Xuân Kỷ Hợi, nhớ bài thơ Chúc Tết Kỷ Dậu của Bác Hồ

Nửa thế kỷ tiếng thơ còn vang vọng

Nhân dịp Kỷ niệm 50 năm ngày ra đời bài thơ Chúc Tết Kỷ Dậu của Bác, xin được cùng bạn đọc ôn lại những câu chuyện thú vị xung quanh tác phẩm rất đỗi phổ biến này.

Trong di sản các bài thơ Chúc Tết của Bác Hồ, bài thơ Chúc Tết Kỷ Dậu (1969) có ý nghĩa hết sức đặc biệt. Đó vừa như là sự tổng kết một sự kiện vô cùng oanh liệt diễn ra năm trước (cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968), vừa như lời Di chúc của Người gửi tới toàn thể đồng bào, chiến sĩ cả nước trước lúc lên đường đi xa; nhắn nhủ các thế hệ cháu con tiếp tục nỗ lực chiến đấu, không quản gian khổ, hy sinh, quyết tâm hoàn thành bằng được sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

Nhân dịp Kỷ niệm 50 năm ngày ra đời bài thơ Chúc Tết Kỷ Dậu của Bác, xin được cùng bạn đọc ôn lại những câu chuyện thú vị xung quanh tác phẩm rất đỗi phổ biến này.

Bác Hồ bên xe thu âm lưu động của Đài Tiếng nói Việt Nam (ảnh chụp năm 1960).
Bác Hồ bên xe thu âm lưu động của Đài Tiếng nói Việt Nam (ảnh chụp năm 1960).

Phải nói ngay, đây không phải là bài thơ tồn tại ở dạng độc lập mà nằm trong nội dung "Thư Chúc Tết mừng năm mới" của Bác gửi đồng bào, chiến sĩ cả nước. Bức thư được viết đúng vào ngày 1-1-1969. Trong thư, Bác khẳng định: "Năm 1968 là một năm quân và dân cả nước ta chiến thắng rất oanh liệt. Đế quốc Mỹ đã phải chấm dứt không điều kiện cuộc chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Từ đầu xuân 1968, đồng bào và chiến sĩ miền Nam anh hùng liên tục tiến công, liên tục nổi dậy, giành được nhiều thắng lợi rất vẻ vang", đồng thời Người khẳng định niềm tin mãnh liệt vào ngày toàn thắng: "Chắc chắn giặc Mỹ sẽ hoàn toàn thất bại. Quân và dân ta trong cả nước, thừa thắng xông lên, nhất định sẽ thắng lợi hoàn toàn".

Bài thơ Chúc Tết Kỷ Dậu nằm ở cuối bức thư, được Bác viết bằng thể lục bát với âm hưởng rộn rã (phù hợp không khí đón Giao thừa), mặc dù ý tưởng thì đanh thép:

Năm qua thắng lợi vẻ vang
Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to.
Vì Độc lập, vì Tự do
Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào.
Tiến lên! Chiến sĩ đồng bào
Bắc - Nam sum họp, xuân nào vui hơn!

Tôi đã nghe đi nghe lại nhiều lần băng thu âm lời Bác Hồ đọc bài thơ qua sóng Đài Tiếng nói Việt Nam. Điều tôi có thể cảm nhận là giọng của Bác tuy vẫn ấm nhưng không được khỏe (có chỗ để ý kỹ sẽ thấy giọng Người hơi… lạc).

Theo nhà văn Sơn Tùng kể lại trên một tờ báo Tết thì ngày 27-1 năm đó (1969), trở dậy sau một cơn đau bệnh, Bác nói với ông Vũ Kỳ, người thư ký lâu năm của mình và ông Trần Lâm, khi ấy phụ trách Đài Tiếng nói Việt Nam chuẩn bị để ghi tiếng Bác đọc thơ Chúc Tết đồng bào, chiến sĩ cả nước như mọi năm. Bác còn cho gọi bác sĩ Lê Đình Mẫn cùng ngồi nghe xem giọng Bác đã bình thường, rõ tiếng chưa.

