Tiễn biệt thi sĩ Thanh Tùng: Chiếc lá rơi vẽ lối sang chiều

Thi sĩ Thanh Tùng ra đi nhẹ nhàng trong một đêm tháng 9 nhì nhằng những cơn mưa phương Nam. Bây giờ, nhà thơ trưởng thành từ màu áo thợ Hải Phòng, đã yên nghỉ ở hoa viên nghĩa trang Bình Dương, bên cạnh nhiều văn nhân nổi tiếng khác.

Cuộc đời 83 năm của thi sĩ Thanh Tùng trải dài trong thơ, ngụp lặn trong thơ và thăng hoa trong thơ. Những câu thơ sẽ thay mặt ông tiếp tục nói với công chúng hôm nay và mai sau bao lời thì thầm nhân ái!

Thi sĩ Thanh Tùng gieo neo và vất vả. Con gái của ông thấu hiểu cha mình nếm trải nhiều cơ cực, đã tổ chức cho ông buổi sinh nhật khá tưng bừng tròn 80 tuổi. Lần đầu tiên (và cũng là lần duy nhất trong đời) Thanh Tùng được phát thiệp mời sinh nhật mình, ông vui lắm. 

Tiệc tan, bạn bè về hết, men say còn ngất ngây, Thanh Tùng viết cho cái ngày 7-11-1935 mà một cậu bé có tên thật Doãn Tùng cất tiếng khóc chào thế gian: "Ngày tôi ra đời gió chưa bị xước/ Mọi bông hoa được nở hết mình/ Mùa thu được buồn/ Mùa xuân được hát/ Mùa hè òa vỡ nắng trinh nguyên/ Mùa đông mộ những mối tình đầu". Tâm sự ngỡ chừng mông lung ấy, ít nhiều phơi bày cốt cách của thi sĩ Thanh Tùng chân thành và mơ mộng!

Thanh Tùng từng đi thanh niên xung phong, từng làm giáo viên thể dục, từng quai búa ở xí nghiệp cơ khí, từng áp tải hàng hóa, từng buôn bán vỉa hè… Thế nhưng, dù nghề lấm láp hoặc nghề nhọc nhằn, dù nghề đổ mồ hôi hoặc nghề rơi nước mắt, cũng không thể nào xóa nhòa cảm xúc thi sĩ của Thanh Tùng. Nói cách khác, Thanh Tùng thao thức với thơ, dâng hiến cho thơ, và thơ cũng không bỏ rơi ông. 

Thanh Tùng có những câu thơ mang đầy phẩm vị thi sĩ máu thịt, như "những vòm liễu nhúng chiều vào đáy nước" hoặc "nối bao gió thu cho tôi tới được em". Tuy nhiên, xét tổng thể trong hơn 500 bài thơ mà Thanh Tùng để lại cho bạn đọc, thì thơ ông có ba mảng đề tài rõ nét: thành phố trai trẻ, người vợ bạc mệnh và nhân tình hư ảo!

Thành phố trai trẻ của Thanh Tùng là Hải Phòng. Nơi ông có những câu thơ vụng dại khởi nghiệp, và ghép tên Thanh của người em trai bất hạnh vào tên mình mà thành bút danh Thanh Tùng. Mấy chục bài thơ viết về Hải Phòng, bài nào cũng run rẩy, bài nào cũng nồng nàn, bài nào cũng nôn nao. Thanh Tùng tự thú: "Tôi đã làm thơ từ sau xe bò chở gạch/ Đến quảng trường nổi gió lúc nửa đêm/ Tiếng ghi ta ngập ngừng ven bờ sông Lấp/ Rồi bay lên sóng sánh ánh sao trời", Thanh Tùng nhận diện: "Những cần cẩu treo toàn không khí/ Thả những dấu hỏi khổng lồ vào cửa biển vắng con tàu/ Ở đâu những bạn thợ của tôi/ Trái tim mệt nhọc lăn trong ngõ lầy lội", Thanh Tùng cam kết: "Rồi mai đây ở bất cứ nơi nào/ Tôi cũng chỉ thấy mình chen chân trên Cầu Đất/ Hoa bằng lăng tím đến dại khờ", rồi Thanh Tùng ấp iu: "Tôi vẫn tin có ngày trở lại/ Bao già nua trút ở ngoại ô/ Để được chạy với bàn chân tinh khiết/ Phố Hàng Cau rồi phố Hàng Song/ Những con đường trong như nước mắt/ Sông Đào chảy vào tôi nguồn mơ mộng/ Những cánh buồm đã viết lên tôi nỗi buồn thứ nhất".

