Đây là di sản văn hóa phi vật thể thứ 9 của Việt Nam được thế giới vinh danh. Trước đó là 8 di sản: Nhã nhạc cung đình Huế (2003), Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên (2005), Dân ca quan họ Kinh Bắc (2009), Ca trù (2009), Hội Gióng (2010), Hát xoan Phú Thọ (2011), Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (2012) và Đờn ca tài tử (2013).
Theo những trình bày của đại diện Ban thẩm định hồ sơ nghệ thuật hát ví, giặm Nghệ Tĩnh, UNESCO đánh giá cao sự độc đáo và hấp dẫn trong đó. Thậm chí một thành viên có mặt trong phiên họp thứ 9 của Ủy ban Liên chính phủ Công ước 2003 UNESCO còn thốt lên: "Xin cảm ơn Việt Nam vì một hồ sơ đặc biệt và thuyết phục".
UNESCO khẳng định, nghệ thuật hát ví, giặm Nghệ Tĩnh đã thỏa mãn các tiêu chí để đủ điều kiện trở thành một di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại như: được truyền từ đời này sang đời khác trong các cộng đồng người Việt ở vùng Nghệ Tĩnh. Các bài dân ca ví, giặm đã chiếm một vị trí quan trọng trong đời sống văn hóa, tinh thần của họ, biểu đạt lối cảm, lối nghĩ của họ. Với môi trường diễn xướng gắn liền với đời sống lao động, ví, giặm Nghệ Tĩnh được hát không kèm theo nhạc đệm trong bất cứ hoạt động sống nào, từ trồng lúa, dệt vải tới ru con, tự tình trai gái, v.v…
Việc chuẩn bị hồ sơ trình UNESCO công nhận dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại đã được khởi xướng từ năm 2013. Tháng 5/2014, Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch tiếp tục tổ chức một hội thảo khoa học quốc tế tại Nghệ An để bổ túc hoàn thiện hồ sơ trước khi đưa trình chính thức vào ngày 30-6.
Về kỹ thuật và môi trường diễn xướng, hát ví, giặm có điểm khác với hát quan họ và ca trù ở chỗ, người hát không phải luyện tập, người dân nào cũng hát được. Họ hát ngẫu hứng, hát trong khi đi chơi, hát trong lúc lao động.
Điểm đặc sắc nữa của nó ở tính tương tác, đối đáp. Đó là khi có anh chàng ngồi đan nón bên này, thấy bên kia có cô gái trông "vui vui", bèn tìm cách hát trêu. Cô gái xấu hổ, phải tìm cách ứng đối. Trong sự đối đáp đó, giai điệu không quan trọng bằng ngôn từ, chất lượng nghệ thuật không được đặt quá cao so với xúc cảm giao lưu.
Tính ngẫu hứng trong hát ví, giặm Nghệ Tĩnh là một đặc trưng rất rõ. Thật thú vị khi so sánh nó với tính ngẫu hứng trong đờn ca tài tử, loại hình nghệ thuật vừa được vinh danh là di sản văn hóa phi vật thể năm 2013.
![]() |
| Phái đoàn Việt Nam tham dự cuộc họp liên chính phủ của LHQ liên quan tới việc công nhận dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh là di sản văn hóa phi vật thể đại diện nhân loại của UNESCO (Ảnh do GS. Trần Quang Hải cung cấp). |
Trong đờn ca tài tử, một anh chạy xích lô, anh thợ cắt tóc có thể đàn chung với một ông đại gia hay kỹ sư, bác sỹ, tức là không phân biệt giai cấp, ngành nghề. Còn trong hát ví, giặm, sự giao lưu thường diễn ra giữa những người cùng một làng hay cùng một nghề như phường vải, phường nón.
Như vậy, khác biệt cơ bản ở chỗ, với hát ví, giặm Nghệ Tĩnh, sự phóng túng nằm trong lời ca, không phải trong giai điệu. Còn ở đờn ca tài tử, phóng túng trong giai điệu (tiếng đàn), không phải trong lời ca.
Theo GS. Trần Quang Hải, nhà nghiên cứu âm nhạc dân tộc và cũng là người góp sức đáng kể trong việc hoàn thành bộ hồ sơ trình UNESCO của dân ca ví - giặm, đặc trưng tiếng nói của người Nghệ khá nặng, chỉ có ba âm. Vì thế, trong âm nhạc chỉ có tam cung, tứ cung chứ không phải ngũ cung như dân ca miền Bắc hay miền Nam. Riêng trong hát giặm, có điệu giặm ru có thang âm ngũ cung của miền Bắc, do sự du nhập từ Bắc vào. GS. Trần Quang Hải đặc biệt ấn tượng với sự phong phú trong cách luyến láy rất hay của giai điệu dân ca ví, giặm.
Bây giờ về lại những vùng quê ở Nghệ An, Hà Tĩnh, thật khó để người ta được tham gia vào một phiên hát phường vải, phường nón, hoặc thậm chí nghe một câu hò của người phụ nữ đang giặt áo trên sông. Bây giờ còn ai ra sông La vừa giặt áo vừa hát hết nguyên một ngày, hoặc vừa làm việc, lại vừa hát đối đáp với một anh câu tôm đánh cá nào gần đó?