"Nếu chưa thì để Bác luyện giọng tiếp, bác sĩ giúp Bác về thuốc thang cho chóng nói được tốt, kẻo khi đồng bào chiến sĩ nghe giọng nói không bình thường thì sinh lo lắng" - Bác nêu ý kiến. Bác sĩ Mẫn đã rót nước trà cam thảo để Bác thấm giọng, Bác đọc: "Năm qua thắng lợi vẻ vang…". Thư ký Vũ Kỳ nghe Bác đọc, quá phấn khởi, nói ngay: "Giọng Bác gần như bình thường, Bác ạ! Bác luyện, thuốc thang thêm chút nữa, đến hôm Đài tới ghi, chắc chắn giọng đọc thơ của Bác ai nghe cũng vui!".

Mặc dù ông Vũ Kỳ nhận xét vậy nhưng thực tế, chất giọng của Bác trong buổi đọc thơ ghi âm hôm ấy vẫn chưa hoàn toàn hồi phục. Đây không chỉ là cảm nhận của riêng tôi. Nhà nghiên cứu, phê bình văn học Hoài Thanh (1909-1982), ngay thời bấy giờ, sau khi trực tiếp nghe thơ Chúc Tết của Bác trên sóng phát thanh đêm Giao thừa Kỷ Dậu đã ghi lại cảm tưởng "Đêm Giao thừa, nghe tiếng Bác trên đài, chúng ta bỗng thấy lo quá.

Nhưng đến câu: Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào thì chữ "cút", chữ "nhào", Bác vẫn đọc dằn giọng xuống, dứt khoát. Chúng ta vẫn nghe rõ qua lời thơ, qua giọng Bác một ý chí sắt thép, một nghị lực phi thường. Thật nói làm sao cho hết được tấm lòng chúng con kính yêu Bác, mang ơn Bác, Bác ơi!" (bài "Thơ Chúc Tết của Bác" in trong "Tuyển tập Hoài Thanh", NXB Văn học, 1982).

Tấm thiệp in thơ Chúc Tết Kỷ Dậu của Bác Hồ.
Tấm thiệp in thơ Chúc Tết Kỷ Dậu của Bác Hồ.

Ở đây cũng cần nói thêm, thi thoảng vẫn có người viết thế hệ sau này (trong đó có một số văn nhân, thi sĩ) nhầm bài thơ nói trên của Bác là thơ Chúc Tết Mậu Thân 1968. Có lẽ nghe mấy câu "Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to" và đặc biệt là "Tiến lên! Chiến sĩ, đồng bào/ Bắc - Nam sum họp, xuân nào vui hơn", trong không khí sôi nổi, đầy phấn khích ấy, họ ngỡ đây là lời hiệu triệu của Bác cho cuộc Tổng tấn công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Kỳ thực, bài thơ Chúc Tết Mậu Thân 1968 của Bác là một bài thơ khác, cũng có hai chữ "Tiến lên", nhưng nguyên văn như sau:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua
Thắng trận tin vui khắp nước nhà
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!

Hai bài được viết theo hai thể thơ khác nhau, độ dài ngắn cũng khác nhau nhưng cách đặt vấn đề thì khá thống nhất. Nếu nói về sự khác biệt thì cái khác biệt dễ thấy nhất là ở bài thơ Chúc Tết Kỷ Dậu, sau khi khẳng định quân và dân ta tiếp tục gặt hái được những thắng lợi to lớn trên trận tuyến đánh Mỹ, Bác nhấn mạnh chân lý thời đại mà vì đó, chúng ta không tiếc sức người, sức của, không quản gian khổ, hy sinh, đó là "Vì Độc lập, vì Tự do".

Và sau lời kêu gọi "Tiến lên", nếu như ở bài thơ Chúc Tết Mậu Thân 1968, Bác viết "Toàn thắng ắt về ta" thì ở thơ Chúc Tết Kỷ Dậu 1969, Bác đưa ra hình ảnh về một sự toàn thắng rất cụ thể, sinh động và rất ấm áp "Bắc - Nam sum họp, xuân nào vui hơn".

Thật xúc động khi vị Cha già ở vào những ngày tháng sắp giã biệt cuộc sống vẫn lựa lời cổ vũ, động viên con cháu quyết tâm hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình. Qua đó chúng ta ngầm thấy, cuộc chiến diễn ra trong cái năm "thắng lợi vẻ vang" ấy khốc liệt biết chừng nào.

