Nữ sĩ Ý Nhi: Trên chiếc dây căng qua khoảng trống

Nữ sĩ Ý Nhi năm nay đã bước vào tuổi 74, mỗi ngày vẫn tự tay chăm sóc mảnh vườn trong khuôn viên tư gia thoáng mát tại quận Gò Vấp - TP HCM. 

Lặng lẽ và thong dong, nữ sĩ Ý Nhi đi qua hành trình thi ca của mình một cách ung dung, không màng những bon chen danh vọng và thị phi "làm sao biết được/ phía trước kia là biển, là rừng, là lũng sâu hay đầm lầy/ nhưng dù sao/ phải đi đến cùng con đường ta đã chọn/ dù phải đi/ như người nghệ sĩ trên chiếc dây căng qua khoảng trống…".

Nữ sĩ Ý Nhi quê gốc Quảng Nam. Lý lịch của chị không thể không nhắc hai yếu tố, thân phụ là Giáo sư Hoàng Châu Ký và phu quân là Giáo sư Nguyễn Lộc. 

Thế nhưng, cuộc đời của chị đã gắn bó với thơ và được định đoạt bằng thơ. Sau khi tốt nghiệp khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, nữ sĩ Ý Nhi bước vào làng thi ca và được đón nhận ngay từ những tác phẩm đầu tiên. Tuy nhiên, thơ Ý Nhi không mấy phổ cập đối với giới công chúng yêu thích vần điệu du dương và ngôn ngữ tha thướt. 

Trong nửa thế kỷ làm thơ, nữ sĩ Ý Nhi từng ngày rời xa những ẩn dụ bóng bẩy và những ngữ vị diêm dúa, nên chị càng tách khỏi đám đông hào hứng ngâm vịnh. Tính đại chúng của thơ Ý Nhi chỉ thể hiện qua hai ca khúc được nhạc sĩ Phú Quang phổ nhạc dựa trên thơ chị là "Romance 1" và "Trong ánh chớp số phận"

Ca khúc "Romance 1" lấy ca từ gần như đầy đủ từ bài thơ "Vườn 1" của nữ sĩ Ý Nhi: "Em tìm đến góc xa nhất của khu vườn/ em muốn trốn vào sự bình yên/ em muốn trốn sâu mãi/ sâu mãi vào tình yêu của anh/ Đôi lần/ em nhìn tán cây mà ứa nước mắt/ vì màu xanh/ Đôi lần/ em nghe tiếng chim khuyên mà ứa nước mắt/ vì sự trong trẻo/ Rồi em khóc vì đốm nắng lan trên vạt cỏ/ vì bông hoa trắng như giọt lệ/ vì phiến đá dần tan trong ly nước mùa hè...". 

Ca khúc "Trong ánh chớp số phận" sử dụng chủ yếu một đoạn trong bài thơ "Năm lời cho bài hát" của nữ sĩ Ý Nhi: "Trong ánh chớp của phận số/ em đã kịp nhìn thấy anh/ Trong vòng quay không ngừng nghỉ của phận số/ em đã dừng lại đúng nơi anh…". 

Và thật thú vị, nhạc sĩ Phú Quang chứng tỏ là một độc giả am tường thơ Ý Nhi khi cộng thêm vào ca từ của "Trong ánh chớp số phận" hai ý trong bài thơ "Viết nhân một câu thơ" có thay đổi chút ít, câu thơ "quỳ đã nở vàng ngoài giậu" thành câu hát "hàng giậu ấy hoa quỳ vàng đã nở", còn câu thơ "xe cấp cứu đang chạy qua thành phố" thành câu hát "xe cấp cứu đang rúc còi đó chăng".

Nếu không tính tập thơ "Nỗi nhớ con đường" in chung với Lâm Thị Mỹ Dạ và tập thơ "Cây trong phố chờ trăng" in chung với Xuân Quỳnh, thì nữ sĩ Ý Nhi xác lập sự nghiệp thi ca từ tập thơ "Đến với dòng sông" xuất bản năm 1978. Có một giai đoạn, nữ sĩ Ý Nhi cũng theo đuổi những câu thơ khuôn thước và lấp lánh như "Những cơn mưa báo rét/ Bay mờ cả dốc dài" hoặc "Sau mỗi cung đường biển oà lên bất chợt/ Sóng ngời ngời ánh mắt trẻ thơ". 

Nếu tiếp tục lối viết ấy, nữ sĩ Ý Nhi cũng có thành tựu nhất định, bởi lẽ ở chị luôn có sự ngổn ngang và rối bời của một người đàn bà nhạy cảm "Đã bao lần nhớ đến tán cây kia/ Tôi tìm gặp một chút gì yên tĩnh/ Một chút gì chở che thương mến/ Trong nắng nôi bão gió của đời mình"

Một phẩm chất không thể phủ nhận ở nữ sĩ Ý Nhi là sự tinh tế, để có thể chọn và đưa những khoảnh khắc chênh chao vào thơ: "buồm thẫm nâu trong chiều muộn chợt về/ hoa cúc trắng tần ngần qua các phố".

