Sau 16 năm thực thi, Luật An toàn thực phẩm năm 2010 đã bộc lộ những hạn chế trước những yêu cầu mới của thực tiễn. Việc sửa đổi Luật lần này đặt trọng tâm vào đổi mới phương thức quản lý, chuyển mạnh từ tiền kiểm sang hậu kiểm, quản lý theo mức độ nguy cơ dựa trên Hệ thống thông tin dữ liệu An toàn tực phẩm quốc gia, đồng thời phân định rõ trách nhiệm và khắc phục sự phân tán trong quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Kiểm soát giới hạn tồn dư trong thực phẩm từ nguyên liệu đầu vào như giống, thức ăn chăn nuôi để bảo đảm an toàn thực phẩm.
Từ kiểm soát nguy cơ trong toàn bộ chuỗi cung ứng, phân loại thực phẩm để áp dụng phương thức quản lý phù hợp, đến xây dựng hệ thống dữ liệu và tăng cường hậu kiểm, các chính sách sửa đổi hướng tới một nền quản lý chủ động, hiện đại, dựa trên dữ liệu và lấy phòng ngừa nguy cơ làm trọng tâm.
Thực tế, bất kỳ hàng hóa nào, “mắt xích” nào trong chuỗi cung ứng đều có thể phát sinh nguy cơ mất an toàn thực phẩm. Vì thế, câu chuyện của Luật An toàn thực phẩm sửa đổi không chỉ là kiểm tra một sản phẩm có an toàn hay không. Quan trọng hơn là phải kiểm soát được nguy cơ ở đâu, từ khâu nào, ai chịu trách nhiệm, và khi xảy ra sự cố thì có thể truy xuất, khoanh vùng và xử lý nhanh đến đâu.
Trên cơ sở đó, dự thảo Luật xây dựng 4 nhóm chính sách trọng tâm và định hướng hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất một đầu mối từ trung ương đến địa phương
Cụ thể: Quản lý an toàn thực phẩm dựa trên kiểm soát nguy cơ theo chuỗi cung ứng; cải cách phương thức quản lý và cơ chế kiểm tra thực phẩm trên thị trường; số hóa và xây dựng hệ thống thông tin dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông; nâng cao hiệu quả quản lý thức ăn đường phố và loại hình cung cấp suất ăn tập thể’ định hướng hoàn thiện bộ máy quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm theo hướng thống nhất đầu mối từ trung ương đến địa phương.
Đối với việc quản lý an toàn thực phẩm dựa trên kiểm soát nguy cơ theo chuỗi cung ứng, mực tiêu nhằm giám sát, bảo đảm an toàn thực phẩm trong toàn bộ chuỗi cung ứng thực phẩm từ sản xuất ban đầu (trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ) đến sơ chế, chế biến, kinh doanh và lưu thông trên thị trường, hướng tới phương thức kiểm soát an toàn thực phẩm của các nước phát triển.
Quản lý an toàn thực phẩm từ sản xuất ban đầu đến khi tới bàn ăn.
Tại dự thảo Luật sửa đổi quy định, quản lý an toàn thực phẩm được thực hiện trong toàn bộ các khâu của chuỗi cung ứng, cụ thể là quy định mức tồn dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các tác nhân gây ô nhiễm trong thực phẩm đối với thực phẩm sau thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ trong khâu sản xuất ban đầu.
Thứ hai quy định điều kiện của một số nhóm cơ sở sản xuất thực phẩm. Đồng thời quy định cách thức quản lý theo từng nhóm thực phẩm.
Thực hiện việc giám sát, hậu kiểm trên thị trường trong quá trình lưu thông của thực phẩm, trong đó tăng cường vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm trong công tác kiểm tra, giám sát, chủ động lấy mẫu đối với thực phẩm lưu thông trên thị trường.
Theo ông Chu Đức Thịnh, Cục trưởng Cục An toàn thực phẩm, một trong những thay đổi quan trọng được đặt ra ngay từ khâu sản xuất ban đầu đó là kiểm soát an toàn thực phẩm ngay từ điểm đầu của chuỗi cung ứng; không chờ đến khi sản phẩm ra thị trường mới giám sát nguy cơ, mà yêu cầu giám sát và đặt ra các quy định về an toàn ngay từ khâu nguyên liệu và thực phẩm sau thu hoạch, đánh bắt, khai thác, giết mổ.
Cùng với đó, dự thảo đặt ra yêu cầu về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm tại các cơ sở, thay vì chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng.
Với những quy định trên, dự thảo Luật sửa đổi không chỉ giải quyết được bài toán chồng chéo chức năng nhiệm vụ giữa Bộ Y tế với Bộ Nông nghiệp và Môi trường đang quản lý đối với khâu sản xuất ban đầu; mà vẫn đáp ứng được yêu cầu quản lý về an toàn thực phẩm từ yếu tố đầu vào (kiểm soát giới hạn tồn dư trong thực phẩm từ nguyên liệu đầu vào như giống, thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm…) và sơ chế ban đầu (trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, thu hoạch, thu gom giết mổ) cho đến khâu cuối cùng là người tiêu dùng.
Thịt lợn lưu thông trên thị trường có dấu kiểm soát giết mổ.
Các biện pháp quản lý vừa kế thừa các quy định hiện hành, đồng thời không gây chồng chéo trong hệ thống pháp luật, phù hợp với thông lệ quốc tế, hướng tới phương thức quản lý khoa học, hiện đại. Tập trung vào các nhóm theo nguyên tắc phân loại thực phẩm cần kiểm soát trong chuỗi cung ứng sản phẩm để tập trung quản lý.
Như vậy sẽ giảm chi phí tuân thủ của cả xã hội trong quá trình thực hiện, đồng thời tạo sự chủ động cho tổ chức, cá nhân cung ứng thực phẩm trong quá trình lựa chọn thực phẩm để sản xuất, kinh doanh nhưng cũng tăng trách nhiệm cho các chủ thể này trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm. Ngoài ra, việc tăng cường kiểm tra, giám sát đối với thực phẩm đã đến khâu lưu thông cũng giảm chi phí từ ngân sách nhà nước cho công tác kiểm tra trước khi thực phẩm ra thị trường.