Tới nay, đã có nhiều lời bình về cái hay, ý nghĩa sâu sắc trong ngôn từ ở bài thơ Chúc Tết Kỷ Dậu của Bác Hồ. Cũng đã có nhiều lời bình xoay quanh mấy chữ "cút", chữ "nhào". Bản thân tôi, trong một bài viết in ra cách đây ít lâu cũng đã đưa ra nhận xét, đại ý, ngày trước chúng ta thường nói "đánh thắng đế quốc Mỹ", đó là một cách nói tắt. Nói chính xác phải là "đánh bại ý chí xâm lược của đế quốc Mỹ". Từ đó tôi cho rằng, việc Bác đặt bút viết "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào" là Bác rất chính xác, cẩn trọng trong sử dụng ngôn từ.

Cũng là thể hiện tầm nhìn chiến lược của một nhà chính trị, quân sự thiên tài. Sự thực như sau này chúng ta đã thấy, Mỹ có "cút" thì ngụy mới "nhào". Nhân đây xin được nói thêm, theo như ông Vũ Kỳ cho biết (trong cuốn "Bác Hồ viết Di chúc" (NXB Thuận Hoá, 2005) thì từ tháng 5 năm 1965, Bác đã bắt tay vào viết Di chúc và ngay từ văn bản đầu tiên, Bác đã khẳng định thắng lợi tất yếu của cách mạng nước ta, khẳng định "đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta".

Như vậy, mục tiêu lớn nhất của Người bấy giờ là làm sao chỉ huy quân và dân ta tập trung "đánh cho Mỹ cút". Hai chữ "Mỹ cút" vừa là nỗi trăn trở, đau đáu, vừa thể hiện thái độ phẫn nộ, bức xúc của Người.

Cũng liên quan đến bài thơ Chúc Tết Kỷ Dậu của Bác Hồ, nhà thơ Nguyễn Bùi Vợi đã kể lại một kỷ niệm (được ghi lại trong cuốn "Vui vui...chuyện làng văn" của tác giả Hoàng An, NXB Công an nhân dân ấn hành năm 2007), như sau:

Trong một lần đi bình thơ, nhân đề cập tới hai câu: "Năm qua thắng lợi vẻ vang/ Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to", Nguyễn Bùi Vợi đã cao hứng phán mạnh: "Chắc ở đây là từ đặt ở thể nghi vấn và suy đoán. Có nghĩa như là: chắc là sẽ thắng to. Lãnh tụ nói như thế chứng tỏ Người rất thận trọng. Và thận trọng là một phẩm chất đặc biệt của Người".

Nghe nhà thơ bình tới đó, cử toạ vỗ tay ào ào hưởng ứng. Nhà thơ càng được đà, bình luận mỗi lúc mỗi... "bốc". Ông không ngờ, cuối buổi nói chuyện, có cụ già tìm tới, đặt vấn đề: "Lão học hành lỗ mỗ dăm chữ nho nhe, xin mạo muội góp ý với bậc đại gia thế này, nếu sai sót xin được lượng thứ. Chữ chắc đại gia giảng như thế là hay rồi.

Nhưng trộm nghĩ: Hồ Chủ tịch là bậc đại nhân. Người trên tường thiên văn, dưới tường địa lý, giữa tường lòng người. Vậy nên có thể hiểu: Người nói chắc cũng có nghĩa là chắc chắn, tức ở thể khẳng định dứt khoát".

Nghe ông cụ góp ý, nhà thơ lặng đi một hồi. Đoạn ông vừa lấy khăn tay chấm mồ hôi trán, vừa nói khẽ: "Cụ nói có lý lắm. Thế mới biết người xưa nói, có những chữ nghĩ ba năm chưa thông tỏ, giảng ngàn năm chưa thấu suốt, là đúng".

Phạm Khải - Xuân 2019

Các tin khác

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Tráng ca còn vọng trên đất mỏ

Cách đây 54 năm, người Đại đội trưởng Đại đội 34 pháo cao xạ 37mm của tự vệ mỏ đã anh dũng hy sinh trên mỏm đồi 104 thuộc dãy Ba Đèo, khi chỉ huy đơn vị chiến đấu đến những phút cuối cùng trong trận không kích dữ dội của không quân Mỹ trên vùng trời Quảng Ninh.