Sân khấu kịch Việt Nam – Dấu ấn trăm năm

Kể từ khi vở kịch “Chén thuốc độc” được các nghệ sĩ ra mắt tại Nhà hát Lớn Hà Nội cách đây đúng 100 năm, kịch Việt Nam đã chuyên nghiệp, bác học, hoàn thiện, hiện đại, dù rằng đang đối mặt với không ít thách thức.

Đó là nhận định chung của đông đảo các nghệ sĩ, nhà quản lý, tác giả, nhà lý luận phê bình sân khấu vào ngày 23/10, tại hội thảo “100 năm hình thành và phát triển nghệ thuật sân khấu kịch nói Việt Nam - Những vấn đề đặt ra, định hướng và giải pháp phát triển”. Hội thảo do Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam tổ chức nhân kỷ niệm 100 năm sân khấu kịch nói Việt Nam (1921 – 2021).

Tại hội thảo, các đại biểu thống nhất khẳng định: Đầu thế kỷ XX, nghệ thuật sân khấu kịch Việt Nam ra đời từ kết quả của cuộc tiếp biến trong văn hóa Việt Nam với văn hóa Pháp và phương Tây. Cuộc tiếp biến này đã làm cho văn học nghệ thuật Việt Nam được lột xác thành “nhân cách mới”, “nghệ sĩ mới” để kết thúc một thời kỳ dài hàng ngàn năm khép kín theo phong cách phương Đông, hướng dần cấu trúc lại văn hóa nhằm gia nhập vào quỹ đạo sáng tạo của thế giới.

Sân khấu kịch Việt Nam – Dấu ấn trăm năm -0
Bản dựng kịch “Chén thuốc độc” mới nhất tại Nhà hát Lớn Hà Nội.

Theo PGS.TS Trần Trí Trắc, nghệ thuật kịch Việt Nam ra đời bằng công lao trực tiếp của các trí thức Tây học ở Pháp hoặc ở trường Pháp tại Việt Nam, mà điển hình là Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh đã dịch đăng trên báo chí các thể loại thơ, ký, truyện, tiểu thuyết, kịch của Pháp cho độc giả Việt Nam. Sau này, đội ngũ trí thức yêu kịch ngày một đông, đại biểu của họ có thể kể đến Phạm Văn Duyệt, Đoàn Ân, Trần Tuấn Khải, Nguyễn Hữu Kim, Vũ Đình Long, Hồ Trọng Hiếu… Họ đã khởi xướng xây dựng nền kịch Việt Nam bằng tác giả và nghệ sĩ Việt Nam.

Nhân dịp kỷ niệm ngày thành lập Hội Khai Trí Tiến Đức (25/4/1920), vở kịch “Người bệnh tưởng” của Molie do nghệ sĩ Việt Nam biểu diễn đã ra mắt khán giả tại Nhà hát Lớn Thành phố Hà Nội, khiến trí thức và khán giả Việt Nam yêu thích thể loại “chỉ nói, không hát” này, đồng thời tạo động lực cho nhiều vở kịch khác sinh ra ở rạp Quảng Lạc. Ngày 22/10/1921, cũng tại Nhà hát Lớn Hà Nội, vở “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long đã được công diễn, là sự kiện lịch sử đánh dấu nghệ thuật kịch Việt Nam ra đời.

Nhờ có phong trào sáng tác và biểu diễn kịch mạnh mẽ, nhiều tổ chức kịch tài tử đã ra đời ở Hà Nội, Hải Phòng, Bắc Ninh. Sau này, Ban Kịch Trường Đình Thi, Lại Quang Mậu (1929), Ban Kịch Thế Lữ (1935), Ban Kịch Tinh Hoa (1936), Đoàn Kịch Anh Vũ (1943)... hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, làm nức lòng khán giả.

