“Trạm S” của tình báo Mỹ trong Thế chiến II

Tháng 9/1939, Hải quân Mỹ đã bí mật dời chuyển một trạm nghe lén vô tuyến từ Fort Stevens (tiểu bang Oregon) đến Fort Ward trên đảo Bainbridge (hạt Kitsap), nơi cách thành phố Seattle chỉ vài dặm tính từ Puget Sound. Trạm vô tuyến này được đổi thành “Trạm S” và bắt đầu thu nhận các thông điệp Nhật Bản từ năm 1940.

Vào cuối Thế chiến II, Trạm S chuyên phục vụ thời Chiến tranh lạnh như can thiệp tin nhắn từ Nga và sau này là CHDCND Triều Tiên. Trạm S bị đóng cửa vào tháng 11/1953.

Trung tâm nghe lén

Khoảng tháng 5/1932, Hải quân Mỹ cho thành lập một trạm nghe lén vô tuyến đặt tại Fort Stevens (tiểu bang Oregon, nằm gần Astoria). Nhưng mãi đến năm 1938, trạm này mới khám phá ra những vấn đề tiếp nhận thông tin và áp lực buộc nó phải di dời. Sau khi khảo sát kỹ và quả quyết rằng không nơi nào khác ngoài đảo Bainbridge mới là địa điểm lý tưởng, thế là trạm nghe lén Fort Stevens tái dời đến hòn đảo này trong tháng 9/1939.

Đi vào hoạt động tại Fort Ward (nơi này được thành lập trong giai đoạn 1900-1903) như là Trung tâm hỗ trợ các hoạt động truyền thông (COMSUPACT). Những chiếc ăng ten hình thoi được dựng lên trên khu vực duyệt binh. Năm 1940, cơ sở này được tái đổi tên thành Trạm S trực thuộc Trung tâm hỗ trợ các hoạt động nhóm an ninh hải quân Mỹ (NSGA) và trực tiếp nghe lén mạng lưới vô tuyến Tokyo chuyển đến San Francisco, ghi nhận các thông điệp ngoại giao Nhật Bản được gửi đi bằng mã Morse tiếng Nhật.

“Trạm S” của tình báo Mỹ trong Thế chiến II -0
Trạm phát vô tuyến hải quân ở Battle Point trên đảo Bainbridge..

Ngay từ đầu, Trạm S đã hoạt động rất bí mật, tránh khỏi sự ngờ vực của các cư dân địa phương và công luận. Được đặt trong khuôn viên của một trạm quân đội cũ với trung tâm tình báo vô tuyến đặt bên trong tòa nhà hậu cần quân đội cũ, tránh xa tai mắt của dân sở tại. Chính cơ chế bảo mật này đã giúp cho Fort Ward có nhiều không gian trống và không cần xây dựng mới bất kỳ cấu trúc nào, nhưng cũng đồng thời thu hút sự quan tâm từ bên ngoài để từ đó cần thiết mở cơ sở đánh chặn liên lạc vô tuyến. Chưa hết, trạm nghe lén Bainbridge còn có một hoạt động tình báo quan trọng khác, đó là Tìm hướng vô tuyến (RDF) để định vị và theo dõi chính xác các tàu địch. Bằng cách dùng tín hiệu vô tuyến thu được từ một số trạm nghe, RDF có thể nhận dạng chính xác địa điểm có tàu địch.

Để xác định hay nhận dạng vị trí có tàu lạ thì cần ít nhất 2 báo cáo của trạm RDF, nhưng cũng thêm một báo cáo thứ 3 để đảm bảo sự chính xác về địa điểm bị nghi ngờ. Trạm nghe lén Bainbridge hoạt động ở Mạng định hướng tần số cao Bờ Tây với tư cách là Trung tâm sơ đồ và điều khiển mạng, tổng hợp dữ liệu từ chính nó và các trạm RDF khác nhằm ghi lại nhật ký về những vị trí có tàu Nhật Bản. Dữ liệu này sau đó sẽ được gửi đến các Bộ chỉ huy hải quân Bờ Tây cùng trưởng phòng tác chiến hải quân ở Washington D.C.  

