Tiến trình “biến hình” của vũ khí sinh học

Từ nửa đầu thế kỷ XX, nhân loại đã chứng kiến vi khuẩn bệnh than được đưa vào sử dụng trong các cuộc chiến tại Đức và Nhật. Chiến tranh Lạnh là quãng thời gian các cường quốc Liên Xô, Mỹ, Anh đua nhau phát triển chương trình vũ khí sinh học.

Ngày nay, việc phát triển vũ khí sinh học là vi phạm Hiệp ước về việc sử dụng vũ khí sinh học năm 1972 (Biological Weapons Convention) và Nghị định thư Geneva. Nhưng dù một số quốc gia đã đồng ý phá hủy các kho vũ khí sinh học, dừng các nghiên cứu, nhưng mối nguy cơ vẫn hiện hữu.

Bài 1: Càng nguy hiểm, càng thích thử nghiệm!

Thuở sơ khai

Việc sử dụng các vũ khí là các loại vi khuẩn, sinh vật chính là vũ khí sinh học -bioweapons - đã xuất hiện từ xa xưa. Vào năm 1500 trước Công nguyên, dân tộc Hittites ở Asia Minor (bán đảo ở phía Tây châu Á, là một phần của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay) nhận ra được sức mạnh của dịch bệnh nên đã đưa người mang bệnh dịch sang lãnh thổ của đối phương. Nhiều đội quân cũng biết đến sức mạnh của vũ khí sinh học trong một thời gian dài, họ dùng máy bắn đá bắn những xác chết bị lây bệnh dịch vào trong thành trì của đối phương.

Nhiều nhà sử học còn đoán rằng, 10 bệnh dịch trong Kinh thánh mà Moses gọi xuống để đẩy lùi quân đội Ai Cập có vẻ là một chiến dịch sử dụng vũ khí sinh học hơn là "sự trả thù của Chúa". Qua các thành tựu của nền y học, chúng ta có thể hiểu được thêm về các mầm bệnh nguy hiểm cũng như cách mà hệ miễn dịch của cơ thể hoạt động chống lại chúng. Nhưng ngay trong lúc nghiên cứu và phát triển các loại vaccin, thì đó cũng là lúc xuất hiện ngày càng nhiều những tác nhân sinh học có khả năng hủy diệt đáng sợ.

Trại tập trung Dachau.
Trại tập trung Dachau.

Thuật ngữ "vũ khí sinh học - biological weapon" thường khiến chúng ta hình dung đến những phòng thí nghiệm tuyệt mật của các nước, những bộ đồ trùm kín người hay những ống nghiệm chứa các chất đầy màu sắc huyền bí.

Thực tế thì, trong lịch sử, vũ khí sinh học xuất hiện ở nhiều dạng khác nhau: những người nhiễm bệnh dịch đi lang thang, những chiếc túi giấy chứa đầy bọ chét gây dịch bệnh. Trận đại dịch The Black Death (Tử thần Đen) đã giết chết một nửa dân số châu Âu vào thế kỷ thứ XIV. Được đặt cho cái tên "the great dying", viễn cảnh về sự trở lại của dịch bệnh đủ để đưa loài người đến bờ vực diệt chủng.

Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, vụ dịch lớn đầu tiên trên thế giới là sốt xuất huyết, nhưng cái tên "dịch hạch" cũng đã xuất hiện từ rất lâu, và đi cùng với nó là một vũ khí sinh học loại A: vi khuẩn Yersinia pestis. Hay như trong suốt cuộc chiến tranh giữa đế quốc Pháp và quân đội Anh để giành quyền kiểm soát Bắc Mỹ năm 1763, vũ khí sinh học chỉ đơn giản là những tấm chăn đắp hàng ngày.