Sau Cách mạng Tháng Tám, ở Hà Nội có nhiều ban kịch không chuyên của các tổ chức cách mạng ở nhiều địa phương được thành lập. Đến tháng 8/1951, tại khu rừng già Nông Lâm (Việt Bắc), Đoàn Văn công Nhân dân Trung ương bao gồm các tổ chèo, ca múa nhạc và kịch chính thức ra đời, do nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát làm Trưởng đoàn, Thế Lữ làm Phó Trưởng đoàn kiêm đạo diễn và Học Phi phụ trách hành chính. Sau hòa bình năm 1954, trên miền Bắc, hầu như tỉnh nào cũng có đoàn kịch và nhà hát của riêng mình theo cơ chế bao cấp, chuyên nghiệp, hiện đại…

Có thể nói, kể từ 22/10/1921 đến nay, lịch sử nghệ thuật kịch Việt Nam đã tròn 100 tuổi và trong đó có 76 năm thuộc về kịch cách mạng. Chủ nhân sáng tạo của kịch cách mạng là cán bộ, chiến sĩ, nhân dân, nghệ sĩ đi theo cách mạng, với tinh thần phục vụ chính trị, phò chính trừ tà, đánh đổ phong kiến, đế quốc, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước để xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Kịch cách mạng, suốt 76 năm qua, Đảng luôn luôn giữ vai trò “chèo lái” cho sự phát triển nghệ thuật Việt Nam và nhờ đó, kịch Việt Nam đã đi từ nghiệp dư, tài tử sang chuyên nghiệp, bác học, hiện đại, hoàn thiện. Đã có hàng ngàn tác phẩm, hàng ngàn nghệ sĩ vừa có trình độ, được đào tạo chính quy, chuyên nghiệp, có tâm, có tài và được tặng giải thưởng Hồ Chí Minh, giải thưởng Nhà nước về văn học, nghệ thuật và danh hiệu NSND, NSƯT. Đặc biệt, đã có không ít nghệ sĩ thành tên của nhiều đường phố ở Hà Nội và ở nhiều thành phố khác…

PGS Nguyễn Tất Thắng nhận định: Ra đời muộn hơn kịch nói nhân loại đến 2.500 năm, song kịch nói Việt Nam lại có cái lợi là được tiếp nhận những tinh hoa thi pháp mà các nền kịch nói từ Cổ đại đến Phục hưng, Khai sáng, Lãng mạn, Hiện thực… tích lũy được. Kịch nói Việt Nam, kể từ vở “Chén thuốc độc” của Vũ Đình Long đã phát triển tiến bộ trong những quy luật vừa mang tính cộng đồng nhân loại, vừa mang bản sắc Việt Nam.

NSND Lê Tiến Thọ cũng nhấn mạnh: Kịch nói ra đời làm phong phú cho nền nghệ thuật sân khấu Việt Nam phát triển, góp phần hòa quyện giữa truyền thống và hiện đại, tác động lẫn nhau, hình thành một phong cách nghệ thuật sân khấu trong nền văn hóa Việt Nam thống nhất trong đa dạng.

Tại hội thảo, các đại biểu cũng chỉ ra nhiều vấn đề tồn tại của kịch Việt Nam hiện nay như vắng khán giả, hình thức và nội dung cũ kỹ, thiếu đề tài của xã hội đương thời. Để kịch Việt phát triển, trong thời gian tới, cần có sự phối hợp giữa Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa sân khấu kịch vào học đường, đào tạo khán giả tiềm năng. Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đào tạo tác giả, hỗ trợ văn nghệ sĩ thâm nhập thực tế, giao lưu với sân khấu quốc tế, đặc biệt là các nước theo cơ chế thị trường để học tập. Diễn viên, đạo diễn cần được đào tạo ở các nước có nền sân khấu kịch tiên tiến và có cơ chế đặc thù nghệ thuật sân khấu nói chung, sân khấu kịch nói riêng…

N.Nguyễn

Các tin khác

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Di tích quốc gia tháp đôi Liễu Cốc hơn 1.000 năm tuổi chậm được trùng tu, bảo tồn, vì sao ?