Trường vô tuyến hải quân

Ngày 28/10/1940, Trường vô tuyến dự bị hải quân Mỹ được mở ở Fort Ward. Mỗi lớp học bao gồm 40 học viên, họ có khoảng 4 tháng được đào tạo về vận hành vô tuyến. Để có thể phục vụ cho các học viên này, toàn bộ 6 buồng giam trong nhà bảo vệ của pháo đài cũ đã bị dỡ bỏ và không gian được cải tạo lại thành một lớp học hoàn chỉnh. Thêm nữa, doanh trại của pháo đài cũng được tái tân trang để làm ký túc xá cho học viên. Các học viên sẽ học về mã Morse, đánh máy chữ, các hoạt động liên lạc hải quân, và nghề thủy thủ sơ cấp. Khi tốt nghiệp, những người vượt qua bài kiểm tra sẽ nhận được đánh giá xếp hạng thứ 3 của trạm vô tuyến để rồi họ được đứng chân vào hạm đội hay phải vào bờ. Ngôi trường này đã cung cấp sự bảo vệ hoàn hảo cho các hoạt động vô tuyến tuyệt mật trên khắp các khu vực diễu hành ở tòa nhà hậu cần quân đội cũ.

Sau đó một bài luận ảnh toàn trang xuất hiện trên báo The Seattle Times đã hé lộ rằng trường vô tuyến là mục tiêu của hải quân Mỹ khi đặt trụ sở trên đảo Bainbridge. Năm 1941, thêm một thửa đất rộng 160 mẫu Anh (64,7 ha) được mua lại, thửa đất này nằm ở Tây và Nam của Fort Ward. Các đội xây dựng đã dựng lên 60 tòa nhà khung gỗ tạm thời, và những tòa nhà hiện có tại Fort Ward cũng đã được sửa đổi để sử dụng mới. Tòa nhà hành chính cũ đã trở thành nơi ở của chỉ huy Trạm S, ông B.C.Purrington (1896-1961). Tiệm bánh một thời đã trở thành nhà chứa máy phát điện. Bản thân tòa nhà hậu cần quân đội đã được sửa sang lại thành Trạm S.

“Trạm S” của tình báo Mỹ trong Thế chiến II -0
Trạm tình báo tín hiệu S trên đảo Bainbridge.

Hoạt động trong chiến tranh

Tháng 11 và đầu tháng 12/1941, sự gia tăng các tin nhắn ngoại giao từ phía Nhật Bản được thu thập và lưu giữ tại Trạm S khiến nơi này tất bật đánh chặn các lưu lượng tin tức, và đạt đỉnh từ ngày 4/12/1941 đến 6/12/1941. Chỉ huy B.C.Purrington cũng ghi nhận đà tăng hoạt động tàu thuyền trong các báo cáo mật của Trạm S từ tháng 11 và 12/1941 của ông gửi cho Trưởng phòng tác chiến hải quân ở Washington, D.C. Hoạt động vô tuyến và tàu bè liên tục cho thấy có điều gì đó quan trọng đang xảy ra.

Ngày 7/12/1941, Trạm S đánh chặn một tin nhắn từ Nhật Bản có nội dung đại loại ngừng việc đàm phán với Hoa Kỳ. Ngay lập tức Trạm S đã chuyển tiếp thông điệp quan trọng này về cho Washington, D.C. Đầu tháng 9/1941, các nhà lãnh đạo dân sự và quân sự Nhật Bản đã đi đến quyết định rằng Nhật phải tham chiến nếu như họ không thể đạt được nguồn vật tư thô và dầu mỏ thông qua các cuộc đàm phán.

Mỹ và các nước khác đã đóng băng tài sản của Nhật Bản cũng như ngăn chặn nước này tiếp cận với nguồn dầu thô. Trong lúc đó Nhật đang chiến đấu ở Trung Quốc và rất cần có dầu để duy trì chiến dịch của mình. Các nhà ngoại giao Nhật được chỉ thị đi đàm phán dù họ dự đoán rằng điều đó sẽ không thành công. Trong khi đó quân đội Thiên hoàng đang ráo riết chuẩn bị cho chiến tranh. Thông điệp bị trạm vô tuyến Bainbridge chặn được chính là tín hiệu khai mào chiến tranh. Tin nhắn bị chặn này cho thấy người Nhật tin chắc rằng không thể đạt được thỏa thuận dù có đàm phán gì đi chăng nữa.

Người Nhật bí mật di chuyển các lực lượng hải quân của họ đến tấn công Trân Châu Cảng ở Hawaii. Tokyo lên kế hoạch rằng đại sứ Nhật sẽ chuyển thông điệp lên Bộ Ngoại giao Mỹ vào lúc 1 giờ chiều ngày 7/12/1941, tức chỉ một thời gian ngắn trước khi bắt đầu đánh Trân Châu Cảng. Nhằm duy trì lợi thế gây ngạc nhiên, chính phủ Nhật không đưa ra lời tuyên chiến.

