Sáp nhập đại học: "Tránh chỉ to hơn về quy mô”

Trò chuyện cuối tuần:

Sáp nhập đại học: "Tránh chỉ to hơn về quy mô”

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức cho rằng, sáp nhập chỉ thực sự thành công khi sau đó năng lực học thuật tăng lên, người giỏi muốn đến, sinh viên muốn học và xã hội nhận được nhiều giá trị hơn từ đại học. Làm tốt việc sáp nhập, đại học Việt Nam sẽ thực sự chuyển từ nơi chủ yếu cấp bằng sang những trung tâm sáng tạo tri thức, công nghệ và nhân tài.

Trong quá trình đổi mới, sắp xếp mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, sáp nhập được xem là một trong những giải pháp nhằm tinh gọn đầu mối, tập trung nguồn lực và nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, bài toán đặt ra không nằm ở việc “gộp” bao nhiêu trường, giảm bao nhiêu đầu mối mà là sau sáp nhập, chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học và năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục đại học có thực sự được nâng lên hay không.

PV Báo CAND đã có cuộc trò chuyện với GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội xung quanh chủ trương lớn đang thu hút sự quan tâm của dư luận xã hội hiện nay.

PV: Thưa GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, chủ trương sắp xếp, sáp nhập các cơ sở giáo dục đại học đang được đặt ra trong yêu cầu đổi mới và nâng cao hiệu quả hệ thống. Theo ông, đâu là vấn đề cốt lõi mà công cuộc sáp nhập các trường đại học cần giải quyết?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Theo tôi, điều cốt lõi trước hết phải xác định rất rõ mục tiêu cuối cùng của công cuộc sắp xếp, sáp nhập - phải là nâng cao chất lượng đào tạo, năng lực nghiên cứu - đổi mới sáng tạo, hiệu quả sử dụng nguồn lực và sức cạnh tranh của đại học Việt Nam. Nếu chỉ nhìn sáp nhập như một phép giảm số lượng đầu mối hành chính thì chúng ta mới giải quyết được phần “vỏ”, chưa chạm đến phần “lõi” của bài toán.

duc-1.jpg

Hiện nay, một hạn chế của hệ thống là nguồn lực còn phân tán: Có nơi quy mô nhỏ, ngành đào tạo trùng lặp, phòng thí nghiệm và đội ngũ nghiên cứu bị chia cắt, trong khi các bài toán khoa học - công nghệ ngày càng liên ngành và đòi hỏi đầu tư lớn. Vì vậy, sắp xếp lại mạng lưới phải hướng tới việc hình thành những cơ sở có đủ quy mô học thuật, đủ năng lực quản trị và đủ nguồn lực để tạo ra các nhóm nghiên cứu mạnh, phòng thí nghiệm dùng chung, chương trình đào tạo liên ngành và các trung tâm đổi mới sáng tạo có tầm vóc.

Tôi cho rằng mỗi phương án sáp nhập cần trả lời được bốn câu hỏi rất cụ thể: Sau sáp nhập, chất lượng đào tạo và nghiên cứu có tăng không; nguồn lực có được tập trung và sử dụng hiệu quả hơn không; bộ máy quản trị có thực sự tinh gọn và ra quyết định nhanh hơn không; văn hóa của tổ chức có hòa hợp được và tốt hơn lên không. Nếu không trả lời được bốn câu hỏi ấy bằng các chỉ tiêu đo lường được, rất dễ rơi vào tình trạng “to hơn về quy mô nhưng chưa mạnh hơn về năng lực”.

PV: Trên thế giới, việc hợp nhất các trường đại học thường nhằm tạo ra hệ sinh thái đào tạo - nghiên cứu - đổi mới sáng tạo mạnh hơn. Việt Nam có thể học được gì từ kinh nghiệm quốc tế và mô hình quản trị nào là phù hợp trong bối cảnh hiện nay, thưa Giáo sư?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không có một mô hình sáp nhập duy nhất phù hợp với mọi trường đại học. Điều đáng học nhất không phải là “gộp bao nhiêu trường”, mà là cách họ xác định mục tiêu chiến lược trước khi thiết kế mô hình tổ chức. OECD đã chỉ ra rằng các quá trình hợp tác, liên minh hoặc sáp nhập đại học thành công thường gắn với kế hoạch triển khai tốt, sự đồng thuận của các bên liên quan, tập trung nguồn lực và sự nhất quán của chính sách.

