Nước Mỹ và thăng trầm của người da đen

Giữa tháng 8/1619, 24 người Angola, châu Phi, bị bắt bởi quân đội Bồ Đào Nha trong một trận đánh được đưa đến Virginia, thuộc địa của Anh Quốc (nay là bang Virginia, Mỹ) rồi bán cho người Anh. Họ là những nô lệ da đen đầu tiên đặt chân lên đất Mỹ.

Trải qua nhiều thăng trầm, người Mỹ da đen hiện nay được quyền bình đẳng như tất cả mọi công dân Mỹ khác. Tuy nhiên, sự phân biệt đối xử vẫn còn tiềm tàng trong tâm thức của một số người, dẫn đến những vụ bạo động mà gần đây nhất là sau cái chết của George Floyd…

Bài 1: Chế độ nô lệ

Những nô lệ đầu tiên trên đất Mỹ

Đầu thế kỷ 17, phần lớn đất đai ở lục địa Bắc Mỹ nằm trong tay người Anh và người Pháp. Nhằm đáp ứng nhu cầu lao động ngày càng tăng, những chủ đất da trắng đã thay thế nhân công - hầu hết là những người da trắng nghèo nàn - sang một nguồn lao động rẻ hơn, dồi dào hơn: Đó là nô lệ châu Phi.

Sau khi 24 nô lệ đầu tiên do người Bồ Đào Nha bán cho người Anh đặt chân lên đất Mỹ, cuối năm 1619, một con tàu Hà Lan tiếp tục đưa thêm 20 người Angola cập cảng Jamestown, Virginia. Mặc dù không thể nêu ra con số chính xác nhưng nhiều nhà sử học ước tính khoảng 6 đến 7 triệu người da đen đã đến Mỹ trong thế kỷ 17, 18, tước đi nguồn tài nguyên quý giá nhất của lục địa châu Phi.

Những thế hệ nô lệ da đen đầu tiên trên đất Mỹ.
Những thế hệ nô lệ da đen đầu tiên trên đất Mỹ.

Đa số bị bắt trong những trận càn quét của quân đội Anh, Bồ Đào Nha, Pháp… rồi được bọn buôn người mua lại. Cũng có một số ít là người hầu, đầu bếp, đánh xe ngựa, làm vườn…, trong các gia đình quý tộc da trắng. Khi chủ họ trở về Mỹ, họ buộc phải đi theo.

Cho đến cuối thế kỷ 17, khoảng 4 triệu người da đen nguồn gốc từ Angola, Nigeria, Cameron, Nam Phi, Kenya… bị đưa xuống miền Nam nước Mỹ, nơi có những đồn điền trồng cây bông vải và cây thuốc lá. Khi việc kéo sợi và dệt ở nước Anh được cơ giới hóa, nhu cầu bông vải nhập từ Mỹ trở nên vô giới hạn. Cũng trong thời gian này, việc loại bỏ hạt bông ra khỏi sợi bông thô vốn vẫn làm bằng tay thì nay thay thế bằng một thiết bị đơn giản, hoạt động bằng sức nước hoặc ngựa kéo, dẫn đến các thuộc địa miền Nam bỏ cây thuốc lá để chuyển sang trồng cây bông.

Sự phát triển của ngành công nghiệp bông khiến nhu cầu nô lệ ngày càng tăng mặc dù nước Mỹ đã chính thức ra đời ngày 4/7/1776 với 13 bang vốn là 13 thuộc địa.

Trong bản Tuyên ngôn Độc lập, có một câu khiến người nô lệ da đen đặt niềm tin vào sự thay đổi số phận mình: "Chúng tôi khẳng định những chân lý này là hiển nhiên, mọi người sinh ra đều bình đẳng, họ được Tạo hoá ban cho một số quyền tất yếu bất khả xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc".

