Nơi sản sinh những nghệ sĩ tài hoa

Có một làng quê nhỏ, khiêm nhường nép mình sau lũy tre xanh ở cuối dòng sông Bến Hải, suốt bốn mùa trầm mình trong tiếng du dương nghìn đời của sóng biển cửa Tùng. Từ xưa đến nay, làng quê nhỏ ấy đã trải qua biết bao nhiêu biến cố cùng với chiều dài của lịch sử dân tộc, vậy mà chính trên mảnh đất ấy đã sinh ra, đã nuôi dưỡng rất nhiều người con ưu tú… họ là những nghệ sĩ tài hoa trên bầu trời nghệ thuật của nước nhà…

Sử cũ chép lại rằng: Ngôi làng nhỏ có tên là Tùng Luật xưa kia thuộc huyện Minh Linh, đã xuất hiện trên bản đồ nước Đại Việt từ năm 1069 (thời nhà Lý). Đây chính là cái nôi đã sinh ra điệu "chèo cạn làng Tùng". Một trong những nét sinh hoạt văn hóa dân gian độc đáo mà người đời đã bảo tồn và gìn giữ cho tới ngày nay.

Chiếu theo thuật phong thủy thì làng Tùng Luật nằm trên thế đất "Phụng hàm thơ", có nghĩa là con chim Phụng hoàng ngậm thơ trong miệng. Âu đó cũng là điềm lành dự báo đất sẽ sinh ra nhiều bậc anh hào, tài tử, giai nhân… giải thích nguồn gốc của điệu chèo cạn ở đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Xưa kia, đây là một cảng thị sầm uất, nằm ngay mé biển nên xác cá Voi, cá Ông chết ngoài biển thường trôi dạt vào bờ. Là những cư dân vùng biển, họ hết sức tôn thờ những loài vật này theo truyền thống tín ngưỡng vật linh luận. Mỗi khi thấy xác cá trôi dạt vào bờ, người dân ở đây thường sửa soạn những mâm lễ rất trang trọng, để đưa tiễn linh hồn của các thần ngư về trời.

Nghệ sĩ Ái Chủng đang diễn tả lại điệu chèo cạn.

Nghệ sĩ Ái Chủng đang diễn tả lại điệu chèo cạn.

Những lúc như thế, họ thường quy tụ những đội "hát đưa linh", mỗi đội thường là 15 người (còn gọi là đội chèo cạn). Các nghệ nhân người cầm chịch, người cầm chèo, người tát nước, người đứng mũi… rồi nhịp nhàng hát theo những bè cao, bè thấp…nhằm mô phỏng lại những chuyến đi biển của ngư dân, người cầm trịch trong các đội chèo cạn bắt buộc phải hát được các điệu hò mái nhì, hò nện…

So với các miền biển khác, lễ hội chèo cạn làng Tùng Luật còn có những nét đặc trưng như: tay chèo của ba trạo (12 tay chèo) phải có ngoắc tay làm cho động tác chèo trở nên mạnh mẽ hơn nhằm tái hiện hình ảnh những người đi biển vượt qua sóng biển một cách chân thực nhất. Đồng thời chèo cạn ở đây còn kết hợp với  hò lý ngư, hò mái đẩy để cho ba trạo lấy hơi. Ở chèo cạn làng Tùng, thuyền được hình thành bởi sự sắp xếp của các ba trạo và được diễn ra trên một phạm vi rộng là sân làng. Vậy nên, các buổi biểu diễn của đội chèo cạn làng Tùng bao giờ cũng sinh động.

Theo những nguồn tài liệu hiện có thì người được coi là ông tổ đã khơi thông cho mạch nguồn ca hát ở làng Tùng Luật (nay thuộc xã Vĩnh Giang, huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị) chảy mãi đến muôn đời là ông Nguyễn Hữu Như Bá (sinh năm 1840). Khi đến tuổi trưởng thành, ông Bá học nghề bốc thuốc cứu người nên rất có điều kiện để vào ra Kinh đô Huế và các tỉnh Nam Trung Bộ, đôi khi ông còn tìm nguồn gốc thuốc quý tận lục tỉnh Nam Kỳ. Trên những hành trình phiêu lãng ấy, ông đã có dịp để xem nhiều gánh hát tuồng biểu diễn.

