Thơ của một người “đi lạc”

Thiên Sơn có tập truyện ngắn mang tên “Người bên lề”. Anh nhận mình là một kẻ suốt đời đi bên lề những những gì mà mọi người xung quanh muốn đứng vào bên trong, ở giữa, như danh vọng, quyền lực, tiền bạc, chức tước.

Không ít nhân vật trong truyện ngắn của anh thường mang bóng dáng của người không “hợp thời”, không thức thời, những người đi trong đời có chăng chỉ mang một nỗi buồn thiên di, một kẻ không biết mình đến từ đâu và đi về phương nào.

Trong thế giới thơ ca của Thiên Sơn - thế giới mà để đếm con chữ, chắc nó chỉ bé xíu, nhỏ xinh khi so sánh với với thế giới văn xuôi “Đại gia” anh đã có, với ngồn ngộn tiểu thuyết, truyện ngắn, phê bình... tôi vẫn nhận ra cùng một tâm thế ấy của người viết.

Bìa tập thơ mới của nhà văn Thiên Sơn.
Bìa tập thơ mới của nhà văn Thiên Sơn.

Thế gian phiền phức hơn, buồn bã hơn bởi đã sinh ra một loài, gọi là “loài thi sĩ”. Kẻ làm thơ đích thị là những kẻ đi lạc trong đời. Kẻ mang theo bên mình cả cái vô định của trời đất, cùng với bao nhiêu câu hỏi về thân phận mình, thân phận người. Kẻ “đứng chìm trong đêm” để tìm lại một nụ cười, một hơi ấm đã mất.

Hát mãi những bài xưa cũ
Đi lang thang vô định suốt mùa đông
Cây cầu gãy chơ vơ gục xuống dòng nước tối
Ta đứng chìm trong đêm

Về đâu cho thôi gió lạnh
Đâu bàn tay ấm dịu dàng
Nụ cười thân thương ngày ấy
Kỷ niệm giờ bỏ hoang

(Người đi lạc)

Những câu thơ không ăn được, không bán được, có thể chẳng mấy ai cần trong đời

sống mưu cầu vật chất, nhưng nó lại có thể nhắc người ta về những hoang lạnh, trống rỗng của tâm hồn. Cảm giác đi lạc của nhà thơ có lúc lại làm cho những người được gọi là đi đúng đường hoài nghi chính bước chân mình. Khi họ chợt nhận ra, phù du chính là bản chất của đời sống này.

Thơ Thiên Sơn là thơ của một “người đi lạc”. “Đi lạc” hay là cách hiểu khác về một tâm hồn tự do, không gì có thể ràng buộc.

“Đi lạc” để nhìn rõ con đường của mình, của người. Có khi để nổi giận và có khi xót thương cho sự chọn đường của kẻ khác:

Anh hề nói những lời có cánh
Nói, cười rồi khóc
Thì vẫn biết quyền của anh là hề
Nói những lời không ai tin
Nghĩ những điều không có trong sự thật
Chỉ nỗi đau chồng chất mỗi phận người

Con đường sắp đến chỗ gấp khúc
Tôi nín thở sợ chiếc xe bị lật
Sợ máu người lại chảy
Thôi đi anh hề ơi

(Anh hề)

Những hổ báo cứ việc nhai xác hươu nai
Rừng rộng thế, hoang vu, tự mình làm bá chủ

Cúi mặt xuống
Bàn chân bị xiềng xích trong đầm lầy hôi hám
Rỉ máu hoàng hôn
Không một con đường

(Cúi mặt xuống)

Thơ Thiên Sơn buồn. Nỗi buồn đó được khởi nguyên từ một người không ngừng chiêm nghiệm đời sống mình mang theo. Buồn dưới đáy, buồn căn cốt, không phải buồn trên đầu ngọn sóng lúc thủy triều dâng. Thật tình tôi rất ngại những nỗi buồn như vậy. Nó giống như đá chìm sâu trong lòng hồ:

Từng mẩu tháng năm quay lại nhìn ta
Trên con đường thẳm sâu mờ mịt
Hồn ta đã gọi ta
Những tiếng nồng nàn, đớn đau, tuyệt vọng

Ta tới hay lùi
Ta còn hay mất sau gió bụi thời gian?