Tuy nhiên, sau cuộc nổi loạn của những nô lệ người Haiti xảy ra vào năm 1781, các chủ nô ở Mỹ đã tăng cường kiểm soát nhằm tránh một sự kiện tương tự. Đến năm 1793, Quốc hội Mỹ thông qua đạo luật "Nô lệ bỏ trốn" với những hình phạt cực kỳ nghiêm khắc. Nó đã giúp bảo tồn và hợp pháp hóa chế độ nô lệ suốt hơn 100 năm về sau này.

Tháng 8-1831, một nô lệ da đen là Nat Turner cùng 75 nô lệ khác thực hiện một cuộc nổi loạn. Với số vũ khí chiếm được, họ đã giết 60 người da trắng trước khi bị dân quân và các chủ đất da trắng đập tan. Khoảng 100 nô lệ - bao gồm cả những người ngoài cuộc vô tội mất mạng còn Nat Tuner trốn thoát nhưng sau 6 tuần, ông bị bắt và bị treo cổ. Tuy nhiên, sự phóng đại về số người da trắng bị giết đã làm dấy lên một làn sóng sợ hãi khắp miền Nam.

Một số bang triệu tập các buổi họp đặc biệt khẩn cấp để củng cố các quy tắc nhằm hạn chế sự liên kết của nô lệ ở đồn điền này và đồn điền kia, giữa bang này với bang khác. Những buổi họp ấy đã chỉ ra rằng cuộc nổi loạn của Nat Turner là bằng chứng cho thấy người da đen vốn là những kẻ man rợ, và lập lại kỷ luật bằng cách đàn áp là biện pháp duy nhất.

Trái ngược với miền Nam, ở các bang thuộc địa miền Bắc, các chủ đất da trắng có vẻ thờ ơ với luật "Nô lệ bỏ trốn". Nhiều chủ đất da trắng cho phép nô lệ được ra riêng, tự khai phá, trồng trọt để kiếm sống, nhất là sau khi nhà báo William Lloyd Garrison, người sáng lập tờ The Liberator, ra đời năm 1831 tại bang Massachusetts, cổ vũ khuynh hướng tự do cho người da đen thì nhiều người da trắng đã tìm cách giúp đỡ cho những nô lệ da đen trốn khỏi các đồn điền ở miền Nam để đến miền Bắc thông qua một mạng lưới được gọi là "Lối đi ngầm".

Sự vùng dậy của nô lệ da đen

Năm 1836, một nô lệ da đen là Dred Scott đã bị người chủ đưa từ bang Missouri - nơi vẫn tồn tại chế độ nô lệ - đến bang Wisconsin rồi sau đó là bang Illinois để làm việc. Tại 2 bang này, chế độ nô lệ đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật theo các điều khoản của Thỏa hiệp Missouri, ban hành năm 1820. Khi trở về Missouri, Scott đã kiện đòi quyền tự do của mình dựa trên trên cơ sở rằng việc đưa anh đến bang Wisconsin và Illinois đã giúp anh tự do về mặt pháp lý.

Một gia đình nô lệ, già trẻ lớn bé đều phải làm việc.
Một gia đình nô lệ, già trẻ lớn bé đều phải làm việc.

Vụ kiện được Roger B. Taney, chánh án  Tòa Missouri tuyên xử, rằng Scott là nô lệ, không phải là công dân, do đó không có quyền hợp pháp để kiện.

Đến ngày 6/3/1857, Tòa án Tối cao Mỹ xử theo đơn kháng án của Dred Scott, và vẫn y án như Tòa Missouri. Phiên tòa đã mang lại một chiến thắng vang dội cho những người ủng hộ chế độ nô lệ ở miền Nam nhưng khơi dậy sự phẫn nộ của những người theo chủ nghĩa bãi bỏ nô lệ ở miền Bắc.