Trung tá Jeffrey Amherst của quân đội Anh đã cho phân phát những chiếc chăn có ủ bệnh đậu mùa cho các bộ lạc da đỏ Mỹ tại Ottawa. Những cư dân bản địa Mỹ đặc biệt dễ bị nhiễm bệnh vì không giống những kẻ xâm lược đến từ châu Âu, họ chưa từng đối mặt với bệnh đậu mùa và không hề miễn dịch với nó. Dịch bệnh đã lây lan khắp các bộ lạc với tốc độ khủng khiếp và gần như xóa sạch dân số các bộ lạc.

Tiến hóa theo tham vọng của con người

Trong những năm 1860, Mỹ đã thử nghiệm vũ khí sinh học bằng việc phát tán mầm bệnh dịch tả cho những bộ lạc da đỏ. Năm 1900, các bác sĩ quân y Mỹ ở Philippines có liên quan đến 5 trường hợp tù nhân nhiễm dịch hạch và 29 tù nhân mắc chứng tê phù. Ít nhất 4 người trong số đó đã chết.

Năm 1915, một bác sĩ làm việc trong chương trình trợ cấp chính phủ đã cho 12 tù nhân ở Mississippi tiếp xúc với pellagra - một căn bệnh ảnh hưởng đến hệ thống thần kinh trung ương. Sau Thế chiến thứ I, Mỹ tiếp tục phát triển vũ khí hóa học, sản xuất hàng triệu thùng khí mù tạt và Lewisite. Hàng ngàn binh lính Mỹ đã tiếp xúc với số vũ khí hóa học để "kiểm tra hiệu quả của mặt nạ phòng độc và quần áo bảo hộ".

Năm 1931, tiến sĩ Cornelius Rhoads - người sau này làm việc cho Viện nghiên cứu điều tra y tế Rockefeller - đã cho lây nhiễm tế bào ung thư cho hàng chục người. Sau đó, tiến sĩ Rhoads tiếp tục đầu quân cho Cơ quan vũ khí sinh học thuộc Quân đội Mỹ và Ủy ban Năng lượng nguyên tử - nơi ông ta giám sát các thí nghiệm bức xạ trên hàng ngàn công dân Mỹ. Năm 1942, bác sĩ quân y và Hải quân Mỹ thử nghiệm lây nhiễm vi khuẩn sốt rét trên 400 tù nhân ở Chicago và tìm ra phương pháp chữa bệnh cho họ. Hầu hết các tù nhân đều là người da đen và không ai được thông báo về những rủi ro của cuộc thử nghiệm.

Trong Thế chiến II, hơn 1.000 người tại trại tập trung Dachau trở thành vật thí nghiệm về khả năng miễn dịch của cơ thể với virus sốt rét. Đức Quốc xã cho muỗi đốt các nạn nhân hoặc bơm trực tiếp loại máu nhiễm bệnh vào tĩnh mạch của họ. Sau khi các triệu chứng như sốt kéo dài, đau đầu hoặc hôn mê xuất hiện, các "bác sĩ tử thần" tiếp tục bơm máu nhiễm bệnh lần thứ 2 vào cơ thể bệnh nhân.

Thí nghiệm đã khiến gần 500 người tử vong. Father Leo Michalowski, một nạn nhân sống sót sau thí nghiệm, kể lại "Khi ấy, tôi gần như mất trí nhớ và nói năng lộn xộn". Tình tiết này được chứng thực bởi Tiến sĩ Klaus Reinhardt thuộc Đại học Tổng hợp Tübingen. Khi lật lại các hồ sơ lưu trữ tại Viện côn trùng học ở Dachau, ông phát hiện ra rằng vũ khí sinh học muỗi có thể đã được phát triển làm vũ khí tấn công.

Bức không ảnh chụp căn cứ Đơn vị 731.
Bức không ảnh chụp căn cứ Đơn vị 731.

Tiến sĩ Reinhardt và nhóm của mình từng cho công bố trên tạp chí khoa học Endeavor về phát hiện tại sao người đứng đầu Đội cận vệ (SS) của đảng Đức Quốc xã Heinrich Himmler lại cho xây dựng Viện Dachau để nghiên cứu về sinh lý học và kiểm soát côn trùng có thể tấn công gây hại cho con người.