Với Việt Nam, theo tôi nên áp dụng tư duy phân loại, không nên dùng một công thức cho tất cả. Những trường có quy mô nhỏ, năng lực hạn chế, ngành nghề trùng lặp và cùng địa bàn có thể xem xét hợp nhất sâu. Những trường đã có thương hiệu, thế mạnh đặc thù và năng lực học thuật tốt có thể tổ chức theo mô hình đại học đa lĩnh vực hoặc hệ thống đại học, trong đó thống nhất chiến lược, dữ liệu, chuẩn chất lượng và các dịch vụ dùng chung nhưng vẫn phân quyền mạnh cho các trường, khoa, viện về chuyên môn học thuật. Mô hình phù hợp, theo tôi, là “một chiến lược - một hệ thống quản trị - một chuẩn chất lượng, nhưng nhiều trung tâm học thuật có quyền chủ động”.

gs-duc.jpg
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội.

PV: Có ý kiến lo ngại rằng nếu chỉ “cộng cơ học” các trường thành một đầu mối lớn hơn thì quy mô tăng nhưng chất lượng chưa chắc tăng. Giáo sư nhìn nhận thế nào về nguy cơ này? Theo Giáo sư, điều kiện tiên quyết để một cuộc sáp nhập thực sự tạo ra giá trị mới là gì?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Tôi cho rằng lo ngại đó hoàn toàn có cơ sở. Sáp nhập về pháp lý và tổ chức là phần dễ nhìn thấy nhất; khó hơn nhiều là tích hợp chiến lược, văn hóa, hệ thống quản trị, dữ liệu, tài chính, nhân sự và đặc biệt là tạo ra sự cộng hưởng về học thuật. Nếu sau sáp nhập, mỗi đơn vị vẫn vận hành như cũ, vẫn có những “biên giới” riêng về nguồn lực, chương trình và nghiên cứu, thì thực chất chúng ta chỉ đặt nhiều đơn vị dưới một cái tên mới. Điều kiện tiên quyết là phải có một đề án phát triển sau sáp nhập, chứ không chỉ có một đề án sáp nhập. Nói ngắn gọn, không thể kỳ vọng 1 + 1 > 2 nếu sau sáp nhập vẫn là hai bộ máy, hai cơ chế và hai văn hóa cùng tồn tại dưới một mái nhà. Giá trị mới chỉ xuất hiện khi hình thành được năng lực mới mà từng trường riêng lẻ trước đó không thể tạo ra.

PV: Một vấn đề được quan tâm là bản sắc và thế mạnh riêng của từng trường sau sáp nhập. Theo Giáo sư, làm thế nào để tránh tình trạng những ngành đào tạo đặc thù, những nhóm nghiên cứu mạnh hoặc thương hiệu đã được xây dựng qua nhiều năm bị hòa tan trong một tổ chức lớn?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Theo tôi, bản sắc và thương hiệu tốt không phải là vật cản của sáp nhập mà là một loại tài sản vô hình rất quý. Sáp nhập thông minh không phải là xóa mọi khác biệt để tạo ra sự đồng nhất, mà là đặt những thế mạnh khác nhau vào một cấu trúc có khả năng cộng hưởng. Một đại học mạnh trên thế giới thường chính là một “hệ sinh thái của những khác biệt”: Các trường thành viên, khoa, viện, phòng thí nghiệm có lịch sử và bản sắc riêng nhưng cùng chia sẻ một chiến lược chung. Vì vậy, ngay từ khi xây dựng đề án phải phân biệt rõ hai lớp: Cấp đại học và cấp học thuật.

Đối với các nhóm nghiên cứu mạnh, theo tôi phải có cơ chế bảo vệ và nâng cấp chứ không được “chia đều” nguồn lực sau sáp nhập. Cần nhận diện các nhóm xuất sắc, các phòng thí nghiệm có năng lực cạnh tranh quốc tế để phát triển thành trung tâm nghiên cứu xuất sắc. Với những ngành đặc thù, quy mô người học có thể không lớn nhưng có ý nghĩa chiến lược quốc gia - chẳng hạn một số ngành khoa học cơ bản hoặc công nghệ nền tảng - thì không thể đánh giá chỉ bằng số lượng tuyển sinh hay khả năng tự cân đối tài chính.