Tháng 6/1859, lại xảy ra sự kiện nữa. Một nô lệ da đen là John Brown đã lãnh đạo 50 nô lệ cướp kho vũ khí ở hạt Harper's Ferry, bang Virginia. Mục đích của Brown là có đủ sức mạnh để chống lại các chủ nô lệ ở Virginia. Bị bắt và bị treo cổ ngày 2/12/1859, cái chết của Brown đã gây ra cơn địa chấn, nhất là 1 năm sau đó, khi Abraham Lincoln lên làm tổng thống, tuyên bố giải phóng nô lệ thì các bang miền Nam lập tức cắt đứt mọi quan hệ với các bang miền Bắc, mở đầu cho cuộc nội chiến đẫm máu nhất lịch sử nước Mỹ.

Mùa xuân 1861, nội chiến bùng nổ, kéo dài suốt 4 năm. 11 bang miền Nam tách ra, thành lập Liên bang Mỹ; còn ở miền Bắc, khoảng 4 triệu nô lệ được giải phóng, trong đó có 186.000 người gia nhập quân đội Liên minh miền Bắc, Khi chiến tranh kết thúc vào năm 1865 mà phần thắng thuộc về Liên minh miền Bắc,  38.000 người da đen đã mất mạng trong tổng số 620.000 người chết của cả hai bên.

Tuy vậy, mặc dù chế độ nô lệ chính thức bị bãi bỏ nhưng những người da trắng miền Nam trong chính quyền dân sự lại ban hành một luật mới, gọi là "Mã đen" nhằm hạn chế quyền của người da đen đồng thời bảo đảm sự có mặt của họ như là một lực lượng lao động rẻ tiền, dễ sai khiến bằng những kỷ luật thép.

Không thể kiên nhẫn được nữa, Andrew Johnson, người trở thành tổng thống sau vụ ám sát Abraham Lincoln vào tháng 4/1865 đã phủ quyết luật "Mã đen" đồng thời thông qua Đạo luật Tái thiết năm 1867, đặt miền Nam theo luật quân sự. Đến năm 1866, Tổng thống Andrew Johnson còn mạnh mẽ hơn trong bản sửa đổi Hiến pháp lần thứ 14 và 15, mở rộng định nghĩa về quyền của người da đen: "… công dân được quyền bỏ phiếu mà không bị từ chối bởi những lý do chủng tộc, màu da hay tình trạng nô lệ trước đó…".

Trong những cuộc bầu cử diễn ra sau Đạo luật Tái thiết, người Mỹ da đen đã giành chiến thắng tại các bang miền Nam, thậm chí là cả Quốc hội Mỹ, Ảnh hưởng ngày càng tăng của họ làm mất tinh thần nhiều người miền Nam da trắng, những người cảm thấy sự kiểm soát ngày càng tuột khỏi tay họ.

Vì thế, các tổ chức chống da đen lần lượt ra đời, đáng kể nhất là nhóm Ku Klux Klan (viết tắt là 3K). Đây là nhóm chuyên sử dụng bạo lực để đàn áp như đốt nhà, treo cổ, thiêu sống… người da đen mà không bị luật pháp ở các bang miền Nam trừng phạt, khiến người Mỹ da đen nhận thấy những lợi ích chính trị mà họ đã đạt được bị xóa sạch bởi những kẻ tự nhận mình là "siêu nhân trắng".

Cuộc chiến giành tự do

Để nắm lại quyền kiểm soát nô lệ da đen, các cơ quan lập pháp thuộc các bang miền Nam ban hành luật phân biệt - gọi là luật Jim Crow. Đến năm 1885, dựa theo luật này, hầu hết thành phố, thị trấn ở miền Nam đều có trường riêng dành cho học sinh da đen.

Vết sẹo do đánh đập trên lưng một nô lệ, bị trừng phạt bởi luật nô lệ bỏ trốn.
Vết sẹo do đánh đập trên lưng một nô lệ, bị trừng phạt bởi luật nô lệ bỏ trốn.

