Thiên đường của Nguyễn Văn Thọ

Tôi quen biết nhà văn Nguyễn Văn Thọ khoảng hơn mười năm, được anh tặng nhiều sách như “Quyên”, “Hương mỹ nhân”, “Vàng xưa”, “Vườn mộng”… nhưng quả thực tôi chưa từng đọc thơ anh. Mãi đến gần đây, đọc được bài giới thiệu chùm thơ 10 bài in trên Trang thơ Plus, tôi ngạc nhiên biết anh đã làm thơ in báo, in sách từ năm 1996.

Nguyễn Văn Thọ sinh năm 1948, quê Thái Bình. Từ nhỏ đã theo cha là hoạ sỹ lên Hà Nội; từng là người lính chiến đi suốt cuộc chiến chống Mỹ, nay về sống tại làng Ngọc Hà, Hà Nội. Nhiều người Việt ở Đức như tôi chỉ biết đến văn xuôi anh, đặc biệt là tiểu thuyết “Quyên”… Nhưng đọc thơ, thấy nếu văn xuôi của Nguyễn Văn Thọ mở ra phía bên ngoại cảnh, thì thơ anh lại ở phần hồn chính anh.

Số phận phiêu dạt của người lính Nguyễn Văn Thọ sau chiến tranh đưa anh tới Đông Đức làm Đội trưởng một đội lao động người Việt. Biến động lịch sử 1990, nước Đức thống nhất đã làm thay đổi bao nhiêu số phận người Việt. Hầu hết người Việt mất việc làm. Họ vừa hoang mang, vừa choáng ngợp trước sự giàu có và hào nhoáng của một nước Đức tư bản. Đồng tiền có sức hút mạnh mẽ. Sau phút choáng váng, người ta lao vào cuộc chiến kiếm tiền bằng mọi giá, đầy mồ hôi, nước mắt và cả máu. Là người trong cuộc, lại sẵn cái mẫn cảm khi đã từng cầm bút, lập tức cuộc sống tràn trang giấy, bằng những lời thơ rất thật:

Tôi sống giữa châu Âu
ăn ngon, mặc đẹp – Hơi thở tôi rất lạnh!
tôi mua- mua, bán – bán trên hè đường
ngày lại ngày...
nhiệt độ ngoài trời âm hai mươi nhăm độ
nước mắt chảy ra đóng băng gai nhọn
đồng D Mark trong ngực cứng như lưỡi dao
chém vào lòng...
nhận ra lời tha hương bạt xứ của ai!

Sau lưng cửa hàng hoa đầy hoa nhiệt đới sống trong lồng kính
lồng kính mong manh – con người dễ vỡ
tôi thương xanh lướt lả thân cành

(“Hơi thở”- Tập “Mảnh Vỡ”)

Có thể thấy, thơ Nguyễn Văn Thọ thuộc loại thơ tự sự. Đại từ nhân xưng “Tôi” luôn ở vị trí chủ đạo. Thơ Nguyễn Văn Thọ mộc mạc, dung dị như ngôn ngữ ngày thường. Hình ảnh trong thơ anh cũng vậy, đầy chất liệu sống. Và, thường sau mỗi cảnh tình thơ ấy, bao giờ cũng có câu thơ chốt, giàu cảm xúc, ẩn chứa một suy tư, đưa ra một triết lý “nhận ra lời tha hương bạt xứ của ai!”;  “tôi thương xanh lướt lả thân cành” làm cho bài thơ trở nên sâu sắc và hay hơn là nhờ những câu có tính tổng luận, đầy chiêm nghiệm như thế.

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ kí tặng sách cho độc giả.
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ kí tặng sách cho độc giả.