Việc gửi thông điệp bị trì hoãn, và bất chấp nhiều dấu hiệu khác nhau cho thấy chiến tranh có thể nổ ra, các quan chức tình báo Mỹ đã không lường trước cuộc tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng. Cho đến 1 giờ 20 phút chiều theo giờ Washington D.C vào ngày hôm sau, 8/12/1941, sau bài phát biểu trước quốc hội và toàn quốc, Tổng thống Franklin D. Roosevelt (1882-1945) đã ra lời tuyên chiến với Nhật Bản. Lại nói tới Trạm S. Tới tháng 11/1942, Trạm S tiếp quản công tác tình báo vô tuyến của Canada.

Trong suốt Thế chiến II, một  mạng lưới diệt tàu ngầm đã được giăng khắp Rich Passage (eo biển thủy triều ở Puget Sound). Tới tháng 9/1942, một trạm phát vô tuyến hải quân được xây dựng tại Battle Point, phía Bắc của Trạm S. Trạm Battle Point bao gồm một tòa nhà phát vô tuyến được đúc bê tông kiên cố, một tòa nhà hình xoắn ốc và 4 tòa tháp cao chót vót. Sau đó có một trụ tháp vô tuyến cao 243,8m được đựng thêm vào.

“Trạm S” của tình báo Mỹ trong Thế chiến II -0
Các sĩ quan vô tuyến làm việc bên trong Trạm S.

Trạm S chuyên trách tình báo bị đánh chặn từ Thái Bình Dương về cho Bộ Tư lệnh hải quân số 13 đóng ở thành phố Seattle. Năm 1944 xuất hiện các nữ tình nguyện viên khẩn cấp đến làm việc tại Trạm S. Tháng 1/1945, một số nữ nhân viên tình nguyện khẩn cấp đã được huấn luyện rành rẽ cách dùng mã Morse tiếng Nhật đã lên đường làm việc ở các trạm nghe lén khác. Sau Thế chiến II, các mục tiêu nghe lén mới đã được lựa chọn. Năm 1946, Trường vô tuyến hải quân đã dạy mã tiếng Nga, và các tin nhắn Liên Xô đã bị nghe lén. Năm 1950, Trạm S bắt đầu đánh chặn thông điệp từ CHDCND Triều Tiên. Trường vô tuyến hải quân đã trở thành Trường kỹ thuật liên lạc hải quân Mỹ chuyên trách dạy học viên các kỹ năng vô tuyến ngay từ tháng 10/1951 cho đến khi trường này đóng cửa vào tháng 12/1953.

Trung tâm các hoạt động nhóm an ninh hải quân bị đình lại năm 1953 còn Trạm S được chuyển đến Marietta (tiểu bang Washington). Năm 1958, Hải quân Mỹ bỏ hoang đảo Bainbridge. Năm 1959, Cơ quan hành chính các dịch vụ công (GSA) đã tiến hành xử lý đất và nhà cửa trên đảo. Trạm Battle Point bị đóng cửa vào năm 1971 và thửa đất này biến thành quận Bainbridge Park. Năm 1972, chính quyền liên bang đã tháo bỏ 5 tòa tháp vô tuyến. Khu vực này ngày nay trở thành công viên Battle Point, còn bản thân nhà phát vô tuyến trước đây đã biến thành trung tâm thể dục thể thao. Năm 1978, Fort Ward đã được liệt kê trong Sổ đăng ký địa điểm lịch sử quốc gia Hoa Kỳ.

Văn Chương (Tổng hợp)

Các tin khác

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Cuộc đua giữa tàu ngầm Nga và đội săn ngầm từ trên cao của NATO

Kể từ khi Chiến tranh lạnh kết thúc, khả năng tác chiến chống tàu ngầm của Khối quân sự NATO đã suy yếu đáng kể do việc giảm đầu tư và thay đổi ưu tiên. Tuy nhiên, trước sự gia tăng các cuộc tuần tra bằng tàu ngầm của Nga - đặc biệt là các tàu lớp Borei và Yasen tiên tiến - gần biên giới các nước NATO và ở các vùng biển chiến lược như Biển Baltic, Bắc Cực, Bắc Đại Tây Dương và Địa Trung Hải đã khiến các đồng minh châu Âu lo ngại.

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Về 2 quả bom nhiệt hạch trong vụ tai nạn Broken Arrow

Cách đây hơn 65 năm, rạng sáng ngày 24/1/1961, một vụ tai nạn máy bay kinh hoàng diễn ra, khiến máy bay ném bom B-52 của Không quân Mỹ (USAF) văng ra hai trái bom nhiệt hạch xuống North Carolina nhưng chưa kích nổ. Sự may mắn tình cờ này đã cứu nước Mỹ khỏi thảm họa “gậy ông đập lưng ông”.