Người vợ bạc mệnh đã giúp ông có được bài thơ "Thời hoa đỏ" lừng lẫy. Hình ảnh người đàn bà nhan sắc Thanh Nhàn thường xuyên xuất hiện trong thơ ông như một nỗi ám ảnh khôn nguôi. Mối tình "mỗi mùa hoa đỏ về, hoa như mưa rơi rơi" kéo dài 15 năm, không chỉ hiển lộ trong các bài thơ "Thất tình" hoặc "Sau thời hoa đỏ", mà đã vun đắp những câu thơ dằn vặt khác: "Đêm quờ phải mặt ta, đêm nghẹn ngào run rẩy/ Đường chạm phải bóng ta, đường co mình trốn chạy/ Tiếng giày ta hay tiếng đóng quan tài/ Mà mỗi chiếc lá trên đầu cũng vội vàng khép lại/ Sương mặt sông chập chờn đổ vỡ/ Khóc đầm đìa trên những cột buồm cao/ Ngõ thẳm chôn gì, dựng đôi tầng đá xám/ Bóng ai còn buốt lạnh nét cầu xa/ Mười lăm năm em chưa về/ Mang theo cả nắng cuộc đời/ Ngôi nhà cũ bên sông giờ mới lại/ Bến xưa tàu đã ken dày/ Chỉ một lòng ta còn hóa dại/ Mười lăm năm đè nát một đêm nay". Sự chia lìa ấy, Thanh Tùng nhận hết lầm lỗi cho mình, và ông cầu nguyện khi bà Thanh Nhàn mất đi: "Ước gì tôi lại được bên em/ Lúc ấy mặt trời cũng thành giọt mật/ Tôi sẽ yêu em với một tình yêu khác/ Một tình yêu êm ái hơn nhiều". Ân nghĩa với bà Thanh Nhàn, được Thanh Tùng dồn hết cho hai đứa con chung Thi và Hương của họ: "Mẹ các con chẳng còn yêu cha/ Các con đã đi xa theo mẹ/ Cha chỉ nghĩ các con vừa ra chơi ngoài phố/ Cha vẫn mở, các con ơi, đôi cánh cửa/ Trong cả ngày lẫn đêm/ Trong cả mùa xuân lẫn mùa đông/ Và giữa hai cánh cửa kia/ Treo trái tim cha nặng trĩu nỗi mong chờ".

Nhân tình hư ảo, nghĩa là những bóng hồng vụt qua chốc lát giữa đời Thanh Tùng. Những người phụ nữ có thể đã gửi lại một gót son thấp thoáng, có thể đã gửi lại một nụ cười lơ đãng, có thể đã gửi lại một vạt lụa buồn thương hoặc có thể đã gửi lại một lời hẹn hắt hiu… 

Những người phụ nữ ấy có khi cũng không nhớ đã sơ ý đặt một xao động vào lòng Thanh Tùng, nhưng ông nâng niu hết thảy, gìn giữ hết thảy và chuyển tải hết thảy vào thơ. Này cô gái trên phố dài Thụy Khuê hôm nao bận bịu "Em ở lại với mùa thu Hà Nội/ Với màu buồn của liễu vẫn nuôi em/ Chiếc lá rơi vẽ lối sang chiều/ Đưa tóc em về đường gió khóc"

Này cô gái cá tính mạnh mẽ đã quay lưng vào xa thẳm: "Em đạp lên tất cả/ Rồi ngã vào anh theo cách ngã mùa thu/ Rồi hôn lên anh theo cách hôn dài của gió". Này cô gái thảnh thơi bước ngang đồi vắng nghiêng bóng thùy dương: "Em đã cho anh biết mình còn được yêu và có thể yêu/ Trên bãi cát đời anh khô khát/ Cây xương rồng kia bừng nở hoa rồi!".

Ngoài ba mảng đề tài chính kể trên, Thanh Tùng còn viết rất hay về rượu và mùa thu. Thanh Tùng quan niệm "không có tôi, rượu sẽ bơ vơ" nên chỉ cần vẩy một hơi cay vào cảm xúc thì lập tức bật ra những câu thơ nức dạ "Những em gái thập thò sau khung cửa/ Ánh mắt như màu rượu ủ lâu ngày". 

Thanh Tùng bộc bạch "tôi là người nôn nóng nhất của mùa thu", nên khoảnh khắc chuyển từ hạ sang thu bỗng hiện lên trong thơ ông đẹp não nùng: "Có tiếng ngân xa trong ngực nước chiều/ Có tiếng chia ly héo dần trong sẫm tối/ Tà áo gió xéo qua làn cỏ rối/ Rồi kéo theo tất cả màu xanh/ Kẻ ra đi thành cách biệt/ Người quê hương thành lữ khách/ Một mặt lá mùa hè còn níu ở/ Mặt kia thoáng đã thu đầy/ Tôi xanh lại trong tôi từng hơi thở/ Khi chạm vào thảng thốt heo may".