Thủ pháp nghệ thuật lấy cảnh làm nền cho diễn biến tâm lý, biểu hiện tình cảm, suy tư và triết lý luôn được Nguyễn Văn Thọ sử dụng rất nhiều và khá thành công. Bài “Cửa sổ” như một tiểu phẩm điện ảnh, mô phỏng cuộc đời, người chiến binh đánh mất thanh xuân vì chiến tranh, buộc phải cầm súng bảo vệ đất nước, đến nay vào cái tuổi mệt mỏi,... qua cửa sổ nhận ra một thế giới quan khác, khác với bi kịch chiến tranh ở xứ sở anh. Bài thơ vang vang sự nhận thức, đầy tính ẩn dụ về sự tự giác ngộ để chính nhân vật thấy thời cuộc đã xoay chuyển, thế giới sẽ, hay đang tốt đẹp hơn. Đây là bài thơ hay, giàu về tư tưởng và hình tượng, kết cấu liên hoàn.

“Thiên Đường”, bài thơ khai Xuân Đinh Dậu, Nguyễn Văn Thọ viết gần đây khi anh trở về quê hương năm 2017. Như vậy là sau hơn hai mươi năm ra đi và sau vài năm trở về, đủ chín để anh nhận ra đâu là thiên đường của đời mình. Đoạn mô phỏng nơi anh về thật đẹp:

Vườn tôi xanh vẫn mùa trăng ở
tiếng cựa mình của đứa con trai
nghe tiếng ai, tiếng ai...
giấc mộng vẫn dài
giữa vườn xưa vẫn tôi màu gặp gỡ.

Dù vậy, vết thương lòng những năm bạt xứ vẫn lẩn quất như bóng ma ám vào hồn anh, đẩy anh về quá khứ với những tháng ngày lênh đênh ở tạm, ăn tạm, cô đơn, lạnh buốt:

Tôi ra đi
nói chuyện với cây
ở tạm, ăn tạm, ngủ tạm và yêu tạm.

...

Tôi trở về chân còn bụi trầm luân
còn tuyết trắng bay đau mộng mị...
phút quên rồi nói chuyện lại cùng cây

Thực ra, lối sống tạm bợ không chỉ riêng với Nguyễn Văn Thọ mà có ở hầu hết người Việt, ngay từ ngày mới tới Cộng hoà dân chủ Đức. Hợp đồng lao động với họ chỉ có bốn năm, sinh ra tâm lý cái gì cũng tạm bợ. Dù như thế, nhưng ở nước Đức vẫn là một “thiên đường” của nhiều người Việt lúc bấy giờ. Người ở đất nước chiến tranh, bị cấm vận, thiếu từ miếng cơm manh áo, đến nơi vật chất dư thừa, thì đấy là “thiên đường”. Nước Đức thống nhất, một “thiên đường” khác lại mở ra, nó hấp dẫn, mê hoặc người ta bội phần. Tham vọng của con người như con tàu chạy trên đường ray không bến đỗ. Đấy mới là bi kịch của loài người.

Có lẽ, Nguyễn Văn Thọ là một trong số rất ít người, ngay từ năm 1996 đã có những vần thơ cay đắng, day dứt của kẻ tha hương:

Những đêm mưa xa xứ
Một chốn dung thân chẳng đủ

(“Mưa” - tập “Mảnh vỡ” )

Những kiếp đời mơ sống bình thường
sao cứ trôi trôi trên sông “khách thợ”
Hà Nội thừa ăn, sao lại thiếu quê hương?

(“Thơ tìm tôi hay là” 1996- tập Mảnh vỡ)

Mùa xuân năm 2012, tôi nghe anh kêu lên trên điện thoại: “Lạnh quá! Cái phòng chết tiệt, không có lò sưởi...”. Tôi mời anh tới nhà. Đón một người bạn quắt queo, ốm so rời khỏi căn nhà không máy sưởi, tôi chạnh lòng liên tưởng đến Nguyễn Bính. Nguyễn Bính lữ khách phiêu bạt từ Hà Nội vào Nam. Nguyễn Văn Thọ từ Berlin xuôi về Nam Đức, Chemnitz.

Nhà văn Nguyễn Văn Thọ và vợ trong ngày ra mắt sách.
Nhà văn Nguyễn Văn Thọ và vợ trong ngày ra mắt sách.

Nguyễn Bính ngủ đình ngủ quán, lấy rượu giải sầu, lấy chị Trúc để chia sẻ: “Tết này chưa chắc em về được/ Em gửi về đây một tấm lòng/ Chén rượu tha hương, giời: đắng lắm / Trăm hờn nghìn giận một mùa đông”.