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Stanley Weyman: Từ mạo danh đến hào quang quyền lực

Khuôn viên Nhà Trắng, Washington D.C., một ngày cuối tháng 7/1921. Trong bức ảnh chụp chính thức hôm đó, một người đàn ông trong lễ phục trắng đứng cạnh một người phụ nữ được báo chí Mỹ khi đó gọi là Công chúa Fatima của Afghanistan và đoàn tùy tùng, ngay sau cuộc tiếp kiến Tổng thống Warren G. Harding. Trên ngực người đàn ông ấy lấp lánh những tấm huân chương. Bức ảnh nhanh chóng xuất hiện trên báo chí Mỹ. Ít lâu sau, một lá thư khiếu nại gửi tới Bộ Ngoại giao Mỹ bắt đầu kéo sập vai diễn ấy. Người đàn ông trong ảnh không giữ bất kỳ chức vụ nào ở bộ trên, mà chỉ là một kẻ giả danh đến từ Brooklyn, chưa học xong trung học.

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Vì sao Mỹ mất 20 năm vẫn không thể đánh bại Taliban?

Tháng 10/2001, Mỹ cùng các đồng minh mở chiến dịch quân sự tại Afghanistan với mục tiêu truy quét Al-Qaeda và buộc Taliban giao nộp Osama bin Laden. Chỉ trong vài tuần, chính quyền Taliban sụp đổ, Kabul thất thủ. Nhưng chiến thắng đấy không khép lại cuộc chiến. 20 năm sau, khi quân đội Mỹ và NATO rời Afghanistan, Taliban trở lại thủ đô. Từ một chiến dịch chống khủng bố có mục tiêu tương đối rõ, Washington đã bước vào cuộc chiến kéo dài hai thập niên. Vì sao một lực lượng từng bị đánh bật khỏi quyền lực lại có thể trở lại sau 20 năm?

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Một góc KGB qua lời kể của Aleksei M. Kozlov

Đây là cuộc phỏng vấn đặc biệt diễn ra ngày 20/12/2009 giữa Anh hùng, Đại tá KGB Aleksei M. Kozlov với tờ Izvestia của Nga về hoạt động quy mô toàn cầu của “Cục S” hay còn gọi là “Cục tình báo bất hợp pháp” trong thời gian Chiến tranh Lạnh.

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Mossad tiếp cận cựu Tổng thống Iran Ahmadinejad như thế nào?

Tháng 5/2026, tờ The New York Times (NYT) khẳng định rằng Israel và Mỹ có kế hoạch thay đổi chế độ tại Iran - và cựu Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad sẽ là người lên lãnh đạo đất nước. Vào thời điểm đó, bài báo nghe có vẻ khá hoang đường. Nhưng mới đây, NYT đã tiến xa hơn nhiều. Trong một bài phóng sự điều tra mới, các nhà báo của NYT đã kể lại câu chuyện về chiến dịch kéo dài nhiều năm của tình báo Israel nhằm tiếp cận ông Ahmadinejad.

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Cái giá của nạn phân biệt chủng tộc

Ngày 17/7/1944 đã xảy ra một thảm họa tồi tệ nhất trên đất Mỹ trong thời kỳ Thế chiến II. Mặc dù các cuộc điều tra không thể xác định được thủ phạm, nhưng rõ ràng một trong những nguyên nhân chính gây ra biến cố đã cướp đi sinh mạng của hàng trăm người này chính là chế độ phân biệt chủng tộc trong Lực lượng Hải quân Mỹ.

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Giải mật vũ khí “Vòm Sáng” của Liên Xô

Vào mùa thu 1988, một máy bay do thám Mỹ phát hiện một hiện tượng độc lạ: “Vòm Sáng” sau khi tên lửa đạn đạo tầm trung SS-20 Saber của Liên Xô (cũ) được phóng đi. Quá trình trên tạo ra cực quang gây tranh cãi trong suốt thập kỷ, thậm chí còn bị nhầm là UFO.

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Mỹ đầu tư hàng tỷ USD cho tình báo phát triển AI

Theo các quan chức đương nhiệm và cựu quan chức Mỹ, Nhà Trắng đã phê duyệt một đề xuất ngân sách mật trị giá 9 tỷ USD để mua các chip máy tính tiên tiến. Đây là những linh kiện cần thiết để các cơ quan tình báo Mỹ có thể khai thác tối đa tiềm năng của các mô hình trí tuệ nhân tạo (AI) mới nhất.

