Qua 2 Kết luận thanh tra (KLTT) chuyên đề toàn diện vừa được Thanh tra TP Hồ Chí Minh công bố (KLTT Chuyên đề về công tác quản lý thăm dò, khảo sát, quy hoạch, cấp phép, khai thác, vận chuyển đối với các mỏ vật liệu xây dựng và KLTT về kết quả thanh tra chuyên đề lĩnh vực khoáng sản vật liệu xây dựng đối với chủ đầu tư của 6 mỏ khoáng sản vật liệu đá xây dựng có công suất khai thác lớn và cung ứng cho các công trình, dự án trọng điểm trên địa bàn TP Hồ Chí Minh) đã bóc tách một thực tế đáng quan ngại: Đằng sau những đại công trường rầm rộ là hàng loạt lỗ hổng, sai phạm kéo dài từ khâu cấp phép, quản lý môi trường, thủ tục đất đai cho đến nghĩa vụ nộp ngân sách nhà nước.
"Trốn" giấy phép môi trường và những trạm cân "tàng hình" dữ liệu
Để tháo gỡ “cơn khát” vật liệu cho các dự án giao thông trọng điểm quốc gia, UBND tỉnh Bình Dương (cũ) trước đây đã ban hành nhiều thông báo nghiêm khắc, yêu cầu các chủ mỏ phải ưu tiên tối đa nguồn khoáng sản cho đầu tư công.
Đặc biệt, cuộc thanh tra chuyên đề diễn ra từ đầu năm 2026 đã trực tiếp "giải phẫu" hoạt động của 6 mỏ đá xây dựng có công suất khai thác lớn nhất trên địa bàn, được xem là "xương sống" cung ứng cho hạ tầng thành phố. Đó là các mỏ lớn như Tam Lập 3 (tại xã Phú Giáo), Tân Mỹ B+C (tại xã Thường Tân), Thường Tân III, Thường Tân IV, Tân Mỹ A+D (tại xã Thường Tân) do các doanh nghiệp đầu tàu như Công ty CP Khoáng sản và Xây dựng Bình Dương, Công ty TNHH SX TM DV Tân Tân Mỹ làm chủ đầu tư.
Tuy nhiên, kết quả kiểm tra tại thực địa lại chỉ ra một nghịch lý: Mục tiêu cung ứng trực tiếp vật liệu cho các công trình trọng điểm phần lớn đều “phá sản”. Khối lượng thực tế cung cấp trực tiếp cho dự án công là rất thấp, chỉ ở mức 30 - 40% đối với đá.
Lý do được các chủ mỏ đưa ra là khi nhà thầu đến khảo sát, lấy mẫu thử nghiệm thì sản phẩm... không đạt tiêu chuẩn kỹ thuật đặc thù của công trình. Đáng nói hơn, phần lớn nguồn khoáng sản này vẫn phải chảy qua các đơn vị trung gian, nhà thầu phụ, khiến giá thành bị đẩy lên cao, thị trường mất đi tính minh bạch và ổn định.
Chưa dừng lại ở đó, qua kiểm tra việc thực hiện báo cáo định kỳ của các chủ đầu tư mỏ, cơ quan thanh tra phát hiện có tới 13 chủ mỏ lập báo cáo sai lệch về sản lượng khai thác thực tế. Có 6 mỏ ngang nhiên khai thác vượt công suất cấp phép, trong khi ở chiều ngược lại, có những mỏ cát lại khai thác cầm chừng, chỉ đạt từ 7,8% đến 41% công suất thiết kế. Sự bất cập này không chỉ gây lãng phí nghiêm trọng nguồn tài nguyên quốc gia quý giá trong bối cảnh khan hiếm vật liệu, mà còn phản ánh sự lỏng lẻo trong khâu hậu kiểm của cơ quan quản lý nhà nước.
Vấn đề bảo vệ môi trường trong khai thác khoáng sản được pháp luật quy định cực kỳ nghiêm ngặt. Thế nhưng, kết quả thanh tra đối với 57 mỏ khoáng sản đang hoạt động đã phơi bày một sự thật: Có tới 25 mỏ khoáng sản ngang nhiên hoạt động khai thác mà không hề có Giấy phép môi trường. Sai phạm nghiêm trọng này diễn ra trong suốt thời gian dài nhưng Sở Nông nghiệp và Môi trường (NN&MT, cơ quan được giao quản lý nhà nước sau sáp nhập) lại "bỏ quên", không kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm hành chính theo quy định.
Để kiểm soát chặt chẽ từng tấn tài nguyên rời mỏ, pháp luật quy định các doanh nghiệp bắt buộc phải lắp đặt trạm cân và camera giám sát, lưu trữ dữ liệu kết nối về cơ quan quản lý. Tuy nhiên, qua kiểm tra ngẫu nhiên, cơ quan chức năng ghi nhận có 2 mỏ hoàn toàn không lắp đặt trạm cân; 5 mỏ có trạm cân nhưng "quên" lưu trữ dữ liệu trên máy tính.
Cho đến nay, Sở NN&MT vẫn chưa xây dựng được hệ thống hạ tầng kỹ thuật kết nối thông tin dữ liệu khoáng sản, khiến việc giám sát sản lượng khai thác của Nhà nước phụ thuộc hoàn toàn vào tính "tự giác" và những bản báo cáo trên giấy của doanh nghiệp.