Là công trình đặc trưng của văn hóa Chăm Pa có nhiều giá trị khoa học, lịch sử, kiến trúc, di tích tháp đôi Liễu Cốc (ở làng Liễu Cốc Thượng, phường Kim Trà, TP Huế) hơn 1.000 năm tuổi đã được các cơ quan chức năng tổ chức khai quật khảo cổ học 2 đợt. Tuy nhiên đến nay, di tích kiến trúc - nghệ thuật cấp quốc gia này đang trong tình trạng xuống cấp, chưa được tu bổ, bảo tồn để phát huy giá trị di tích.

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Bài thơ đặc biệt của PGS, Viện sĩ Tôn Thất Bách năm 1969

Cách đây hơn nửa thế kỷ, giữa những ngày đánh Mỹ sôi sục, một bài thơ đặc biệt đã ra đời trong lửa đạn tại Khu 4 năm 1969. Tác giả của những dòng thơ ấy không ai khác chính là bác sĩ trẻ 23 tuổi, sau này trở thành Phó giáo sư, Viện sĩ Tôn Thất Bách lừng danh.

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Tìm đường cho sơn mài “sống” trong đời sống đương đại

Sơn mài là một trong những loại hình nghệ thuật đặc sắc nhất của Việt Nam, kết tinh từ kỹ thuật thủ công tinh xảo và tư duy thẩm mỹ mang đậm bản sắc dân tộc. Trải qua hàng trăm năm phát triển, từ những sản phẩm phục vụ tín ngưỡng, trang trí cung đình cho đến nghệ thuật tạo hình hiện đại, sơn mài luôn vận động không ngừng để thích nghi với thời đại. Tuy nhiên, có một câu hỏi mà cả các nghệ nhân và nghệ sĩ cùng quan tâm là làm thế nào để loại hình nghệ thuật truyền thống này tiếp tục phát triển trong đời sống đương đại?

Ký ức thời hoa lửa

Ký ức thời hoa lửa

Tháng tư về, như bao người lính năm xưa, Thiếu tướng Nguyễn Văn Phê, nguyên Chỉ huy trưởng Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Bình Dương (cũ) lại bồi hồi nhớ những năm tháng xông pha trận mạc, về từng trận đánh làm nức lòng quân dân miền Đông Nam bộ, cho đến khoảnh khắc chứng kiến Sài Gòn giải phóng. Ở tuổi 89, trong lòng của vị tướng già vẫn còn nguyên hương vị của ngày đại thắng mùa xuân, thống nhất đất nước.

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Chuyện về điệp báo A10 bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy

Khi “Non sông liền một dải”, trở về với cuộc sống đời thường, những điệp báo viên A10 lại tiếp tục chung tay kiến thiết, xây dựng đất nước bằng tất cả tâm huyết của mình, trong số đó có bác sĩ Nguyễn Hữu Khánh Duy – Cụm phó Cụm Điệp báo A10.

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Kỳ tích Báo Quân giải phóng: Những trang sử viết bằng máu & lửa chiến trường

Giữa làn mưa bom bão đạn của chiến trường miền Nam khốc liệt, có một đội quân không chỉ cầm súng mà còn cầm bút, tạo nên những trang sử bằng mực in và cả máu xương. Đó là những cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng (mật danh A4, Báo chỉ tồn tại trong 12 năm: 1963-1975) - những người đã viết nên kỳ tích với 338 số báo, trở thành vũ khí sắc bén trên mặt trận tư tưởng, góp phần làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975.

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Thắm mãi ngày đất nước dậy cờ hoa

Đã 51 năm trôi qua, mỗi khi nhớ đến ngày 30/4/1975, biết bao người con đất Việt không khỏi nghẹn ngào xúc động, họ là những nhân chứng trong ngày vui bất tận của dân tộc, ngày hội non sông thu về một mối, Bắc – Nam một nhà. Ngày hội già trẻ, gái, trai từ Nam chí Bắc ngập trong rừng cờ, rừng hoa. Mỗi gương mặt sáng rỡ lên trong trời đất lộng gió hòa bình.