 Thi sĩ Thanh Tùng nhạy cảm với từng số phận con người, do vậy ông có những quan sát và những phát hiện đau đáu và lấp lánh. Bài thơ "Đôi nạng" viết về hậu quả B52 ở Hải Phòng, chỉ ngắn ngủi mấy câu mà dư âm ngậm ngùi một niềm san sẻ: "Ngày khai trường/ Cha mua cho con đủ thứ/ Nào sách bút, nào áo quần/ Lại cả đồ chơi nữa/ Nhưng cha ơi, cha quên sắm cho con đôi nạng mới/ Vì đã hai năm qua, từ khi con bị bom/ Chiếc nạng cũ chẳng chịu cùng con lớn lên, cha ạ!".

Cảm hứng thế sự được thể hiện khá đầy đủ trong trường ca "Nhịp điệu phương Nam" của Thanh Tùng. Từ khi 60 tuổi, Thanh Tùng chuyển hẳn vào định cư ở Sài Gòn. Năm 2005, sau 10 năm gắn bó với đô thị sầm uất còn vang vọng hành khúc những người đi mở cõi, Thanh Tùng hoàn thành trường ca "Nhịp điệu phương Nam". 

Ngoài những hé lộ mang tính riêng tư như "Anh đang ở trong ngôi nhà mà em đã mua bằng giá của cả một thời cô đơn thiếu nữ/ Chúng ta vội vàng kết gắn như nếu không thì lỡ mất chuyến tàu mà không bao giờ tới nữa", Thanh Tùng tập trung phác thảo hồn vía mảnh đất đã rộng rãi cưu mang mình nắng xế mệnh kiếp lênh đênh: "Tôi đã tiêu xài mười năm đích thực/ Dẫu chỉ trong ngõ lầy gầy guộc/ Tôi đã hưởng tự do, công bằng vì tôi biết những thứ quý báu đó, Người đã chia đều như không khí/ Người đã chấp nhận tôi bỏ qua nhiều nguyên tắc, còn tôi lấy mộng mơ thay cho bao giấy tờ phiền toái/ Trên đất đai phì nhiêu lạ lùng, tôi mọc lên theo những cây xoài, cây mận/ Tôi mê man dọc những dòng sông ăm ắp nắng/ Tôi nối với Người chẳng cần cây cầu nào".

Trong trường ca "Nhịp điệu phương Nam", Sài Gòn hiện lên rộn ràng, độ lượng và bay bổng: "Tôi đã mất mát nhiều, giờ mới lại có thêm/ Những tượng đài dạy tôi biết nhớ/ Những trận gió dạy tôi hào phóng/ Đất đai của hát ca/ Cho tôi tới được miền tươi trẻ/ Đêm đêm tôi ngủ trong trái dừa non/ Để ngày mai của mình ngọt lịm". 

Và Thanh Tùng nghĩ đến trách nhiệm của người làm thơ hôm nay: "Đêm đêm lần theo từng hẻm nhỏ/ Lắng nghe kênh Nhiêu Lộc thở than/ Để thơ tôi đổi thay tội ác/ Để thơ tôi không như kẻ thờ ơ tối tối rửa chân rồi yên tâm đi ngủ".

Thanh Tùng là một thi sĩ đích thực. Ông làm thơ đến tận những phút giây cuối cùng của đời mình. Trước khi thúc thủ trước căn bệnh nan y, Thanh Tùng vẫn sáng tác những vần điệu đắm đuối: "Sao gọi mãi vẫn nghe im lặng/ Ở nơi ấy có còn xưa không/ Những cuộc tình đã tắt bao năm/ Còn day dứt trong lòng ngõ hẹp". 

Đêm 12-9-2017, trái tim chưa hề biết mệt mỏi của Thanh Tùng đã ngừng đập. Vĩnh biệt thi sĩ Thanh Tùng, người yêu thơ lại đọc bài thơ mà ông đã viết tiễn đưa một đồng nghiệp cách đây không lâu, để tiếc nuối ông: "Anh đã đi xa/ Chỉ còn những câu thơ ở lại/ Những câu thơ tê tái/ Chạy như lá khô viền tang trên trán phố chiều nay/ Anh đã đi xa/ Ai đón rước mùa thu ngoài đồng nội/ Ai dẫn lối cho mùa xuân trở lại/ Ai giữ hồn nhiên giúp lũ trẻ bơ vơ/ Ai nâng lên cánh hoa vừa rụng?".

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.