Như tiền định, những làn điệu dân ca vùng Trung Bộ như loại tiên dược tháng ngày ăn sâu vào tâm khảm và máu huyết của ông. Để thỏa chí cầm ca, ông Bá đã dừng chân ở xứ dừa Bình Định để tìm thầy học hát bội, sau đó, ông ra Huế theo thầy học nhuần nhuyễn thêm 5 loại nhạc cụ với nhiều làn điệu dân ca Bình - Trị - Thiên như: điệu lý giao duyên, lý ngựa ô, lý đoản xuân, lý quỳnh tương, lý con sáo sang sông; điệu khách gồm kim tiền lưu thủy, phú lục chậm, phú lục nhanh, cổ bản thường, cổ bản dựng, tứ đại cảnh (nam ai, nam bằng, nam xuân...); điệu hò Quảng Trị như hò mái nhì, hò mái đẩy, hò hụi, hò mái xắp, hò đưa linh...

Từ đó,  ông đêm ngày khổ luyện để truyền thụ lại cho anh em, con cháu trong dòng tộc. Sau đó, một gánh hát do ông làm chủ đã được ra đời, gánh hát có 14 diễn viên gồm: con trai Nguyễn Như Gián, các con gái là Nguyễn Thị Hòa, Nguyễn Thị Hạnh (thân mẫu NSND Lệ Thi) và các ông Nguyễn Như Tính, Trần Duyến (sau năm 1954, ông Duyến là nhạc công ca Huế của Đài Tiếng nói Việt Nam), Lê Não, Võ Cháu (thân sinh của nhạc sĩ Võ Đình Hùng), Trần Nóng, Phùng Ngấn, Nguyễn Khê, Bùi Văn Mè (thân sinh NSND Châu Loan, Châu Phụng). Gánh hát bắt đầu biểu diễn từ năm 1880. Việc xuất hiện gánh hát này là một "sự kiện trọng đại" trong sinh hoạt văn hóa ở Quảng Trị thời bấy giờ.

Chính vì vậy mà những tích tuồng cổ như: "Thoại Khanh Châu Tuấn", "Lưu Bình Dương Lễ", "Giang tả cầu hôn", "Cô Cơ giả dại qua đèo", "Hồ Xuân Hương", "Tam xuân loạn trào" … với những giọng ca mùi mẫn đã làm cho người dân trong vùng đắm say. Sau này, 12 dòng họ trong xã Vĩnh Giang đã thống nhất lập nên đội "Chèo cạn làng Tùng", trên cơ sở là gánh hát của ông Nguyễn Hữu Như Bá, tồn tại cho đến năm 1947, lúc mà giặc Pháp tấn công dữ dội vào Vĩnh Linh mới tạm ngưng.

Những thế hệ hậu duệ đã không phụ lòng ông, họ miệt mài rèn luyện để trở thành những nghệ sĩ tài danh được cả nước biết đến như: NSND Châu Loan, NSND Lệ Thi, NSƯT Kim Phú (vợ của NSƯT Sỹ Cừ), NSƯT Kim Quý (vợ NSND Xuân Đàm), NSƯT Châu Dinh, Thu Sen, Ái Chủng, Trần Duyến, Thanh Thảo…

NSND Châu Loan.
NSND Châu Loan.

Cố NSND Châu Loan (tên thật là Bùi Thị Loan) sinh năm 1926, là con gái của nghệ sĩ Ba Mè. Sinh ra và lớn lên trong gia đình có truyền thống về âm nhạc, năm 7 tuổi, Châu Loan đã được cha dạy cho đàn và hát dân ca. Trong môi trường ấy, tài năng của Châu Loan đã sớm nảy nở. Châu Loan có một chất giọng thiên phú và đặc biệt có tài ngâm thơ. Năm 1947, bà theo cha ra Hà Nội, cộng tác với Đài Phát thanh Pháp Á. Năm 1954, hòa bình lập lại, bà làm việc tại Tổ ca nhạc miền Trung, Ban Âm nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam. Năm 1957, Châu Loan được chọn là diễn viên xuất sắc đi dự Hội nghị Thanh niên thế giới lần thứ nhất ở Warsaw (Ba Lan).