Nguyễn Văn Thọ ốm, sốt, đi dưới tuyết rơi, kéo ba lô đầy tiểu thuyết “Quyên” đi bán trả nợ cho“căn nhà tình yêu” “mối tình lần thứ Ba”, ngủ trong phòng không có lò sưởi lạnh buốt, luôn lấy “Quyên” làm kẻ đồng hành. Ở bên nhau, thấy anh hay gọi điện về Việt Nam, có riêng một trang thơ với tựa đề “Nói với Châu Giang”: “Nghĩ mà thương thương lúc xa nhau / Cái hoang vắng ở trong ai nhiều thế”. Thì ra, trong cô đơn, anh lại tìm thấy hạnh ngộ, là vợ anh bây giờ - Châu Giang. Tôi tin, đấy là cú huých định mệnh, để anh trở về tìm thấy thiên đường của mình:

Thiên đường?
mỗi người ta mỗi cõi
với riêng tôi ở tận thẳm trong lòng
sớm tinh mơ một ý nghĩ vừa xong
một dòng viết vừa tan vào sương sớm
thiên đường
thiên đường
đứa con trai say ngủ
miệng cười tơ hay mộng
lại thiên đường.

Thiên Đường là một khúc ca khải hoàn về với tự do, về với cội nguồn. Thiên Đường, phần nào đã chạm tới cái làn ranh tư duy trong cõi Phật – loại bỏ vô minh để tiến tới giác ngộ. Biết đủ là đủ, cũng là sự giải thoát để đi đến cái an nhiên tĩnh tại. Nó là cả một quá trình nhận thức, chứ không phải cảm hứng nghệ sĩ nhất thời:

...trở về khi phù du phía trước
ngoảnh sau lưng, ồ cũng đoá phù dung

Hoặc, ngay từ năm 1996, trong “Hơi thở” anh đã viết:

Tôi trở về nhà, như tỉnh như say
đường mới mở gió còn lắm bụi
những ngôi nhà chưa lên mái ngói
ai đi trước cái cày, gầy cánh đồng khô

“Thiên Đường” - bài thơ vượt ra ngoài sự trói buộc của thế giới vật chất. Nó “ở tận thẳm trong lòng”. Và, chỉ có thể ở đó hơi thở anh, tâm hồn anh mới được ấm áp. “Việt Nam, Việt Nam/ Hơi thở tôi bỗng ấm” (Hơi thở). Hai tiếng Việt Nam vang lên trong thơ anh không phải là lời sáo ngữ, mà là tiếng vọng nhớ thương bật lên từ sâu thẳm cõi lòng của kẻ “vất vả, nổi chìm, khốn nạn”.

Như vậy, bài thơ mang thêm một thứ giá trị khác – tô rõ bản sắc trong bản ngã con người anh, cũng là trong một giống nòi. Giá trị ấy, không nơi nào tốt hơn ở chính cội nguồn đã nuôi dưỡng nó lớn lên: “Xin hòa hơi thở tôi vào hơi thở/ đồng nội/ phố phường” (Hơi Thở). Từ “thế giới nào của tôi ?” - Như vậy từ “Cửa sổ” đến “Thiên Đường” là cả một quá trình đấu tranh giằng xé nội tâm, loại bỏ vô minh đi đến giác ngộ, Nguyễn Văn Thọ đã tìm ra thế giới của mình, thiên đường của mình: Quê hương

Nguyễn Văn Thọ luôn không nhận mình là thi sỹ, tài năng thực sự của anh ở văn xuôi. Nó hiện thực, đầy kịch tính, hấp dẫn người đọc. Dù vậy, chất thi sỹ ẩn náu trong tâm hồn anh vẫn cứ bật lên khi bút văn bất lực. Nguyễn Văn Thọ không “mân mê” chữ, trong thơ đâu đó vẫn còn lẫn câu văn, nhưng là tiếng nức nở của trái tim, của đáy lòng đã yêu tha thiết, thuận bút mà viết ra, thành thơ!

Chemnitz, 26-1-2019

Phúc Nguyễn

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.