trở về, Bộ Binh cho các tỉnh đạo tiếp giáp nhau trên đường điều binh trạm dân phu đến các nơi địa đầu đợi đón đoàn sứ bộ và khiêng hàng hóa để sớm về kinh, lại sẽ tư cho tỉnh Lạng theo lệ chuẩn bị đầy đủ phẩm vật để tặng quan viên nước Thanh.

Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng -0
Họa đồ hành trình đi sứ Trung Hoa thời Minh Mạng (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia I)

Đại lễ bang giao

Đại lễ bang giao tiếp sứ bộ thường được tổ chức trước điện Thái Hòa. “Việc có liên quan đến điển lệ lớn, người xa trông vào” và “sự đưa đón giao tế có điều không được chu đáo thì sự việc tuy nhỏ cũng liên quan đến quốc thể rất lớn” - điều này được khẳng định trong nhiều văn bản hành chính của triều đình - Châu bản triều Nguyễn (hiện được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I).

Trong một văn bản năm Tự Đức thứ 2 (1849), Giám sát Ngự sử đạo Bình Phú tâu về việc đón tiếp sứ bộ nước Thanh. Văn bản nhấn mạnh: “Nay sứ kỳ đã đến gần, việc khoản tiếp trên đường đi cũng nhiều”, “sự đưa đón giao tế nếu có điều không được chu đáo thì sự việc tuy nhỏ cũng liên quan đến quốc thể rất lớn”. Vì vậy, “từ nay về sau hễ thấy sứ nước Thanh đến, việc đưa đón nhất thiết phải hợp nghi thức, tuân theo nghị bàn của bộ để làm cho ổn thỏa, cốt phải chu đáo. Đến khi họ trở về càng nên ân cần chu đáo gấp bội, khiến cho cảm động lòng người, cũng không nên biểu hiện chút gì lười biếng, để tỏ đạo nghĩa cao đẹp”.

Một Châu bản triều Tự Đức còn cho hậu thế biết thêm thông tin phong phú, cụ thể về hoạt động tiếp sứ: Ba bài thơ Hoàng đế Tự Đức làm đề vào chiếc quạt tặng quan Đề đốc nhà Thanh Phùng Tử Tài được giao cho đình thần ban Văn xem lại cẩn thận, xem có vấn đề gì quan ngại không thì lập tức phúc trình đợi phê chuẩn trước khi gửi đi.

Triều Nguyễn trong quan hệ với láng giềng -0
Bản tâu năm Minh Mạng thứ 8 (1827) cho biết Quốc vương Cao Miên bày tỏ lòng biết ơn khi được nước ta chẩn cấp cứu đói do mùa màng thất bát. (Nguồn: Trung tâm Lưu trữ quốc gia)

Với các tiểu quốc phía Tây Nam nước ta

Châu bản triều Nguyễn ghi chép lại không ít lần quốc vương các nước phía Tây Nam nước ta như Cao Miên, Vạn Tượng, Nam Chưởng, Thủy Xá, Hỏa Xá… tạ ơn triều Nguyễn đã cứu đói khi họ gặp thiên tai hay trợ giúp họ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và nền độc lập.

Châu bản năm Minh Mạng 8 (1827) cho biết Quốc vương Cao Miên tạ ơn nước ta: “Nay căn cứ theo báo cáo của quan thống chế bảo hộ Cao Miên quốc ấn Nguyễn Văn Thụy và công văn của Quốc vương Cao Miên, những năm gần đây, mùa màng thất bát, vào thu lại gặp nạn nước to, quân dân nước này phần nhiều bị thiếu đói… Nay quốc vương đem gộp hai khoản chẩn cấp làm sớ bày tỏ lời cảm ơn, mang đến thành mong chúng thần đề đạt thay”.

Một Châu bản tâu báo về tình hình Vạn Tượng cho chúng ta thấy rõ hơn vai trò của cường quốc Đại Nam: Quốc vương nước Vạn Tượng từ sau ngày đến Tam Động, từng sai người về Thành dò biết quân Xiêm chừng hơn ngàn người đã đóng quân ở trong thành, nhân dân tan tác khắp nơi, mong nhà vua trở về thành, nếu không thì sẽ bị nước Xiêm lấy mất. Quốc vương ấy vội đem sự việc chuyển trình, mong Hoàng thượng ta phái quân đến bảo hộ, khiến cho nước ấy hàng năm sắm lễ cống nạp, mãi làm dân vùng biên, khỏi bị quân Xiêm quấy nhiễu. Văn bản năm Minh Mạng thứ 8.