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Cuộc truy lùng “kẻ sát nhân bị quỷ ám”

Suốt gần hai năm, lực lượng điều tra Tây Ban Nha lần theo những dấu vết mong manh từ các hiện trường, rà soát hơn 3.000 hồ sơ và chờ kết quả đối chiếu ADN quốc tế để xác định danh tính kẻ gây ra chuỗi án mạng ở Alicante.

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Đằng sau việc Mỹ quyết định tham chiến tại Triều Tiên

Mùa hè năm 1950, tại vĩ tuyến 38, đường phân giới giữa hai miền Triều Tiên được thiết lập sau Thế chiến II bất ngờ bùng phát cuộc khủng hoảng chiến lược. Những rạn nứt của trật tự hậu chiến tại Đông Bắc Á hiện rõ, buộc nước Mỹ phải đối diện với thách thức quyền lực của thời Chiến tranh lạnh.

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Nguyên nhân bất đồng Ba Lan - Ukraine và triển vọng hòa giải

Ngày 19/6, Tổng thống Ba Lan Karol Nawrocki đã ký quyết định tước Huân chương Đại bàng Trắng trao tặng Tổng thống Ukraine Volodymyr Zelensky năm 2023. Đáp lại, ông Zelensky cùng nhiều cựu tổng thống và thành viên chính phủ Ukraine đã gửi trả các huân chương do Ba Lan trao tặng. Xin trân trọng giới thiệu bài trả lời phỏng vấn của Giáo sư Lukasz Tomasz Sroka, chuyên gia về lịch sử Trung và Đông Âu, trên tờ DW, về nguyên nhân căng thẳng giữa Ba Lan - Ukraine.

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Những cuốn sổ tay chứa “bí mật quốc gia”

Không còn bó hẹp trong hệ thống hồ sơ chính thức, thông tin mật ngày nay có thể hiện diện ngay trong những ghi chép cá nhân tưởng như riêng tư. Vụ việc gần đây cho thấy, khi các “nhật ký công vụ” chứa nội dung nhạy cảm, việc lưu giữ, chia sẻ hoặc bảo quản không đúng quy định đều có thể trở thành nguồn phát sinh rủi ro rò rỉ thông tin.

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

“Cái gai trong mắt” nước Mỹ

Cuối thập niên 1950, khi Fidel Castro lên nắm quyền ở Cuba, Liên Xô vẫn thận trọng trong việc đánh giá chế độ mới vì hiểu biết còn hạn chế về ban lãnh đạo Cuba và lo ngại ảnh hưởng đến quan hệ với Mỹ. Tuy nhiên, sau Khủng hoảng Caribe đưa thế giới đến bờ vực chiến tranh hạt nhân, Liên Xô nhận ra những hạn chế trong hoạt động tình báo đối với Mỹ. Từ đó, GRU chuyển hướng tăng cường triển khai các lực lượng và phương tiện tình báo vô tuyến điện tử ở Cuba.

Thất bại của những “khung trời hẹp”

Thất bại của những “khung trời hẹp”

9 năm tiêu tốn khoảng 4 tỷ euro mà không một nguyên mẫu nào được chế tạo. Đó là tổng kết của chương trình máy bay chiến đấu thế hệ mới FCAS - dự án quốc phòng tham vọng nhất trong lịch sử châu Âu - khi Pháp và Đức chính thức tuyên bố khai tử nó ngày 8/6/2026. Vì sao siêu dự án này đổ vỡ?

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Đằng sau vụ rò rỉ dữ liệu từ nội bộ Twitter

Bản án đối với Ahmad Abouammo được điều chỉnh một phần về mặt pháp lý. Tuy nhiên, các cáo buộc cốt lõi liên quan đến việc thu thập và chuyển giao dữ liệu người dùng vẫn tiếp tục được duy trì.

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Thiết bị nghe lén gây chấn động tình báo Mỹ thời hậu chiến

Năm 1946, một nhóm học sinh Liên Xô đã tặng Đại sứ Mỹ tại Liên Xô William Harriman bức phù điêu quốc huy Hoa Kỳ bằng gỗ, biểu tượng của tình hữu nghị giữa hai nước trong Thế chiến II. Được treo trong phòng làm việc của Đại sứ tại Moscow suốt 7 năm, món quà tưởng như vô hại này sau đó được phát hiện là “con ngựa thành Troy”, bên trong chứa một thiết bị nghe lén tinh vi do Liên Xô chế tạo.