Nguyên tắc khi sáp nhập nên là: Cái gì đang tốt thì phải làm cho tốt hơn; cái gì trùng lặp, kém hiệu quả thì mạnh dạn tái cấu trúc. Sáp nhập không nên làm mất đi những “đỉnh cao” đã hình thành, mà phải tạo một nền tảng lớn hơn để các đỉnh cao ấy phát triển.

PV: Giáo sư từng nêu quan điểm, sáp nhập phải song hành với tự chủ thực chất, toàn diện và sâu sắc. Hiện vấn đề tự chủ ở các trường đại học, theo Giáo sư đang gặp phải “điểm nghẽn” nào lớn nhất và sau sáp nhập, giải pháp nào sẽ giải quyết được “điểm nghẽn” đó?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Tôi vẫn cho rằng sáp nhập phải đi cùng tự chủ thực chất. Một tổ chức càng lớn mà quyền quyết định càng bị chia cắt, thủ tục càng nhiều tầng thì càng dễ trở nên chậm chạp. Khi đó sáp nhập không tạo sức mạnh mà có thể tạo thêm chi phí phối hợp. Điểm nghẽn lớn trong tự chủ đại học thời gian qua là tự chủ chưa phải lúc nào cũng đồng bộ giữa chuyên môn học thuật, tổ chức - nhân sự, tài chính, tài sản và đầu tư.

Theo tôi, bước tiếp theo phải chuyển mạnh từ cơ chế “xin - cho, phê duyệt trước” sang giao quyền đi đôi với kiểm soát bằng chuẩn, dữ liệu và kết quả đầu ra. Nhà nước quy định rõ chuẩn chất lượng, các giới hạn trách nhiệm và cơ chế kiểm tra; còn trường phải được chủ động hơn trong tuyển dụng và đãi ngộ nhân tài, tổ chức bộ máy, sử dụng nguồn lực, đầu tư phòng thí nghiệm, hợp tác với doanh nghiệp và quốc tế. Sau sáp nhập, càng cần thiết lập một hệ thống quản trị thống nhất, minh bạch và số hóa, với phân quyền rõ đến các đơn vị học thuật.

PV: Đội ngũ giảng viên, nhà khoa học là yếu tố quyết định chất lượng giáo dục đại học. Khi sáp nhập, làm thế nào để sắp xếp, sử dụng và phát huy đội ngũ, đồng thời tạo động lực để người giỏi không rời đi, thưa Giáo sư?

duc-2.jpg

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Trong đại học, tài sản quan trọng nhất không phải là tòa nhà mà là con người. Vì vậy, tôi cho rằng quản trị nhân sự phải là một trong những nội dung được chuẩn bị sớm nhất khi sáp nhập. Nếu làm không tốt, những người giỏi thường là những người có nhiều lựa chọn nhất và cũng có thể là những người rời đi sớm nhất.

Trước hết phải có nguyên tắc minh bạch, công bằng và dựa trên năng lực. Sắp xếp nhân sự không nên theo tư duy cơ học kiểu “mỗi bên giữ một nửa vị trí”, mà phải dựa trên vị trí việc làm, thành tích, năng lực lãnh đạo, đóng góp học thuật và yêu cầu của chiến lược mới. Cần chuyển từ “xếp con người vào sơ đồ” sang “thiết kế công việc để phát huy con người”.

Đối với giảng viên và nhà khoa học, cần bảo đảm môi trường học thuật ổn định trong quá trình chuyển đổi; duy trì các nhóm nghiên cứu mạnh; có quỹ nghiên cứu cạnh tranh, cơ chế giao quyền chủ trì, chính sách thu nhập và đãi ngộ theo hiệu quả; mở rộng cơ hội tiếp cận phòng thí nghiệm, dữ liệu và mạng lưới hợp tác. Sáp nhập cũng phải tạo ra lộ trình nghề nghiệp rộng hơn: Một nhà khoa học giỏi phải nhìn thấy sau sáp nhập mình có nhiều cơ hội hơn chứ không phải nhiều thủ tục hơn.