Nhận được cầu khẩn, vua Minh Mạng đã lệnh cho Trần Lợi Trinh sung làm Tham tán quân vụ đại thần đến trấn đó sắp đặt việc biên giới. Nhờ đó, tình hình ở biên giới đã dần dần đi vào ổn định. Nội dung này được đề cập trong Chiếu thăng cấp cho Thượng thư Trần Lợi Trinh vì đã có công. Văn bản ngày 18 tháng 12 năm Minh Mạng 8 (1827).

Bản tâu của Bộ Binh ngày 23 tháng 5 năm Minh Mạng 21 (1840) về quan hệ giữa nước ta và Cao Miên viết: “Nguyên nước Cao Miên từ lâu đã nội thuộc (nước ta) hơn 100 năm nay. Đến thời Thế Tổ Cao Hoàng Đế, nước ấy phụng sự kính cẩn, nên được gia phong trọng hậu như dân trong nước. Khoảng năm Gia Long, nước ấy bị quân Xiêm xâm lược chiếm cứ Nam Vang, cố quốc vương ấy tự bỏ nước mình, một mình chạy đến thành Gia Định, nước Cao Miên không còn là sở hữu của quốc vương ấy nữa. Trẫm vâng theo mệnh lệnh của vua cha ta Thế Tổ Cao Hoàng đế đem quân đi đánh đuổi quân Xiêm khôi phục nước đó.

Chuyện nhận cống nạp

Các nước Cao Miên, Vạn Tượng, Nam Chưởng, Thủy Xá, Hỏa Xá… thường sai sứ sang triều cống vua triều Nguyễn và được nhà vua ban thưởng. Sách Đại Nam thực lục chép, Năm Gia Long thứ 10 (1811), nước Vạn Tượng sai sứ đến cống, lại đưa trả về hơn ba chục người lính trốn. Vua bảo Nguyễn Văn Thành và Phạm Như Đăng rằng: “Vạn Tượng đã nộp lễ cống hằng năm, lại trả lính trốn về, đủ thấy lòng thành thực. Nên nhân đấy ban chiếu khen ngợi để cho yên lòng… Thế là Vạn Tượng là nước phên giậu miền thượng đạo của ta đấy”.

Văn bản năm Thiệu Trị 4 (1844) chuẩn định cho hai nước Thủy Xá, Hỏa Xá ba năm cống nạp một lần.

Ngoài ra, ở giữa các tiểu quốc và dãy Trường Sơn là các cộng đồng người đương thời được nhà Nguyễn gọi là “man”. Các “man” này ban đầu tự trị và chịu lệ cống nạp, nhưng về sau, dưới sự đe dọa của quân Xiêm, họ tự nguyện sáp nhập vào lãnh thổ Việt Nam. Vua Minh Mạng cho đặt thành phủ, huyện và đặt quan cai trị.

Một văn bản triều Thiệu Trị chép: Hoàng thượng buổi đầu nối nghiệp nên ban phát ân trạch, gia ơn miễn thuế cho các địa phương, trong đó có đoạn: “Các phủ Cam Lộ thuộc tỉnh Quảng Trị, Trấn Man thuộc tỉnh Thanh Hóa và bốn phủ thuộc tỉnh Nghệ An là Trấn Ninh, Trấn Định, Trấn Tĩnh, Trấn Biên cùng hai huyện mới lệ thuộc phủ Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh làm Cam Môn, Cam Cát, thổ dân của các phủ huyện đó đã lệ thuộc sổ tịch của triều đình từ lâu”.

Trong quan hệ với Trung Quốc, dù bề ngoài triều Nguyễn tỏ ra thần phục nhưng luôn âm thầm tìm cách thoát khỏi ảnh hưởng của cường quốc phương Bắc. Trong khi đó, đối với các tiểu quốc Tây Nam, triều Nguyễn lại luôn đóng vai trò là chỗ dựa vững chắc, sẵn sàng đưa tay cứu giúp mỗi khi họ gặp hiểm nguy, thể hiện tinh thần trách nhiệm đối với các nước láng giềng.

Hồng Nhung

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.