Những kỷ niệm khó quên với họa sĩ Bùi Xuân Phái

Tôi quen biết Phái vào một buổi tối mùa đông năm 1962. Trên căn gác nhà họa sĩ Nguyễn Dung ở phố Quán Thánh.

Nghe biết tiếng anh đã lâu, nay mới được gặp. Do anh gầy nên dáng người lại thành cao, trên vầng trán hói, mái tóc thưa và đen; má hóp lại làm khuôn mặt đâm dài ra; đôi mắt trong xanh, thông minh và có nghị lực. Anh quen nói to, giọng vang và ấm. 

Qua sự giới thiệu của Nguyễn Dung, tôi và anh trở thành quen biết. Anh rút túi áo lấy ra một chiếc bút máy và giở quyển sổ tay vạch vài ba nét đã thấy hình tôi hiện lên trên trang giấy. Vẽ xong, anh tặng ngay tôi, mặc dù mới quen biết buổi đầu. Thầm ơn anh, tôi có hỏi thăm địa chỉ. Cách vài ngày sau tôi có lại thăm anh ở căn nhà bên trong số 87 phố Thuốc Bắc, một gian nhà không rộng. 

Tiếp tôi trên gác xép, nếu đứng thẳng người thì dễ chạm đầu nên phải cúi lom khom. Gác lát bằng những tấm gỗ hòm nên không lấy gì làm chắc cho lắm. Diện tích vừa đủ trải chiếc chiếu rộng. Gần chỗ nằm kê chiếc tủ con đựng đồ lặt vặt. Mấy chồng sách báo cũ sắp xếp xung quanh.

Trên tường móc vài bức tranh sơn dầu không khung. Một cây đèn bóng 75W xoay ngang mọi chiều để chiếu sáng. Hộp rửa bút là chiếc ống bơ đã gỉ, ngổn ngang mấy tuýp sơn dầu đang dùng dở đựng trong hộp thuốc vẽ bê bết màu sơn. Chiếc điếu cày để vào bên trong cái lọ sành. Anh nhấc điếu đặt mồi thuốc lào châm đóm hút, khi bỏ điếu ra lại húng hắng ho.

Gần anh tôi thấy dễ mến vì anh ăn nói rất có duyên, tỏ ra là người lịch duyệt. Như câu chuyện anh thường nói đùa mang chất châm biếm hài hước rất tế nhị, nghe rất thú vị. Anh cười một cách sảng khoái, tiếng cười giòn giã rất khó quên. 

Tính chất hồn nhiên phóng khoáng nhưng rất nhạy cảm với hoàn cảnh xã hội thực tế và đời sống bên ngoài. Anh ghét nhất là lối đạo đức giả hoặc câu chuyện làm quà đãi bôi hay kiểu vuốt đuôi.

Cụ Đạm bên những bức ký họa của họa sĩ Bùi Xuân Phái.
Cụ Đạm bên những bức ký họa của họa sĩ Bùi Xuân Phái.

Mỗi khi để tôi xem tranh, anh lại lật chiếc chiếu mà anh đang nằm lấy ra những bức họa bằng bột màu hoặc mực nho. Có lẽ sức nặng trên người anh nén xuống làm những bức tranh phẳng phiu hơn. Anh đặt tranh lên trên miếng carton cứng. Cần thay đổi, anh dùng 4 chiếc cột sắt. Tháo ra lồng vào, lần lượt giở bức này qua bức khác. 

Xem xong, tôi dè dặt không dám khen - chê, sợ nói ra không đúng ý. Vì khi đó tôi mới bắt đầu làm quen với hội họa. Nhiều lần qua lại, tôi với anh đã trở nên thân mật và cũng học hỏi ở anh được nhiều điều hay.

Tôi thường đến với anh vào buổi tối chuyện trò mới được lâu hơn. Có khi anh vừa vẽ vừa tiếp chuyện. Cũng tại nơi đây thường gặp một số bạn bè của anh nên tôi được quen biết nhiều thêm.

Mùa hè nóng bức, ngồi trong nhà anh khá nóng, một chiếc quạt con không đủ mát nên anh và tôi thường rủ nhau đến nhà bạn bè nào có sách họa để xem, vì hồi đó sách họa của anh có rất ít. Những người có nhiều sách hội họa là Linh Chi, Lợi “búp bê”, Duy Nhất và Nguyễn Dung. Gần thì chúng tôi thủng thẳng đi bộ, xa hơn thì đi xe đạp. Chiếc xe anh vẫn đi cọc cạch tay phanh lỏng lẻo, xích líp bị rão ra. 