Trong những năm tháng chiến tranh, tiếng thơ của Châu Loan trên làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam đêm đêm đã làm đắm say biết bao nhiêu triệu con tim của chiến sĩ và đồng bào cả nước. NSND Châu Loan không còn nữa (bà mất vì bệnh ung thư vào chiều Noel năm 1972), nhưng tên tuổi cùng với giọng ngâm thơ đằm thắm của bà vẫn còn mãi trong lòng thính giả. Bà được phong tặng danh hiệu NSND năm 1984 (đợt 1). Bà là mẹ của nhạc sĩ Quốc Trường.

NSND Lệ Thi (tên thật là Vũ Thị Lệ Thi) sinh năm 1925, tại thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Quảng Ngãi trong một gia đình có cha là tri phủ, mẹ là nghệ nhân Nguyễn Thị Hạnh, ông ngoại là cụ tổ Nguyễn Hữu Như Bá. Năm 15 tuổi, Lệ Thi đi theo đoàn tuồng "Ý Hiệp Ban" do vợ chồng ông Bang tá làm chủ gánh. Ở đoàn tuồng này Lệ Thi đã rong ruổi khắp vùng Trung Bộ để biểu diễn và đã rất thành công với các vai diễn: Loan Dung (vở “Lý Phụng Đình”); Trại ba (vở “Địch Thanh ly hôn”); Đào Tam Xuân; Nguyệt cô (vở “Tiết Giao đoạt ngọc”); Nguyệt Tiên (vở “Đào phi phụng”); Xuân Hương (vở “Mã long mã phụng”); Phượng Cơ (vở “Tam Nữ đồ vương”)...

Năm 1942, Lệ Thi đã cùng mẹ và anh trai là Vũ Tư Trị lập nên gánh hát do ông Tư Trị làm chủ. Sau năm 1954, Lệ Thi tập kết ra Bắc làm diễn viên của Đoàn Văn công Liên khu 5. Sau khi Đoàn tách làm 2 là Đoàn Tuồng và Đoàn Dân ca kịch. Lệ Thi đã cùng với Ngô Quang Thắng, Nguyễn Tường Nhẫn, Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Kiểm, Đinh Thái Sơn tham dự Đoàn Dân ca kịch và được giao nhiệm vụ xây dựng kịch chủng mới là kịch hát bài chòi. Chính bà cũng là người đã có rất nhiều đóng góp trong việc cách tân, cải biên dân ca kịch Liên khu 5.

Các điệu lý như: Lý bắt bướm, Lý thiên thai, Lý hoa thơm, các điệu hò xe, hò đạp nước và đặc biệt là hò bài chòi đã được bà cách tân để đưa vào dân ca kịch một cách nhuần nhị. Trong chiến tranh, bà là một nghệ sĩ luôn đem tiếng ca của mình đến những điểm chốt gian nguy để phục vụ cho đồng bào, chiến sĩ. Giọng ca điêu luyện, thấm đẫm ân tình của bà đã làm cho nhiều trái tim đắm say và yêu mến. Năm 1984, bà được phong tặng danh hiệu NSND (đợt 1), bà là vợ của soạn giả, NSƯT Nguyễn Tường Nhẫn. Con trai bà là Kì Ngộ và con gái Tường Vân đều là diễn viên Đoàn ca kịch Thuận Hải. Con trai Quang Tái là nhạc công của đoàn, con gái Hạnh Nguyên là diễn viên Đoàn Ca kịch Phú Khánh, Phó Hiệu trưởng Trường đại học Sân khấu Điện ảnh Hà Nội.

NSƯT Châu Dinh (tên thật là Nguyễn Thị Dinh), sinh năm 1942 ở quê mẹ là làng Tùng Luật.  Năm 1960, Châu Dinh được tiếp nhận vào Đoàn Ca kịch Trị Thiên Huế khi đoàn đang đóng tại Ty Thông tin - Văn hóa Vĩnh Linh. Thời gian này Châu Dinh có dịp trau dồi, rèn luyện các kỹ năng ca, kỹ năng sân khấu. Bà Kim Thao là người đã có công giúp Châu Dinh định hình tính cách, vai diễn về sau.

Năm 1961, cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam đang bắt đầu bước vào thế trận mới, Châu Dinh đã được Đài Tiếng nói Việt Nam mời thể hiện nhiều bài ca Huế, dân ca Bình Trị Thiên ngợi ca cuộc chiến đấu chống Mỹ cứu nước của nhân dân hai miền Nam - Bắc. Thính giả trong cả nước cũng từ đây biết đến tên tuổi Châu Dinh.