Tuy nhiên, Tiến sĩ Reinhardt vẫn không có bằng chứng liên hệ nào giữa công việc của Viện côn trùng Dachau với những thí nghiệm được Klaus Schilling - người cũng được gọi là "tiến sĩ" tiến hành ở Trại tập trung Dachau dù có tài liệu nói Schilling đã sử dụng người làm vật thí nghiệm trong các nghiên cứu về bệnh sốt rét và nhân vật này sau chiến tranh đã bị kết án tử hình.

Năm 1943, một nhà khoa học Đức đề xuất tấn công nước Mỹ bằng nhiều loại tác nhân gây đại dịch cho người và động vật. Vào thời điểm đó, Đức Quốc xã đã thí nghiệm thành công hàng loạt vũ khí sinh học gây bệnh khác nhau.

Người Đức còn có ý tưởng thả 40 triệu con bọ hung lên các cánh đồng của nước Anh, gây ra tình trạng mất mùa và nạn đói diện rộng. Các nhà khoa học phục vụ cho nước Đức cũng tìm ra cách biến những căn bệnh nguy hiểm như thương hàn, dịch tả hay bệnh than thành vũ khí. Họ có thể tạo môi trường nuôi sống vi khuẩn gây bệnh trong 8-12 tuần liền, bảo đảm khả năng sát thương tối đa khi chúng được thả xuống lãnh thổ đối phương.

Tuy nhiên, không một loại vũ khí sinh học nào được triển khai do chính trùm phát xít Hitler đã ra lệnh cấm mọi nghiên cứu về vũ khí sinh học nhưng giới khoa học Đức đã phớt lờ lệnh cấm này, họ tiếp tục tiến hành những thử nghiệm trên cả người và động vật. Có giả thuyết cho rằng, Hitler từng bị thương vì vũ khí sinh hóa trong Thế chiến thứ I, hoặc ông ta coi đó là một âm mưu bí mật của người Do Thái, nên kiên quyết không cho phép đưa vào chiến trường những loại vũ khí có thể khiến quân đội Đức bị "gậy ông đập lưng ông".

Dấu tích Viễn Đông

Đạo quân Quan Đông của phát xít Nhật chiếm đóng Trung Quốc trong Thế chiến thứ II không chỉ nổi tiếng về trình độ thiện chiến mà còn danh bất hư truyền về mức độ tàn ác, góp phần vào "danh tiếng" này là một đơn vị nghiên cứu vũ khí sinh học bí mật có tên gọi chính thức là Cục Phòng chống dịch bệnh và Xử lý nguồn nước, với phiên hiệu Unit 731 (Đơn vị 731).

Khi Thế chiến II bùng nổ, Đơn vị 731 được biên chế vào thành phần đạo quân Quan Đông, do Trung tướng quân y Shiro Ishii chỉ huy. Trụ sở của Đơn vị 731 đặt tại một ngôi làng nằm ở ngoại vi thành phố Cáp Nhĩ Tân, Đông Bắc Trung Quốc ngày nay với diện tích lên tới 6km2 và hơn 150 tòa nhà. Đơn vị 731 gồm 3.000 quân, chủ yếu là các nhà nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực sinh hóa và các y bác sĩ quân y, được phân chia thành 3 biệt đội độc lập.

Biệt đội thứ nhất mang phiên hiệu 100 được biên chế hơn 800 người, chuyên nghiên cứu cấy virus vào côn trùng, mang các mầm bệnh như dịch hạch, kiết lị, bệnh than, thổ tả, sốt phát ban, thương hàn, lao, giang mai... Đồng thời tiến hành các nghiên cứu dược lý của các chứng bệnh nêu trên đối với cơ thể con người.