(Những chiếc lá non tươi đã rụng)

Như thể con người phải dành nhiều hơn một cuộc đời, một kiếp sống, chỉ để đặt ra một câu hỏi như vậy, rồi quăng vào trời đất, để vô tăm tích, cho mặt hồ phẳng lặng một lời đáp lại.

Tôi không biết trong văn xuôi Thiên Sơn có chủ đích gì, còn trong thơ tôi nhận ra anh không có chủ đích. Một người tự biết bản-ngã-đi -lạc của mình. Một người ân cần, dành dụm mỗi bước chân đi, bởi biết rằng ngay cả khi ngoái lại, ta đã ở ngoài không gian đó, hơi thở đó. Với Thiên Sơn, thơ là những khoảnh khắc mà tâm hồn chớp được, là một tiếng gọi của tiềm thức, của sâu thẳm cội rễ. Thơ Thiên Sơn khi thì trữ tình, yếu đuối, giàu nhạc tính, khi thì lý tính, thế sự, thời cuộc, như thể thói quen tư duy của một người viết văn xuôi ngập tràn chất liệu hiện thực đời sống đã chen vào.

Tập thơ này không thể gọi tên thống nhất thơ Thiên Sơn, vì có không ít bài thơ đối nghịch về phong cách, nhưng tác giả có lẽ cũng không mưu cầu điều này. Nó đơn giản là những mảnh ghép của 10 năm “đi lạc” của thi sĩ. Những tâm trạng thành thật thâu nhận từ đời sống, hiển hiện trên giấy là để có thể giữ lại, cầm nắm được, khi thời gian vô định tiếp tục như bánh xe đẩy chúng ta về phía trước.

Mà đời dần khuyết hao Giấc mộng tàn bên gối
Sương tan và gió thổi
Hương nhòa trên lối xưa...

(Người đi)

Người làm thơ thường buồn và có thể rất buồn. Như thể trong những niềm vui trần gian, thơ ca khó mà bén mảng tới. Như thể chỉ có buồn mới đủ khả năng làm “kinh động” thơ ca. Nếu bạn ngắm kĩ gương mặt của các nhà thơ đích thực trên cõi đời này, bạn sẽ nhận ra, tất cả họ đều buồn. Họ cũng là những kẻ cô độc nữa. Phải chăng Thượng đế đã ấn định một phẩm chất đó cho họ, như một ân huệ và như một sự trừng phạt. Sứ mệnh của nhà thơ là ca hát về nỗi buồn. Nhưng hãy tin tôi, trong trái tim họ luôn là tiếng gọi thiết tha, ấm nóng với cuộc đời. Bằng không, hãy đọc bài thơ này của Thiên Sơn:

Tôi đi về phía ấy
Vắng
Mây mù
Gió ngược

Càng lúc càng hun hút
Những ngọn núi chắn ngang
Những vũng lầy hôi hám
Thú dữ gầm gừ

Tôi vẫn đi
Mệt mỏi
Cô độc
Cuối con đường in bóng một nhành hoa

(Hi vọng)

Bởi một nhành hoa đó, một tiếng gọi đó, hành trình “đi lạc” của nhà thơ là hành trình tìm về bản nguyên của chính mình. Tìm một hoài hoa mà rất có thể trên đường đời tấp nập, nhân loại đã quên mất mùi hương của nó. Và với Thiên Sơn, ý nghĩa của hiện hữu đôi khi chỉ giản dị thế này thôi, giản dị làm ta trào nước mắt:

Con đi giữa đời gắng làm người tử tế
Dẫu thế cuộc chuyển xoay dâu bể

Người tốt hôm qua có thể không còn tốt nữa hôm nay
Lý tưởng ngày hôm qua, có thể ngày hôm nay thành chuyện tầm phào
Những lúc cô đơn tận cùng muốn về bên mẹ khóc
Khi bình yên mơ thấy mẹ đang cười...
(Nửa đêm thức dậy nghĩ đến mẹ)

Hà Nội, Tháng 5/2019

Bình Nguyên Trang

Các tin khác

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.