Từ năm 1966 đến năm 1969, Châu Dinh được theo đoàn vào tuyến lửa Quảng Bình - Vĩnh Linh phục vụ đồng bào và chiến sĩ vùng giới tuyến. Bà đảm nhận nhiều vai diễn quan trọng. Châu Dinh nhớ và ấn tượng nhất là vai diễn đầu tiên: Bà Lành trong vở “Con gà chân chì”. Qua vai bà Lành, Châu Dinh đã thu hút được sự chú ý của khán giả, niềm tin cậy của khán giả dành cho Châu Dinh ngày càng được nhân lên.

Nghệ thuật biểu diễn, nghệ thuật ca Huế tiếp tục được định hình theo thời gian. Lần lượt, Châu Dinh đảm nhận nhiều vai diễn mới như Kan Xiêm (vở “Kan Lịch”), Công chúa Sở, Tuấn mẫu (vở “Thoại Khanh Châu Tuấn”), Bà vợ trung tá quân đội Sài Gòn (vở “Chiếc áo cưới màu xanh”) của các soạn giả Xuân Lư - Lê Anh Phong; Bà mẹ sinh viên đấu tranh (vở “Nước mắt và bạo lực”), Nhũ mẫu (vở “Quạ thần, pho tượng đá”) chuyển thể từ kịch nói của soạn giả Lưu Quang Vũ…

Tài năng nghệ thuật của Châu Dinh được nhiều đài, báo trong nước ngợi ca. Bà xứng đáng với Huy chương Bạc (1985 - vở “Vòng oan nghiệt” của soạn giả Lê Bá Sinh), Huy chương Vàng (1990 - vai Diệu Thúy trong vỡ “Lời trăng trối”, của soạn giả Minh Hằng) cùng nhiều bằng khen khác qua các mùa hội diễn. Châu Dinh đã được Bộ VHTT tặng Huy chương Vì sự nghiệp văn hóa, Ủy ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt Nam tặng Huy chương Vì sự nghiệp VHNT và vinh dự nhất là được Nhà nước phong tặng danh hiệu NSƯT vào năm 1993.

Trên mảnh đất cỗi cằn Quảng Trị, vợ chồng NSƯT Sỹ Cừ - NSƯT Kim Phú đã cùng với các nghệ sĩ tâm huyết khác đêm ngày tôi luyện để đạt đến đỉnh cao trong biểu diễn đàn và hát dân ca. Họ luôn đau đáu một khát vọng bảo lưu và phát triển những vốn văn hóa cổ truyền của dân tộc. Khác với người chị ruột của mình, NSƯT Kim Quý đã thể hiện rất thành công khả năng biểu diễn của mình trên sân khấu kịch nói.

NSƯT Kim Quý (bìa trái) và chồng - NSND Xuân Đàm (thứ 3 từ trái qua) cùng bạn nghề.
NSƯT Kim Quý (bìa trái) và chồng - NSND Xuân Đàm (thứ 3 từ trái qua) cùng bạn nghề.

Với tài đạo diễn sân khấu của chồng chị (NSND Xuân Đàm), với những kịch bản của các nhà văn là người Quảng Trị như: Xuân Đức, Nguyễn Quang Lập, Cao Hạnh… NSƯT Kim Quý đã thực sự tỏa sáng qua từng vai diễn của mình trong các vở như: "Mùa hạ cay đắng", "Ám ảnh", "Đứa con nối dõi", "Chuyện đời thường vớ vẩn", "Huyền thoại mẹ"… đặc biệt ở NSƯT Kim Quý là vai độc diễn Lý Chiêu Hoàng. Liên tiếp trong nhiều năm, chị đã gặt hái về cho quê hương Quảng Trị, cho làng Tùng Luật nhiều huy chương vàng qua các kỳ hội diễn sân khấu toàn quốc.

Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, người viết không thể nào kể hết những gương mặt nghệ sĩ tài hoa là con dân của làng quê Tùng Luật. Những con người tài hoa ấy đã chung tay vào với lịch sử nghệ thuật của nước nhà, họ miệt mài xây dựng ngôi nhà chung ấy để rồi họ không còn là của riêng cái làng ven biển Tùng Luật nữa, không là của cái tỉnh Quảng Trị khốn khó ấy nữa, mà họ là của chung đất nước này.

Quốc Anh

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.