Những câu văn khép lại truyện ngắn "Thời tiết của ký ức" của tác giả Bảo Ninh đã trở thành một thông điệp đầy tiếng vọng mà cho đến bây giờ vẫn còn nguyên giá trị về việc chúng ta sẽ ứng xử với quá khứ như thế nào khi chiến tranh sẽ như "thời gian không cánh mà bay"?
Văn học hậu chiến từ sau 1975 đã trở thành một cánh rừng thiêng của số phận con người, ở đó nỗi đau sống lại chân thực như những người lính vô danh còn nằm lặng giữa đại ngàn và cũng chính văn học với sứ mệnh hàn gắn đã đi những đường kim đầy thấu hiểu để mở ra một vùng biên mới mà chúng ta, những người đương thời lựa chọn ghi nhớ và khoan thứ.
Từ sau tập sách "Bè trầm" được NXB Đồng Nai xuất bản năm 1997, từ đó tới nay 4 tác giả "Bảo Ninh, Nguyễn Quang Lập, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Trọng Tín" mới có dịp gặp lại nhau trên cùng một cuốn sách; cuốn sách đó lấy tên một truyện ngắn đặc sắc của nhà văn Bảo Ninh để đặt tên: "Thời tiết của ký ức"; sách do NXB Hội Nhà văn ấn hành vào 5/2026 và càng đặc biệt hơn khi tập sách có thêm sự góp mặt của nhà văn Phạm Ngọc Tiến.
"Thời tiết của ký ức" tập hợp 12 tác phẩm, là những truyện ngắn tiêu biểu viết về hậu chiến của 5 nhà văn: Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Quang Lập, Nguyễn Trọng Tín, Phạm Ngọc Tiến. Họ là lớp những tác giả trở về từ chiến trường, bằng các tác phẩm đã góp phần mở đường cho công cuộc đổi mới văn học Việt Nam từ sau 1975.
Số phận của con người trong và sau chiến tranh luôn là đề tài có "độ rung không mòn nhẵn"; suốt mấy chục năm qua mỗi khi bàn tới, đề tài này vẫn còn ngổn ngang bởi những câu hỏi lớn. "Bè trầm", một thiên tiểu thuyết có dung lượng vừa, viết về những người lính ở một trại thương binh nặng, họ nương vào nhau đi qua những ngày tối tăm, "trong cái bóng đêm tưởng chừng rất đơn giản ấy lại luôn xảy ra những điều trái ngược" và "nước mắt của phụ nữ là điều mà đàn ông không bao giờ có thể hiểu được"...
Khi ấy, nhà văn Nguyễn Trọng Tín 34 tuổi, một người trẻ sớm định hình được phong cách với lối viết vừa đậm chất lính tráng, vừa mênh mang một nỗi buồn Châu thổ. Trước khi viết văn, Nguyễn Trọng Tín làm thơ, trong đó có những bài thơ thấm đẫm nỗi buồn hậu chiến như "Mười sáu cuộc chiến tranh".
Nhà văn Trung Trung Đỉnh bắt đầu viết từ những ngày ở chiến trường Tây Nguyên, vì yêu văn chương mà suy nghĩ nhiều, túc tắc ghi chép để khởi bút. Ông viết để tìm thấy "Những khoảng sáng trên đỉnh dốc", đôi chân không ngừng đi về phía ánh sáng như những mầm cây vươn tìm sự sống; viết để nói câu chuyện của những "Người trong cuộc", rằng họ đã can trường đi qua những ngày địch càn quét, sống trong thiên nhiên hùng vĩ với cái đầu lạnh và trái tim đỏ như đất...
Ông thừa nhận "tôi thích hợp với ký ức và hồi tưởng"; trong đầu ông chủ yếu bị khuấy động bởi hai giấc mơ, giấc mơ về thời thơ ấu và những giấc mơ về chiến tranh; cho tới bây giờ những giấc mơ đó vẫn tìm đến như một lời nhắc: ông không thoát được chiến tranh, viết cái gì rồi cũng quay về chiến tranh, có thể đó là số phận mà số phận thì không phải ai muốn thế nào cũng được...
Khi về với phố thị, nhà văn Trung Trung Đỉnh lại thấy chệnh choạng những bước chân, rất khó lý giải. Ông bảo: "Thế hệ chúng tôi, hầu hết đều thế cả. Cái ký ức đó sâu nặng quá, và nó luôn ám ảnh". Điều này minh chứng cho việc mỗi người có một địa hạt riêng, họ làm mưa rơi xuống quả đồi nào thì sẽ thấm vào đất, trở thành nước ngầm, bền bỉ nuôi dưỡng những cái cây ở đó, và rồi cũng từ đó mà viết nên cá tính riêng nhất cho mình.
Văn chương không chỉ mô tả sự khốc liệt mà đi vào khai thác thế giới con người trong cuộc chiến: tổn thương, vĩ đại, tầm thường, vô thường... "Đò ơi...! Tiếng gọi vang lên ào ạt... nhưng đó chỉ là dư vang của ký ức đau buồn". Lấy cảm hứng từ hình ảnh túp lều lá mía bỏ hoang ở bên sông, nhà văn Nguyễn Quang Lập đã cúi xuống những số phận bị mắc kẹt lại ở một chuyến đò đêm... Nhưng nếu không ai tha thứ cho ai thì cái vòng luẩn quẩn của quá khứ sẽ tiếp tục vây siết, cuộc hồi hương của những bi kịch có thể sẽ xảy ra.