PV: Một vấn đề xã hội rất quan tâm là quyền lợi của người học. Khi các trường sáp nhập, cần có cơ chế như thế nào để bảo đảm sinh viên đang theo học không bị xáo trộn chương trình, học phí, văn bằng, địa điểm học tập và cơ hội việc làm, thưa Giáo sư?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Theo tôi, mỗi phương án sáp nhập cần có một “kế hoạch bảo đảm quyền lợi người học” riêng và công bố công khai ngay từ đầu. Trong đó phải xác định rõ cơ chế chuyển tiếp đối với chương trình đào tạo, chuẩn đầu ra, học phí, học bổng, tín chỉ đã tích lũy, văn bằng, địa điểm học tập, ký túc xá và các dịch vụ hỗ trợ. Nguyên tắc nên là những cam kết đã áp dụng với khóa đang học phải được tôn trọng; nếu có thay đổi thì chỉ được thực hiện khi quyền lợi của người học không thấp hơn trước.

Tôi đặc biệt nhấn mạnh truyền thông. Trong những giai đoạn chuyển đổi lớn, khoảng trống thông tin rất dễ tạo ra tâm lý bất an. Cần có một đầu mối hỗ trợ sinh viên, hệ thống hỏi - đáp công khai và cơ chế tiếp nhận phản hồi. Nếu làm tốt, sáp nhập không chỉ “không gây thiệt” cho sinh viên mà còn phải giúp các em được tiếp cận nhiều môn học hơn, nhiều phòng thí nghiệm hơn, nhiều giảng viên giỏi hơn và nhiều cơ hội nghiên cứu, trao đổi quốc tế hơn.

7eec444a-bb32-4c56-9e43-8338f72e8ec2.jpg
Sắp xếp lại mạng lưới đại học thành công là thu hút được nhiều người giỏi, sinh viên muốn học và xã hội nhận được nhiều giá trị hơn từ đại học.

PV: Nhìn rộng hơn, nếu làm tốt việc sắp xếp mạng lưới giáo dục đại học, Giáo sư kỳ vọng diện mạo của hệ thống đại học Việt Nam sẽ thay đổi như thế nào trong 5-10 năm tới?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Nếu làm tốt, tôi kỳ vọng sau 5-10 năm chúng ta sẽ có một hệ thống đại học ít phân tán hơn nhưng mạnh hơn, sẽ có những đại học tinh hoa, trong đó mỗi cơ sở có sứ mạng rõ ràng và có quy mô, tiềm lực đủ để thực hiện sứ mạng ấy. Sẽ có những đại học nghiên cứu dẫn dắt khoa học - công nghệ và đào tạo nhân tài; những đại học ứng dụng gắn chặt với doanh nghiệp; những đại học vùng trở thành hạt nhân tri thức và đổi mới sáng tạo của địa phương; đồng thời phát triển một số cơ sở tinh hoa có năng lực cạnh tranh quốc tế.

Về nguồn lực, chúng ta cần chuyển từ tư duy “mỗi nơi một ít” sang hình thành các trung tâm xuất sắc, hạ tầng nghiên cứu dùng chung và mạng lưới dữ liệu liên thông. Khi một phòng thí nghiệm lớn có thể phục vụ nhiều ngành, nhiều nhóm nghiên cứu và doanh nghiệp, hiệu quả đầu tư sẽ khác hẳn việc mỗi đơn vị đều cố xây một hệ thống nhỏ của riêng mình.

Nếu tái cấu trúc tốt, thứ hạng quốc tế có thể được cải thiện, nhưng tôi cho rằng xếp hạng chỉ nên là hệ quả, không phải mục tiêu duy nhất. Thành công thực sự phải thể hiện ở chất lượng nhân lực, các công trình có ảnh hưởng, sáng chế và công nghệ được chuyển giao, doanh nghiệp khởi nguồn từ đại học, khả năng thu hút nhân tài và đóng góp của trường đại học vào năng lực cạnh tranh quốc gia.

PV: Nếu được đưa ra một thông điệp quan trọng nhất đối với những cơ sở giáo dục đại học đang đứng trước yêu cầu sắp xếp, sáp nhập, Giáo sư muốn nhấn mạnh điều gì để quá trình này không chỉ dừng ở việc “đổi tên, đổi cơ cấu” mà thực sự tạo ra một bước phát triển về chất?

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức: Thông điệp tôi muốn nhấn mạnh là: Đừng bắt đầu việc sáp nhập từ sơ đồ tổ chức, hãy bắt đầu từ sứ mạng và chiến lược phát triển. Biển tên có thể thay trong vài ngày, cơ cấu có thể ban hành bằng một quyết định, nhưng để hình thành một đại học mạnh cần nhiều năm xây dựng văn hóa học thuật, cơ chế quản trị và niềm tin của đội ngũ. Vì vậy, điều cần hướng tới không phải là “một trường đại học lớn hơn”, mà là “một đại học tốt hơn, mạnh hơn”.