Chưa kể, bây giờ người ta phải dùng loa đài để hát vì hát "chay" không mấy người đủ giọng. Cùng với hệ thống máy phóng thanh thì dàn nhạc đệm cũng khiến người hát không còn chú tâm được vào cảm xúc, tình cảm của làn điệu. Khi bị sân khấu hóa, ví, giặm có nguy cơ không còn là loại hình nghệ thuật bắt nguồn từ cái gốc dân ca. Từ việc bị sân khấu hóa, nó hướng về du lịch. Trên sân khấu, người ta còn phụ họa về hòa âm theo kiểu Tây phương mà quên rằng nhạc Việt Nam là nhạc đơn ca, đơn điệu, không phải nhạc đa âm. Việc dùng dàn nhạc hay loa đài để đệm vào, kích âm lên chỉ khiến âm nhạc truyền thống trở nên nhợt nhạt, vô cảm.
Với riêng các giá trị văn hóa phi vật thể, câu chuyện bảo tồn bao giờ cũng phải là vấn đề con người, ở đây là các nghệ nhân - những người lưu giữ, truyền dạy và cũng là nguồn sinh khí cổ vũ tinh thần say sưa chăm chút nghệ thuật của các thế hệ sau. Đành rằng với Nghị định 62 vừa qua của Chính phủ về việc cấp giấy chứng nhận nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân, những người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa nghệ thuật dân tộc cũng đã phần nào được động viên khích lệ, nhưng xem ra đây vẫn là công tác cần nhiều quan tâm hơn nữa.
Trong lĩnh vực văn hóa phi vật thê,í người Nhật đã tiến hành cấp phép và tạo điều kiện hành nghề cho các nghệ nhân văn hóa dân gian rất bài bản, hệ thống và hiệu quả, rất đáng học tập.
Người Nhật có một cụm từ rất phổ biến để chỉ các nghệ nhân trong lĩnh vực văn hóa phi vật thể: các kho báu sống của quốc gia (tiếng Anh: Living National Treasures, tiếng Nhật: Ningen Kokuho). Tuy không được sử dụng trong văn bản pháp luật, hành chính, nhưng trong đời sống và truyền thông, đây là thuật ngữ rất quen thuộc. Thuật ngữ phổ biến này dành cho những người được cấp chứng chỉ "Những người bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể quan trọng" (Preservers of Important Intangible Cultural Properties) do Bộ Giáo dục - Văn hóa - Thể thao - Khoa học và Công nghệ cấp.
Ở Nhật có 3 loại chứng chỉ liên quan tới các giá trị văn hóa phi vật thể được chia làm 16 hạng mục (liên quan tới những kỹ năng nghệ thuật cụ thể được cho là quan trọng với đất nước và nhân dân Nhật Bản): Chứng chỉ cá nhân (Kakko Nintei) dành cho các cá nhân đạt trình độ bậc thầy trong một loại hình nghệ thuật hay thủ công; Chứng chỉ tập thể (Sogo Nintei) cấp cho các nhóm gồm từ 2 người trở lên làm việc chung với nhau và đạt trình độ bậc thầy trong một loại hình nghệ thuật hay thủ công; Chứng chỉ nhóm bảo tồn (Hoji Dantai Nitei) cấp cho một nhóm đông đảo những người thành thạo một loại hình nghệ thuật hay thủ công mà trong đó cá tính cá nhân không đặt nặng.
Chỉ những người được cấp Chứng chỉ cá nhân mới được xem là các Kho báu sống của quốc gia. Những người hoạt động trong các lĩnh vực như sân khấu, âm nhạc sẽ được cấp Chứng chỉ cá nhân hoặc Chứng chỉ tập thể, những người hoạt động trong lĩnh vực ngành nghề thủ công sẽ được nhận Chứng chỉ cá nhân hoặc Chứng chỉ nhóm bảo tồn.
Mỗi năm Chính phủ Nhật trích ngân sách khoảng 2 triệu yên (16.972 USD) tài trợ cho các Kho báu sống quốc gia để bảo tồn các giá trị văn hóa phi vật thể của dân tộc. Với các nhóm, chính phủ sẽ chi trả kinh phí cho các triển lãm và hoạt động cộng đồng cần thiết cho sự phát triển của tổ chức nghệ nhân. Ngoài ra, Nhà hát quốc gia Nhật có các chương trình đào tạo giúp ươm mầm đội ngũ kế cận cho các loại hình nghệ thuật truyền thống của Nhật như Noh, Bunraku và Kabuki.
Câu chuyện về những người làm kiếm ở Nhật là ví dụ cho thấy việc cấp chứng chỉ hành nghề cho nghệ nhân đã đem lại hiệu quả không chỉ về mặt giữ gìn và phát huy các giá trị truyền thống văn hóa đặc sắc của dân tộc.
Ở Nhật, Hiệp hội Sản xuất kiếm chỉ có khoảng 250 thành viên được cấp chứng chỉ hành nghề. Mỗi năm, một thành viên chỉ được sản xuất 24 chiếc kiếm Shinken truyền thống, nhưng giá mỗi chiếc kiếm này, rẻ nhất cũng phải tới 6.000 USD. Như vậy, mỗi nghệ nhân làm kiếm Nhật Bản thu nhập trung bình hằng năm phải từ 144.000 USD trở lên. Thu nhập đó là mơ ước ngay với nhiều công chức có công ăn việc làm ổn định, thu nhập tốt chứ đừng nói tới các nghệ nhân không ít người đang phải giật gấu vá vai như ở ta.