Thơ Ý Nhi bắt đầu thay đổi từ khi nào? Vì sao chị khước từ những nhịp nhàng du dương để dịch chuyển thơ về phía định dạng những câu nói gần gũi đời thường? Nữ sĩ Ý Nhi cho rằng, nhờ chị đã viết được bài thơ có tính mở cửa thẩm mỹ trong suy tư: "Đó là "Người đàn bà ngồi đan", bài thơ mà mọi người thường nhắc đến. 

Mỗi thời sẽ nhìn bài thơ theo cách của mình, nhưng ở thời điểm ra đời, tôi cho rằng bài thơ có vai trò quan trọng. Đó là bước thay đổi của chính tôi và một phần nào đó ảnh hưởng đến sự thay đổi của thơ Việt Nam, vì bài thơ mang giọng điệu hoàn toàn mới. 

Chân dung Ý Nhi qua nét vẽ Kevin Bowen!
Chân dung Ý Nhi qua nét vẽ Kevin Bowen!

Trước đó, thế hệ nhà thơ chống Mỹ trong chiến tranh đề cao con người công dân hơn con người cá nhân. Những người trẻ chắc không hiểu hết được nhưng khi đó, bao trùm không khí là tinh thần chiến đấu quả cảm, của niềm vui chiến thắng. Tinh thần này cũng chiếm lĩnh thơ. 

Nhưng sau đó, khoảng năm 1983, 1984, cuộc sống có nhiều thay đổi, thơ cũng thay đổi. Con người ta bắt đầu nói đến con người cá nhân, tâm trạng cá nhân. Không còn những tình cảm đồng nhất, một chiều. Thơ có tính nước đôi: vui và buồn, hạnh phúc và đau khổ, cô đơn và hòa đồng... Có thể nói là một giọng thơ khác, rất quan trọng với tôi!".

Bài thơ "Người đàn bà ngồi đan" được nữ sĩ Ý Nhi sáng tác tháng 1-1984. Cả bài thơ không có ý nào tài hoa, cũng không có câu nào đột phá, nhưng dắt người đọc vào một không gian thơ bồi hồi và khó quên:

Người đàn bà ngồi đan
Giữa chiều lạnh
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ
Vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã
Nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời
Vội vã như thể đó là lần sau chót
Không thở dài
Không mỉm cười
Chị đang giữ kín đau thương
Hay là hạnh phúc
Lòng chị đang tràn đầy niềm tin
Hay là ngờ vực
Không một lần nào chị ngẩng nhìn lên
Chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt
Hay sau buổi chia ly
Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu
Trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng
Giữa chiều lạnh
Một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ
Dưới chân chị
Cuộn len như quả cầu xanh
Đang lăn những vòng chậm rãi".

Sau bài thơ "Người đàn bà ngồi đan", nữ sĩ Ý Nhi tung tẩy trong phương pháp sáng tạo khác. Chị nhìn vào tâm hồn mình bằng cách chú giải về những nghịch lý trên cuộc đời: "Tôi là đứa trẻ muốn kêu to lên để nghe thấy lời mình trong biển/ là người đàn bà tìm về kết cục/ tôi đang đứng kề bên cái vạch nhỏ xíu/ của thủy chung và phản trắc, của tan vỡ và hy vọng, của hằn thù và tha thứ".

Tách khỏi dàn đồng ca thơ thánh thót, thơ đãi bôi, thơ thù tạc, thơ tán tụng, thơ tâng bốc, nữ sĩ Ý Nhi dĩ nhiên bơ vơ hơn và cô độc hơn. 

Nữ sĩ Ý Nhi lắm phen tự vấn: "Tôi không ưa đồ trang sức/ kể cả nhẫn, vòng và các chức danh/ Tôi rất ít bạn/ đôi khi tôi mất họ vì một lẽ nào đó/ ngoài 30 tuổi tôi không tìm thêm bạn mới/ và không thường giao du với các đồng nghiệp…/Tôi ngại các tiệc vui/ nhiều khi tôi khóc vì chính cái khiến những người xung quanh tôi vui sướng/ và lại muốn thét lên khi mọi người yên lặng"

Chị giải quyết câu hỏi về lương tri người làm thơ giữa "Ngày thường" với sự đắn đo cần thiết: "Tôi cầm những đồng tiền lẻ/ như nhà thơ cầm giữ từ ngữ/ Những đồng tiền nhàu nát/ như những từ ngữ đã được dùng bao thế kỷ/ Tôi tính cách tiêu tiền/ khó khăn như nhà thơ tìm thi tứ".

Nữ sĩ Ý Nhi trước và sau "Người đàn bà ngồi đan" có sự thay đổi rõ rệt về bút pháp. 

