Hơn 20 năm một chặng đường, nghĩ lại những việc mình làm được rất vui, nhất là việc hàng năm được cùng lãnh đạo Toà soạn, Văn phòng, anh chị em Công an các địa phương miền Trung hết “lên rừng” lại “xuống biển” để làm công tác xã hội - từ thiện, giúp đỡ bà con các vùng bị thiên tai bão lụt; hay động viên, giúp đỡ những người yếu thế, có hoàn cảnh khó khăn khác trong xã hội…
Cách đây hơn 20 năm, trong một lần dâng hương viếng các Anh hùng liệt sĩ ở Thành cổ Quảng Trị ngày 30/4, tôi tình cờ quen biết cựu chiến binh (CCB), nhà báo Lê Bá Dương của Báo Văn hoá thường trú tại Nha Trang. Gần 3 tháng sau, vào tầm 10h ngày 27/7, tôi nhận được điện thoại của anh, bảo đón anh ở chợ Đông Hà. Vội vàng chạy đến nơi, tôi thấy anh tay khệ nệ hoa tươi, bánh kẹo, trái cây và nến, nhang chờ sẵn bên đường.
Sau ít phút sắp xếp, chúng tôi đèo nhau về Nghĩa trang liệt sĩ Quốc gia Đường 9 để thắp hương các liệt sĩ. Anh bảo: “Tôi ra từ sớm, đã viếng các Anh hùng liệt sĩ ở Thành cổ rồi, nhưng không gọi em vì ngược đường”. Đất trời Quảng Trị hôm ấy trong xanh đến lạ! Sau dâng hoa, dâng hương tại Đài tưởng niệm chính, chúng tôi đi từng hàng mộ chí, thắp nén nhang tưởng nhớ, tri ân các Anh hùng liệt sĩ...
Hằng năm, nhà báo Lê Bá Dương đến Quảng Trị ít nhất 2 lần, nhưng không phải để viết bài. Anh đến để thăm lại những nơi đồng đội của mình từng chiến đấu, hy sinh; thắp nén tâm nhang tưởng nhớ, tri ân những người đã mãi mãi nằm xuống. Anh kể, lần đầu tiên anh có ý tưởng mua hoa tươi để thắp hương cho đồng đội là vào dịp lễ 27/7/1987.
“Những lần trước, tôi mua bánh kẹo, thuốc lá về dâng hương liệt sĩ, nhưng cảm giác có điều gì đó chưa đúng, không khí làn khói hương sao mà u tịch. Tôi suy nghĩ mãi, cuối cùng chọn mua hoa, bởi đơn giản đời anh bộ đội Cụ Hồ như hoa vậy, tinh khiết và thảo thơm, lúc nào cũng có thể mang đến cho con người niềm vui, sự hạnh phúc”, anh khẽ nói với tôi mà như nói với chính mình.
Đoạn, anh kể tiếp: “Tôi ở chợ Triệu Phong hết buổi sáng 26/7 năm đó để mua hoa, nhưng cảm thấy vẫn còn ít, nên sáng sớm hôm sau lại tiếp tục ra chợ để mua thêm. Sau đó, một phần mang đến Thành cổ thắp hương dâng hoa liệt sĩ, phần còn lại mang ra lặng lẽ thả xuống ở hai bờ sông Thạch Hãn, đoạn ngang qua trước Thành cổ, nơi mà bạn bè tôi năm xưa lúc đánh trận bị thương trở ra vượt sông, không may gặp lũ lớn cuốn trôi nên hy sinh rất nhiều”. Tôi hỏi, ngày xưa anh đi bộ đội lúc mấy tuổi? Bạn bè cùng lứa rồi đồng đội ở cùng đơn vị những năm tháng đó nay còn những ai? Anh khẽ đưa tay nhổ cây cỏ dại ra khỏi chân một bát nhang, giữa nghĩa trang mênh mang màu trắng, trầm ngâm một lúc, rồi nói: “Nhiều lắm em! Đứa nào tôi cũng nhớ rất rõ mặt. Có nhiều đứa mới chỉ bước qua tuổi 18 em ạ!”...
Nhà báo Lê Bá Dương sinh tháng 4/1953, đến tháng 4/1968, tức mới 15 tuổi, nhưng anh đã khai tăng tuổi của mình để được nhập ngũ. Sau 2 tuần huấn luyện và một tháng hành quân, anh vào chiến đấu ở chiến trường Quảng Trị. Trong hành trang cá nhân, bên cạnh ảnh người thân, anh còn mang thêm ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chiến tranh đi qua, người lính Lê Bá Dương mang trên mình vô số vết thương bom đạn. Anh bộc bạch với tôi, sau khi rời quân ngũ, anh không có ý định trở thành một nhà báo; việc hằng năm ra Quảng Trị chỉ vì muốn thăm lại chiến trường xưa và tâm nguyện khói hương cho liệt sĩ.