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Trà Sư: Đi chậm lại giữa một hệ sinh thái

Có những điểm đến gây ấn tượng bằng sự náo nhiệt. Trà Sư thì làm điều ngược lại. Khu rừng ngập nước này của An Giang không vội vàng chinh phục du khách bằng những cú “wow” phô trương, mà bằng một trải nghiệm lặng, sâu và kéo người ta ra khỏi nhịp sống quá nhanh.

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Tìm giải pháp để văn hoá truyền thống tạo ra giá trị, nuôi được cộng đồng

Cùng với chuyển biến tư duy từ bảo tồn văn hoá đơn thuần sang bảo tồn gắn với phát triển, nhiều địa phương đã từng bước khai thác giá trị văn hóa để tạo sinh kế, nâng cao đời sống cho người dân. Tuy nhiên, để văn hoá thực sự “sống” trong cộng đồng, tạo ra giá trị, nuôi sống cộng đồng thì vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức.

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Từ bến sông xưa vọng lại đến công viên tưởng niệm phà Gianh

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, nhiều thanh niên, sinh viên tạm biệt mái trường, quê hương, gia đình để lên đường. Bến phà Gianh, Quảng Bình (cũ) là nơi họ đến cùng với nhân dân địa phương để bảo vệ tuyến đường huyết mạch vào Nam. Và nhiều người mãi mãi tuổi 20 ở lại phà Gianh.

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Hát nhép, sử dụng AI để giả mạo nghệ sĩ bị xử lý như thế nào?

Cấm hát nhép được triển khai tại tất cả các địa phương trên cả nước, không phải chỉ riêng ở TP Hồ Chí Minh. Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã có công văn đề nghị các địa phương chấn chỉnh tình trạng biểu diễn, tổ chức biểu diễn không trung thực, trong đó tăng cường kiểm tra, xử lý nghiêm các hành vi vi phạm, bao gồm cả hát nhép.

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Góp phần làm sáng tỏ một danh nhân Hà Nội đầu thế kỷ XX

Cuốn sách “Chí sĩ Nguyễn Khắc Cần trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX” của tác giả Thiếu tá Nguyễn Mạnh Tấn - một cán bộ đang công tác tại Công an TP Hà Nội - là một công trình có giá trị, thể hiện tinh thần trách nhiệm khoa học, sự tâm huyết với lịch sử và truyền thống dân tộc.

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

“Chạm” vào bình minh trên biển mây Samten Hills Dalat

Nằm yên bình giữa miền đồi núi trập trùng của vùng Đơn Dương, Samten Hills Dalat (Lâm Đồng), không chỉ là một điểm đến mà còn là hành trình trở về với sự tĩnh tại trong mỗi con người. Ở nơi ấy, khi đêm vừa kịp khép lại, bình minh bắt đầu hé mở, thiên nhiên dường như cất lên một bản giao hưởng dịu dàng sâu lắng, nơi mây, nắng và gió quyện hòa trong từng khoảnh khắc.

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Đón đọc Văn nghệ Công an số 805

Văn nghệ Công an số 805 Phát hành thứ Năm, ngày 2/4/2026. Văn nghệ Công an số 805 với nhiều bài viết hấp dẫn, dày 24 trang, khổ 30x40cm, giá bán lẻ 8.000 đồng/ tờ.

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Dấu ấn kinh tế tư nhân trong diện mạo văn hóa thế hệ mới của Việt Nam

Một đời sống mới của du lịch văn hoá đã sẵn sàng từ khi Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam ban hành. Mục tiêu xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực và thế giới đã và đang có sự tham gia đặc biệt tích cực của một lực lượng sáng tạo nòng cốt, đó là kinh tế tư nhân.