Một mảng tối khác được chỉ rõ là công tác đóng cửa mỏ. Khi giấy phép hết hạn, doanh nghiệp có nghĩa vụ phục hồi môi trường, di dời tài sản để trả lại đất cho Nhà nước. Tuy nhiên, có tới 11 mỏ chây ỳ không nộp hồ sơ đóng cửa mỏ đúng hạn. Điển hình là sai phạm tại Mỏ đá xây dựng Núi Nhỏ của Công ty CP Đá Núi Nhỏ. Dù giấy phép hết hiệu lực từ năm 2020, doanh nghiệp này không di chuyển tài sản, thậm chí còn chiếm dụng 5.000m² đất làm văn phòng đến tận năm 2025 khi chưa được cấp phép và chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính. Trớ trêu là Sở NN&MT vẫn trình cấp có thẩm quyền ban hành quyết định đóng cửa mỏ khi doanh nghiệp chưa hoàn thành tiền thuê đất.
Chấn chỉnh kỷ cương - đòi hỏi cấp bách từ thực tiễn
Một trong những phát hiện nhức nhối nhất của KLTT chính là nguy cơ thất thu ngân sách nhà nước lên đến hàng trăm tỷ đồng do sự thiếu trách nhiệm của các cơ quan tham mưu.
Đầu tiên là sự tắc trách trong việc ban hành Bảng giá tính thuế tài nguyên. Suốt giai đoạn từ năm 2019 đến năm 2025, trên địa bàn TP Hồ Chí Minh (trước hợp nhất, sáp nhập) đã "bỏ quên" việc ban hành văn bản quy định này. Hậu quả là các đơn vị phải dùng một quyết định cũ từ năm 2018 để áp giá tính thuế và tiền cấp quyền khai thác, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nguồn thu ngân sách, trách nhiệm trực tiếp thuộc về Cục Thuế và Sở Tài chính.
Bên cạnh đó, việc tính và phê duyệt bổ sung tiền cấp quyền khai thác khoáng sản của Sở NN&MT cũng bộc lộ nhiều sai sót. Cơ quan này đã áp dụng sai Bảng giá tính thuế tài nguyên tại 38 quyết định phê duyệt bổ sung, dẫn đến việc tính thiếu số tiền phải nộp ngân sách tạm tính lên tới hơn 45,6 tỷ đồng.
Đến thời điểm thanh tra, toàn thành phố vẫn còn 15 mỏ nợ đọng tiền cấp quyền khai thác khoáng sản với số tiền lên đến hơn 106 tỷ đồng. Qua đối chiếu sâu hồ sơ của 35 mỏ, Thanh tra còn phát hiện 14 mỏ nộp thiếu phí bảo vệ môi trường (hơn 5,4 tỷ đồng) và 12 mỏ nộp thiếu thuế tài nguyên (hơn 15,1 tỷ đồng) do kê khai sai khối lượng và đơn giá tính thuế.
Lĩnh vực đất đai tại các mỏ cũng rối ren không kém. Qua kiểm tra 48 mỏ, có đến 34 mỏ chưa hoàn thành các thủ tục đất đai theo quy định. Trong đó, có 3 mỏ ngang nhiên cuốc đất, múc đá khai thác rầm rộ khi chưa hề có quyết định cho thuê đất hay chuyển mục đích sử dụng đất.
Đặc biệt, Sở NN&MT đã chậm trễ trong việc ký hợp đồng thuê đất đối với 25 mỏ khoáng sản (với tổng diện tích khổng lồ lên tới 571,57 ha), vô hình trung làm tước đi cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp này nộp tiền thuê đất vào ngân sách, gây đọng vốn và nguy cơ thất thu cực lớn. Sự thiếu phối hợp chặt chẽ, kiểm tra đối chiếu giữa Sở NN&MT với Cục Thuế Thành phố chính là gốc rễ tạo nên những khoảng trống này.
Để khắc phục triệt để các vi phạm trên, Chánh Thanh tra Thành phố đã đưa ra những kiến nghị, giải pháp mang tính cứng rắn và toàn diện: Yêu cầu các chủ đầu tư mỏ phải khẩn trương khắc phục sai phạm, nộp đầy đủ các khoản tiền nợ đọng, tiền tính thiếu về thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường và tiền cấp quyền khai thác khoáng sản vào ngân sách nhà nước. Sở Tài chính và Cục Thuế phải rà soát, tham mưu ban hành ngay Bảng giá tính thuế tài nguyên để làm căn cứ truy thu dứt điểm.
Về quản lý công nghệ và giám sát hiện trường, các chủ mỏ phải sửa chữa toàn bộ lỗi kỹ thuật của hệ thống giám sát, lưu trữ dữ liệu trạm cân liên tục và sẵn sàng trích xuất. Giao Sở NN&MT khẩn trương xây dựng hệ thống dữ liệu số để kết nối trực tiếp dữ liệu camera và trạm cân từ các mỏ về Sở, chấm dứt việc quản lý thủ công, dựa vào sự trung thực "trên giấy" của doanh nghiệp.
Sở Xây dựng có trách nhiệm chủ trì phối hợp xây dựng phương án điều phối vật liệu theo từng giai đoạn dự án, nghiên cứu đưa cát, đá xây dựng vào danh mục vật liệu đặc thù thực hiện kê khai giá. Xem xét cơ chế quy định tỷ lệ bán trực tiếp sản phẩm cho các dự án đầu tư công, triệt tiêu các khâu trung gian đẩy giá để tối ưu hóa năng lực cung ứng, tháo gỡ triệt để bài toán khan hiếm vật liệu.
Giám đốc Sở Nội vụ có trách nhiệm tham mưu cho Chủ tịch UBND Thành phố tổ chức kiểm điểm nghiêm túc trách nhiệm của lãnh đạo các sở, ngành, phòng ban và các cá nhân có liên quan để xảy ra sai phạm, thiếu sót như KLTT đã nêu...