Năm 1975, chị đã "Viết cho con trên đường công tác" những câu lục bát: "Mẹ đi xa mấy dặm đường/ Bao nhiêu cảnh lạ vẫn thường có con/ Giấc lành con ngủ cho ngon/ Nghìn đôi mắt lạ mãi còn xanh nguyên" thì hơn 20 năm sau chị lại nhủ thầm "Tập làm lục bát" trong tập thơ "Vườn" in năm 1998: "Biển xa sóng trắng như mây/ sông gần nước đã dâng đầy màu xanh/ ngủ đi anh, ngủ đi anh/ em xin cho giấc ngọt lành đêm nay".

Còn ở mảng thơ tình, một nữ sĩ Ý Nhi trong tập "Đến với dòng sông" in năm 1978 rạo rực "Em đã đợi chờ anh suốt cuộc đời mình/ Như đá xám chờ tay người tạc tượng/ Sông khô cạn chờ mùa mưa lớn/ Cây giữa rừng đợi ánh mặt trời lên" được thay thế bằng một nữ sĩ Ý Nhi trong tập "Mưa tuyết" in năm 1991 ân cần: "Xin anh/ trong niềm vui/ nhớ đến em/ Xin anh/ trong nỗi buồn/ chia sẻ cùng em/ Xin anh/ mãi như em đã gặp/ đã yêu/ đã luôn chờ đợi/ Xin anh/ hãy yêu/ và tha thứ".

Thơ Ý Nhi khước từ mọi kỹ nghệ đánh bóng chữ nghĩa, nên nhiều bài thơ chỉ cần chị không chú ý đến nhạc tính thì trở nên thô cứng. Một hạn chế nữa ở thơ Ý Nhi là những tựa đề đôi khi quá đơn sơ, chỉ đặt tên như một thủ tục bắt buộc, nên chẳng giúp ích được gì cho độc giả trong quá trình mở rộng biên độ cảm xúc khi tiếp cận bài thơ. 

Ngược lại, trong nhiều trường hợp, chị chủ động ngắt nhịp câu thơ để hiệu quả diễn đạt cao hơn.

Lê Thiếu Nhơn

Các tin khác

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Giữ giọng nói thật giữa mạch đời sáng tối

Nhiều năm sau khi không còn xuất hiện đều đặn trên sóng truyền hình, Đại tá Nguyễn Thị Mai Thao - Phó giám đốc Truyền hình Công an nhân dân (ANTV) vẫn gặp những người nhận ra mình chỉ bằng giọng nói.

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Những bà mẹ chờ bên dòng sông cũ

Việc giám định ADN từ mẫu máu thân nhân liệt sĩ đang mở ra hy vọng đưa những phần mộ chưa biết tên trở về đúng với danh tính của mình.

Đứa con trai của vùng đất trầm

Đứa con trai của vùng đất trầm

Võ Đăng Khoa mang quân hàm Trung úy, mới hai mươi mấy tuổi đầu. Nhưng những truyện ngắn và tiểu thuyết của Khoa khiến người ta có cảm giác, anh đã già đi một nửa đời người. Già đủ để biết rằng nỗi buồn không cần phải kêu tên, chỉ cần để nó nằm yên ở đó, lặng lẽ gặm nhấm, lặng lẽ thấm dần như nước mưa lem dần lên vách.

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Đoàn Thanh Hà và “ma thuật” với ngói

Từ đất, đá, tre, gỗ, gạch, ngói, thậm chí chum, vại… kiến trúc sư Đoàn Thanh Hà đã tìm kiếm tiếng nói mới, biểu hiện mới thông qua các thiết kế kiến trúc của mình. Riêng với ngói, vật liệu lợp nhà quen thuộc với hầu hết người dân Việt Nam, nay được sử dụng theo cách không bình thường (làm thành tường, thành màng bao che), gợi lên nhiều ấn tượng khác nhau nhưng gần gũi.

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Người gieo “mầm đổi mới” trên ruộng lúa Việt Nam

Cả một đời gắn bó với cây lúa, nhiệt tâm tạo giống lúa, thương binh, Anh hùng lao động Trần Mạnh Báo vẫn giữ thói quen thăm ruộng đồng và trò chuyện với người nông dân mỗi ngày. Ông gọi đó là cuộc đối thoại với cánh đồng. Người dân thường nhớ hình ảnh ông đội nón, xắn quần, lọ mọ ngoài đồng từ sớm tinh mơ tới lúc chiều muộn.

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Người coi kho đặc biệt ở Bộ Tư lệnh Cảnh vệ

Đó là Đại úy Vũ Đại Nghĩa, cán bộ Phòng Kỹ thuật bảo vệ, Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Công việc của anh quanh năm gắn với những chuyến công tác đột xuất, những ca trực thâu đêm, những lần “ăn ngủ cùng máy móc” trước mỗi sự kiện lớn.

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.