Biệt đội thứ hai mang phiên hiệu 102 với hơn 1.000 người, tham gia vào việc nghiên cứu và sản xuất vũ khí sinh học nói chung. Biệt đội 103 còn lại chịu trách nhiệm chế tạo các loại vi khuẩn và điều chế vắcxin. Ngoài ra, trong biên chế của Đơn vị 731 còn có một phân đội đặc biệt, chuyên nuôi, cấy các sinh vật thí nghiệm như thỏ, lợn, chuột, bọ chét... và cả con người. Giữa các tòa nhà của biệt đội này có một khu hỏa táng để đốt xác các vật thí nghiệm trong đó có con người tử vong trong quá trình thí nghiệm.

Theo lời khai của Đại tướng Yamada Otozo, Tư lệnh đạo quân Quan Đông trước tòa án xét xử tội phạm chiến tranh ở Khabarovsk (Liên Xô) sau Thế chiến thứ II, Đơn vị 731 được thành lập để chuẩn bị cho một cuộc chiến tranh vi trùng, chủ yếu sẽ được sử dụng tại vùng Viễn Đông của Liên Xô, Mông Cổ, Trung Quốc, Triều Tiên và các nước khác ở Đông Nam Á.

Từ năm 1940-1941, quân đội Nhật đã dùng máy bay rải bọ chét nhiễm bệnh dịch hạch do Biệt đội 100 bào chế, ném xuống 2 khu vực đông dân cư là thành phố Ninh Ba (tỉnh Chiết Giang) và Thường Đức (tỉnh Hồ Nam), khiến dịch bệnh bùng phát cướp đi sinh mạng của hàng chục nghìn người dân vô tội.

Hồ sơ thu được từ Bộ Tư lệnh đạo quân Quan Đông cho thấy, suốt 10 năm tồn tại, Đơn vị 731 được cho là đã gây nên cái chết của gần 200.000 người. Hầu hết nạn nhân là tù binh chiến tranh và dân thường bị bắt giữ trái phép, tất cả họ đều dưới 40 tuổi; phần lớn trong số đó là từ Trung Quốc và Hàn Quốc.

Nạn nhân được đưa tới phục vụ các chương trình thí nghiệm của 731 phải trải qua những thí nghiệm vô nhân tính xem sức chịu đựng của cơ thể con người khi bị phơi nắng hàng giờ liền, ngâm mình trong băng giá,  không cho ăn uống, tra điện...

Tệ hại hơn, các nạn nhân còn bị phẫu thuật lấy đi những bộ phận trong cơ thể mà không gây mê, nhằm nghiên cứu sự phát triển tế bào mô được lây nhiễm các mầm bệnh. Một trong những "thành quả" của Đơn vị 731 là sự phát triển của loại bom có khả năng lan truyền bệnh than và bệnh dịch hạch, những quả bom này đã được thử nghiệm ở những nơi khác nhau trên khắp Trung Quốc. Ngoài ra, bọ chét nhiễm bệnh dịch hạch đã được thả xuống từ máy bay ở Mãn Châu cũng như các thành phố của Trung Quốc như Thường Đức và Ningbo. Các ao, giếng bị nhiễm virút thương hàn, dịch tả và bệnh lỵ.

Trong những ngày cuối cùng của Thế chiến thứ II trên mặt trận Thái Bình Dương, đứng trước nguy cơ quân Nhật thất trận, tướng Shiro Ishii đã cho đặt mìn phá hủy toàn bộ các cơ sở thuộc Đơn vị 731, hòng tiêu hủy bằng chứng nghiên cứu phát triển vũ khí sinh học, đồng thời ra lệnh thủ tiêu toàn bộ số tù nhân còn lại gồm 150 người đang bị nhốt làm "vật thí nghiệm". 

Điều trớ trêu là S. Ishii được đưa sang làm chuyên viên cố vấn tại Phòng thí nghiệm y sinh học Fort Detrick, một cơ sở nghiên cứu vũ khí sinh học của Mỹ ở tiểu bang Maryland, giống như nhiều tên tội phạm Đức Quốc xã khác. Kết cục cuối cùng của kẻ độc ác này là cái chết ở tuổi 67 vì ung thư vòm họng.

Quang Học (tổng hợp)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.