Sáp nhập chỉ thực sự thành công khi sau đó năng lực học thuật tăng lên, người giỏi muốn đến, sinh viên muốn học và xã hội nhận được nhiều giá trị hơn từ đại học. Làm tốt việc sáp nhập, đại học Việt Nam sẽ thực sự chuyển từ nơi chủ yếu cấp bằng sang những trung tâm sáng tạo tri thức, công nghệ và nhân tài.

PV: Xin trân trọng cảm ơn Giáo sư về cuộc trò chuyện này!

Thu Phương- Huyền Thanh (thực hiện)

Các tin khác

Chương trình giáo dục phổ thông sẽ được rà soát, điều chỉnh theo hướng nào?

Chương trình giáo dục phổ thông sẽ được rà soát, điều chỉnh theo hướng nào?

Sau nhiều năm triển khai Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới 2018, việc rà soát và hoàn thiện chương trình đang đặt ra yêu cầu cao hơn theo hướng giảm tải, thiết thực, tăng cường khoa học công nghệ, đặc biệt là năng lực số và trí tuệ nhân tạo (AI) cho học sinh, đồng thời điều chỉnh một số nội dung phù hợp hơn với thực tiễn dạy và học. 

Trường Quản trị và Kinh doanh tổ chức cuộc thi “Khởi nghiệp sáng tạo miền Bắc” dành cho học sinh phổ thông

Trường Quản trị và Kinh doanh tổ chức cuộc thi “Khởi nghiệp sáng tạo miền Bắc” dành cho học sinh phổ thông

Năm 2026, lần đầu tiên, Trường Quản trị và Kinh doanh (HSB), Đại học Quốc gia Hà Nội phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh, thành phố Hà Nội, Quảng Ninh và Hưng Yên tổ chức Cuộc thi “Khởi nghiệp sáng tạo miền Bắc” với chủ đề “Sáng tạo số cho tương lai bền vững” dành cho học sinh THPT.

Học sinh nhiều trường bị chậm bữa ăn bán trú, Hà Nội yêu cầu chấn chỉnh, rà soát

Học sinh nhiều trường bị chậm bữa ăn bán trú, Hà Nội yêu cầu chấn chỉnh, rà soát

Trước việc học sinh một số trường tại Hà Nội bị cung cấp suất ăn chậm muộn, xe vận chuyển chưa đảm bảo yêu cầu; khẩu phần ăn còn nghèo nàn, Sở Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) Hà Nội đã có công văn yêu cầu các trường rà soát, chấn chỉnh tất cả các khâu trong cung cấp bữa ăn bán trú.

Tăng cường nhiều giải pháp bảo đảm an toàn trường học, tư vấn học đường

Tăng cường nhiều giải pháp bảo đảm an toàn trường học, tư vấn học đường

Tối 7/9, sau khi Công an TP Hồ Chí Minh thông tin chính thức về vụ cố ý gây thương tích xảy ra tại trường học trên địa bàn xã Thạnh An, Sở Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) TP Hồ Chí Minh và các bệnh viện liên quan cũng đã thông tin thêm về các biện pháp chăm sóc, hỗ trợ học sinh và các giải pháp tăng cường bảo đảm an toàn trường học, các cơ sở giáo dục trên địa bàn thành phố.

Tỉnh Quảng Trị rà soát công tác bố trí cán bộ trường học sau sắp xếp

Tỉnh Quảng Trị rà soát công tác bố trí cán bộ trường học sau sắp xếp

Sau khi sắp xếp các cơ sở giáo dục công lập, một số địa phương ở Quảng Trị bộc lộ bất cập trong lựa chọn, bố trí cán bộ quản lý. Một số trường hợp rà soát, đánh giá, lựa chọn và bố trí nhân sự chưa thực hiện đầy đủ các bước, chưa giải trình rõ căn cứ, dẫn đến phát sinh kiến nghị, khiếu nại, khiếu kiện.

Xúc động Lễ khai giảng Trường Văn hoá CAND IV tại Tây Ninh

Xúc động Lễ khai giảng Trường Văn hoá CAND IV tại Tây Ninh

Hòa với không khí khai giảng trong cả nước, sáng 5/9, Trường Văn hóa Công an nhân dân IV tại Tây Ninh long trọng tổ chức Lễ khai giảng năm học 2026- 2027. Đây là ngôi trường chuyên biệt, các học sinh đa phần có hoàn cảnh khó khăn, được trở về đây học tập, sinh sống để các em có điều kiện chắp cánh những giấc mơ sau này...