Nhà báo Lê Bá Dương tâm sự: “Đến nay, non nửa thập kỷ cầm bút, tôi vẫn không ngừng nghỉ viết những điều có ích, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh và con người của mình. Đặc biệt những điều được thôi thúc bởi trái tim người lính trong tôi vẫn còn nóng hổi để tiếp tục có những đóng góp với khả năng tuy rất nhỏ bé, nhưng tôi nghĩ nó thiết thực và ý nghĩa rất nhiều với quê hương. Và, khi nào cũng vậy, trước lúc đặt bút viết, nhất là viết về người lính qua những trận đánh, câu chuyện là kỷ niệm không thể nào quên, đều lặn lội, tìm hiểu về hoàn cảnh thân nhân của họ với mong muốn mình có thể chia sẻ, giúp đỡ họ một điều gì đó thiết thực”.
Với người làm báo trẻ tuổi như tôi, anh chia sẻ, thực tình lúc gặp lần đầu, anh đã có cảm giác yêu mến, bởi lẽ vừa là đồng nghiệp, vừa sinh ra, lớn lên ở Quảng Trị, mảnh đất một thời ngút ngàn khói lửa đạn bom mà anh đã gắn bó, với rất nhiều kỷ niệm không thể nào quên được. Còn tôi, trước khi quen biết anh là nhà báo, nghệ sĩ nhiếp ảnh, tôi đã từng biết đến một chiến sĩ Lê Bá Dương với hình ảnh của một thiếu niên 15 tuổi, nhưng đầy sự nhanh trí và quả cảm, được ghi chép lại nhiều trong các sách, báo.
Bởi vậy, sau này những lần gặp và qua trò chuyện, tôi đều dễ cảm thấu được những lời anh nói, đặc biệt ấn tượng và xúc động về những câu thơ anh viết cho đồng đội của mình đã hy sinh trong cuộc chiến đấu 81 ngày đêm bảo vệ Thành cổ Quảng Trị: “Đò lên Thạch Hãn ơi... chèo nhẹ! Đáy sông còn đó bạn tôi nằm/ Có tuổi hai mươi thành sóng nước/ Vỗ yên bờ, mãi mãi ngàn năm!”. Với tôi, bài thơ tuy chỉ 4 câu, song là nguồn mạch không bao giờ vơi cạn cho những người làm báo sinh sau chiến tranh như chúng tôi được kế thừa để sống đẹp, sống và làm những điều đúng đắn; sống trách nhiệm và tri ân những người đã vì nền độc lập, tự do của đất nước, vì niềm hạnh phúc của nhân dân đã hy sinh thân mình.
Ngoài nhà báo Lê Bá Dương, tôi còn may mắn được làm quen, biết đến những phóng viên chiến trường nay tuổi đã bằng cha, chú của mình. Đó là nhà báo Đoàn Công Tính, quê ở tỉnh Nam Định và nhà báo Sỹ Sô ở Quảng Trị. Nhà báo Đoàn Công Tính là người đã từng đi qua 81 ngày đêm trong Thành cổ Quảng Trị, trên chiến trường Nam Lào và đường Trường Sơn huyền thoại...
Hẳn ai đã từng đến Thành cổ Quảng Trị, sẽ thấy ngay ở khu gian trưng bày trang trọng nhất của Bảo tàng này là bức ảnh nổi tiếng “Nụ cười chiến thắng” của tác giả Đoàn Công Tính. Bên chân Thành cổ, hình ảnh người lính với chỉ áo vải, mũ tai bèo tưởng rằng dễ tan chảy bởi bom đạn, nhưng để đảm bảo sự bình yên cho quê hương, họ đã gan góc cầm súng chiến đấu chống lại kẻ thù với quân lực, vũ khí mạnh hàng đầu thế giới. Và, dưới mưa bom, bão đạn ấy, họ vẫn nở nụ cười tươi, không gợn chút sợ sệt. Nụ cười ấy là sức mạnh, là biểu hiện của niềm tin vào chiến thắng cái ác, sự sống sẽ mãi sinh sôi và trường tồn nhờ vào những việc làm tử tế!.
Còn nhà báo Sĩ Sô là nhân chứng có mặt gần như suốt những năm tháng đất nước bị chia cắt thành 2 miền Nam – Bắc ở Vĩ tuyến 17 - cầu Hiền Lương - sông Bến Hải. Ông được mệnh danh là “Người chép sử DMZ (vùng phi quân sự giới tuyến) bằng ống kính” và là tác giả của nhiều bức ảnh tư liệu có giá trị, đặc biệt là những bức ảnh về sông Bến Hải, cầu Hiền Lương, qua đó thể hiện tấm lòng của người miền Bắc muốn gửi vào Nam, là sự khát vọng hoà bình, thống nhất non sông, là bằng chứng vạch trần tội ác của kẻ thù xâm lược… Ông tâm sự rằng: “Chiến tranh, sự sống như hạt gạo trên sàng. Những năm tháng đó, tôi đã xông pha trên nhiều chiến trường như một người lính để làm tốt nhất công việc của mình”.
Đề xuất cơ quan báo chí, nhà báo được miễn, giảm thuế