Năm 1900, họ tiến thêm một bước nữa: Người da đen không được phép có mặt cùng người da trắng trên xe lửa, khách sạn, nhà hát, nhà hàng, cửa tiệm cắt tóc, hồ bơi, sân vận động…

Hệ quả là tháng 6/1905, một nhóm người da đen được dẫn dắt bởi nhà giáo dục da đen nổi tiếng Du Bois đã gặp nhau tại thác Niagara, bên phía Canada để cho ra đời một phong trào phản kháng chính trị mới, đòi quyền công dân cho người da đen. Đó được gọi là Phong trào Niagara.

Thời điểm này, dân số đô thị Mỹ bùng nổ. Nền kinh tế phải đối mặt với tình trạng thiếu việc làm và nhà ở nên sự thù địch người da đen gia tăng trên khắp đất nước. Làn sóng bạo loạn chủng tộc, đặc biệt là trong cuộc thi đấu thể thao ở Springfield, bang Illinois năm 1908 đã khiến Phong trào Niagara phải cấp bách hoạt động.

Chính vì thế, năm 1909, Phong trào Niagara giải thể để trở thành Hiệp hội vì sự tiến bộ quốc gia của người da màu (viết tắt là NAACP). Mục tiêu của NAACP là ngay lập tức phải bãi bỏ tất cả sự phân biệt đối với người da đen trên tất cả mọi phương diện.

Năm 1921, NAACP có hơn 400 chi nhánh ở nhiều bang trên toàn nước Mỹ. Song song với NAACP, một tổ chức khác là "Hiệp hội cải thiện tiêu cực toàn cầu  - viết tắt là UNIA" cũng ra đời, do Marcus Garvey, người da đen, lãnh đạo. Garvey kêu gọi niềm tự hào chủng tộc của người Mỹ da đen đồng thời cho rằng việc cộng đồng Mỹ da đen kêu gọi ý thức công lý và nguyên tắc dân chủ của người da trắng là vô ích. Hy vọng duy nhất của họ là đi khỏi nước Mỹ, trở về châu Phi để xây dựng một đất nước của riêng mình.

Để xây dựng "đất nước của riêng mình", Garvey tiến hành đàm phán với Liberia nhằm vận động quốc gia châu Phi này dành cho người Mỹ da đen một vùng lãnh thổ nhưng cuộc đàm phán thất bại bởi lẽ chẳng nhà cầm quyền nào dám khơi khơi dâng đất nước mình cho kẻ khác, dù đó cũng là người da đen. Không chịu thua, Gervey kiện lên Hội Quốc Liên (Liên Hợp Quốc ngày nay).

Vẫn không được thừa nhận, Garvey bèn tuyên bố thành lập Đế chế châu Phi, do mình làm tổng thống lâm thời mặc cho NAACP hết lời chỉ trích, rằng Đế chế mà chẳng có dân, tổng thống chẳng ai bầu. Tuy nhiên, không thể phủ nhận sự hấp dẫn của miếng bánh vẽ gọi là "đế chế", năm 1923 đã có khoảng 6 triệu người, phần lớn là người Mỹ da đen ủng hộ Garvey nhưng những nhà chỉ trích "đế chế" cho rằng đây chỉ là con số phóng đại vì thực chất, chỉ có khoảng 500.000 người tin vào "một quốc gia của riêng mình".

Năm 1923, chính phủ Mỹ truy tố và kết án Garvey vì tội lừa đảo liên quan đến việc bán cổ phiếu trong công ty vận chuyển Black Star Line do Garvey làm chủ. Sau khi ngồi tù 2 năm, Garvey được Tổng thống Calvin Coolidge ân xá và bị trục xuất ngay lập tức. Garvey qua đời năm 1940 tại Luân Đôn. Đế chế châu Phi cũng lặng lẽ tan rã ngay từ khi Garvey bị bắt.

(Còn tiếp)

Vũ Cao (Theo Black Lives Matter History)n

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.