Học sinh vùng biên Thanh Hóa hân hoan trong những ngôi trường mới

Học sinh vùng biên Thanh Hóa hân hoan trong những ngôi trường mới

Ngày 5/9, cùng với học sinh cả nước, hơn 900.000 học sinh ở Thanh Hóa bước vào năm học mới 2026 - 2027. Với hàng nghìn học sinh ở các xã biên giới, ngày khai giảng năm nay mang niềm vui đặc biệt khi các em lần đầu tiên được học tập, ăn ở và sinh hoạt trong những ngôi trường nội trú, bán trú liên cấp được đầu tư đồng bộ, khang trang.

Trường Văn hóa CAND I khai giảng, thực hiện mô hình giáo dục 3 cấp

Trường Văn hóa CAND I khai giảng, thực hiện mô hình giáo dục 3 cấp

Năm học 2026 - 2027 là năm học đặc biệt, đánh dấu mốc quan trọng đối với Trường Văn hóa Công an nhân dân (CAND) I, bởi đây là năm học đầu tiên nhà trường thực hiện mô hình giáo dục 3 cấp; bảo đảm an ninh, an toàn gắn với thực hiện chính sách an sinh xã hội cho con thương binh, liệt sĩ CAND, gia đình chính sách, trẻ em dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn, trẻ em thuộc diện bảo trợ xã hội.

Khai giảng nơi mây ngàn

Khai giảng nơi mây ngàn

Cùng với hơn 23 triệu học sinh, sinh viên, học viên trên cả nước tưng bừng bước vào năm học mới 2026-2027, thầy và trò các trường học vùng cao Sơn La cũng háo hức chào đón ngày khai trường. Tại xã Tà Xùa, nơi quanh năm được thiên nhiên ưu đãi ôm ấp bởi gió núi mây ngàn, tiếng trống khai giảng vang lên trong niềm vui, sự kỳ vọng về một năm học mới với nhiều đổi thay tại nơi đây.

Các học viện, trường CAND tổ chức khai giảng năm học mới

Các học viện, trường CAND tổ chức khai giảng năm học mới

Sáng ngày 5/9, cùng với Học viện An ninh nhân dân, Học viện Cảnh sát nhân dân, các trường Công an nhân dân gồm: Học viện Chính trị Công an nhân dân (CAND), Học viện Phòng cháy chữa cháy và Cứu nạn cứu hộ (PCCC&CNCH), Học viện Kỹ thuật và Công nghiệp an ninh và Trường Cao đẳng An ninh nhân dân (ANND) I đã tổ chức Lễ khai giảng năm học mới 2026-2027. Hòa chung không khí khai giảng của các trường học trên cả nước, lễ khai giảng của các trường CAND diễn ra trang trọng, hào hứng để chào đón một năm học mới.

Từ tiếng trống khai trường đến một nền giáo dục mới

Từ tiếng trống khai trường đến một nền giáo dục mới

Sáng 5/9, tiếng trống khai trường vang lên cùng lúc trên cả nước, trong khung giờ thống nhất từ 7 giờ 30 đến 8 giờ 30, kết nối trực tiếp ba điểm cầu lớn Lào Cai, Gia Lai, An Giang cùng hàng chục điểm cầu tương tác khác. Hàng triệu học sinh, từ đồng bằng đến biên giới, hải đảo, cùng bước vào năm học mới trong một nghi thức chưa từng đồng bộ đến vậy. Ngày khai giảng, vì thế, không còn là sự kiện riêng của từng nhà trường mà đã trở thành một ngày hội chung của nền giáo dục quốc gia.

Xây dựng Học viện ANND ngày càng có vị thế trong hệ thống giáo dục quốc gia, từng bước vươn tầm khu vực

Xây dựng Học viện ANND vươn tầm khu vực

Thứ trưởng Đặng Hồng Đức đề nghị Học viện An ninh nhân dân tiếp tục nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, xứng đáng là cơ sở giáo dục hàng đầu trong Công an nhân dân (CAND), ngày càng có uy tín, vị thế trong hệ thống giáo dục quốc gia, từng bước vươn tầm khu vực.