Trong vô thức người lái đò tìm đến một cánh cổng... Nhưng tiếc thay, đến phút chót Nguyễn Quang Lập vẫn tàn nhẫn trong cái quyền được tàn nhẫn của ông; tiếng đập cửa của người lái đò đã lạc vào tiếng của "những ngọn gió ngoài bờ sông thỉnh thoảng vẫn dội về". Đa số người đọc cho rằng, người lái đò sẽ phải sống tiếp quãng đời còn lại trong dằn vặt, không cách nào gột rửa nhưng vẫn còn dấu ba chấm (...) ở cuối tác phẩm; phải chăng đó là "chuyến đò" mà tác giả muốn dành cho người lái đò để cởi bỏ đi một sợi xích khi vốn dĩ ông cũng là một số phận bị chiến tranh ngược đãi?
Ở đâu có chiến tranh thì ở đó có nghịch lý. "Người già phát động chiến tranh, người trẻ thì chiến đấu và chết"; "Thời bình con chôn cất cha mẹ, trong chiến tranh thì ngược lại"... Những ước vọng của con trẻ ở thung lũng Chớp Ri vẫn không thoát khỏi bị bom Mỹ giày xéo, tình yêu đôi lứa bị đóng đinh lên cột bếp, người đàn bà chênh vênh đi trên bi kịch của cô đơn và sấp ngã...
Nhà văn Nguyễn Quang Lập đẩy nỗi đau lên đến kịch đỉnh của chia lìa, mất mát để rồi từ đó chiều sâu nhân đạo được tìm thấy dưới những đống đổ nát. Những số phận còn sót lại ở Chớp Ri ví như khoai, lạc trên đồng vắng, họ không thể bị che lấp hay xóa trắng; sau cơn mưa tất cả sẽ hiện ra, đầy nhức nhối...
Từ "Chạy trốn" (1989), "Họ đã trở thành đàn ông" (1994) đến "Tàn đen đốm đỏ" (1994), nhà văn Phạm Ngọc Tiến đã định danh mình với lối viết thoải mái, biến báo, thâm thúy. Tài tưởng tượng đã cho ông những hình tượng đầy ám ảnh, khi nhìn thấy đốm đỏ của đầu điếu thuốc thì nghĩ ra con mắt của những linh hồn đã hy sinh. Những tréo ngoe, lắt léo mà ta gọi là những trò đùa dai của số phận, tất cả đan cài trong các mối quan hệ giữa người với người để rồi sau đó, Phạm Ngọc Tiến tạo nên những pha bẻ lái đầy kịch tính mà người đọc không ngờ tới; cuộc đời Hoán trong "Chạy trốn" là minh chứng cho những góc khuất, xung đột đạo đức được khai thác triệt để mà trong đó không thể thiếu bàn tay của chiến tranh...
"Hà Nội, tiết tàn thu, buổi đầu đông, gió thổi, mưa rơi, lá rụng... Ấy là hơi thở của thời xa xưa, là thời tiết của ký ức...". Những câu văn đẹp và buồn hiện lên, mở màn cho chuỗi những giằng co trong số phận, những đeo đẳng của quá khứ mà nhân vật trong truyện ngắn của nhà văn Bảo Ninh phải vận vào cuộc đời... Sau "Nỗi buồn chiến tranh", ông vẫn viết dù là "kẻ lữ hành cô độc"; ông phải kể hết ra những ký ức đầy ắp gian lao của đời người; và ông cũng chỉ có thể là người "ngơ ngác" nhất trước những cảm xúc không ngờ mà tác phẩm đưa lại.
Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều mong mỏi vào một nền văn học mà ở đó "có những người biết chấp nhận một điều gì đó để bước qua, biết lắng nghe những điều tưởng chừng vô nghĩa". Với ông, ký ức không thể viết lại; những nhà văn hậu chiến đang giữ ký ức của một dân tộc, một gia đình, một thời đại; ký ức đó chuyển động từ lúc họ viết cho tới bây giờ, đầy tầng sâu và sống động... Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến khẳng định, "ký ức chiến tranh của mỗi người lính là duy nhất, riêng tư và không thể thay thế. Không ai có quyền áp đặt ký ức của mình lên ký ức của người khác cũng như không ai có thể "ấn định" chỉ được phép nhớ về chiến tranh bằng những gam màu rực rỡ...".
Văn chương xét đến cùng là cảm xúc và thân phận mà thân phận thì chứa đựng ánh sáng và bóng tối; điều quan trọng là quan điểm của người viết về thân phận con người, điều đó thể hiện ra sao trong các tác phẩm.... "Giữa thời loạn lạc, phúc họa khôn lường, bình yên như treo đầu sợi tóc". "Chiến tranh cũng giống như tình yêu, dễ bắt đầu nhưng lại khó kết thúc"; nỗi đau thì vô hình và hữu hình. "Không có nỗi buồn thuần khiết và trọn vẹn cũng như niềm vui thuần khiết và trọn vẹn là điều không thể". "Dĩ vãng chỉ còn sống trong những ai còn có một tương lai...". Và "bởi vì là một nỗi đau…" nên con người không thể nắm bắt bất cứ thứ gì chừng nào còn chưa học cách nâng niu, khoan thứ và nhìn về phía trước.