Đi được một quãng lại phải xuống vì xích lại rời ra khỏi đĩa và líp. Mỗi lần như vậy, anh thở dài và ngao ngán. Tôi cho rằng tài năng của anh chưa gặp vận. Cuộc sống của anh khá chật vật, cũng may được người vợ đảm. Sự nghiệp của anh cũng do người vợ đóng góp đôi phần.

Khoảng năm 1965, Hội Mỹ thuật có trợ cấp cho anh mỗi tháng 80 đồng. Trong số 700 hội viên, có độ mươi người mới được hưởng trợ cấp như vậy. Ngoài ra, anh làm thêm trình bày bìa sách, vẽ minh họa cho các báo. Thỉnh thoảng nhận công việc trang trí cho sân khấu kịch hoặc chèo. 

Vì thế, Trần Huyền Trân và Trần Hoạt thường đến gặp anh để bàn công việc. Nhờ đó, mỗi tháng anh thu nhập cũng thêm được dăm bảy chục. Họa hoằn lắm mới bán được vài bức tranh. Số tiền nhỏ nhoi cũng không đáng kể. Chị làm y tá tháng được dăm chục đồng. Về nhà lại phải làm thêm.

Cứ chập tối lại có mươi người đến nhờ tiêm. Mỗi mũi tiêm lấy độ 0,2 đồng. Trong gia đình có hai vợ chồng và 5 con nhỏ. Ngoài ra còn nuôi thêm một bà giúp việc. Với số thu nhập trên tránh sao cho khỏi phần túng thiếu.

Hội Mỹ thuật có ưu tiên đưa anh một số tranh khắc gỗ Đông Hồ vẽ về Bát Tiên quá hải để anh tô màu bán vào dịp tết. Anh nghĩ thêm được đồng nào trọng đồng ấy, miễn là có việc mà làm. Ban ngày làm việc mệt nhọc, tối lại thức khuya vẽ minh họa để kịp gửi đến tòa soạn. Đặt mình nằm chưa kịp chợp mắt thì đàn chuột đến quấy rầy, thường xuyên bị mất ngủ.

Làm việc mệt nhọc hoặc thức quá khuya, anh thường dùng đến café, đôi lúc cũng uống rượu những lúc gặp bạn vui chơi hoặc thù tạc thường chạm chén với Nguyễn Sáng và Dương Bích Liên. Rượu anh quen dùng là loại quốc lủi, quán rượu anh thường lui tới ở phố Hàng Mành. 

Lê Chính làm trình bày cho Báo Văn nghệ, thường đến anh để trả tiền minh họa. Anh lại kéo đến đấy uống rượu. Ở đó, hay gặp Văn Cao và một số anh em khác. Rượu ngà ngà anh lại lững thững đến Trần Văn Lưu làm nhiếp ảnh ở phố Hàng Bông. 

Ở đây lại thường chạm trán với Vũ Đình Liệt, Đoàn Phú Tứ và Trần Lê Văn. Đôi lúc, trong túi rủng rỉnh anh lại la cà đi ăn quà sáng ở ngõ Hàng Giầy, vào chợ Hàng Da ăn bún thang hoặc ra phố Lương Văn Can ăn sủi cảo. Món ăn anh thích nhất có lẽ là chim quay.

Anh ham vẽ lắm, ngồi đâu vẽ đấy, mấy mảnh giấy con, một tờ báo cũ, thậm chí có khi chỉ là vỏ bao diêm, vỏ bao thuốc lá, nắp hộp mứt, nắp hộp kẹo, quệt vài ba nét cũng trở thành tranh. Có nhiều bức hay hay anh giữ lại. Ai thích anh cho. Bức nào không thích hoặc chưa vừa ý anh vò xé quẳng vào sọt rác chẳng tiếc tay.

Lần đầu tôi hỏi mua tranh, anh chỉ tay bức tranh đang treo ở trên tường nói: “Nguyễn Dung vừa mới bán cho Đức Minh bức tranh sơn dầu khổ to bằng thế này vẽ tĩnh vật với giá 180 đồng”. Rồi anh khiêm tốn, giọng hài hước nói với tôi: “Tài tôi may ra bằng nửa tài Nguyễn Dung, chỉ xin với nửa giá đó”. 

Tất nhiên, tôi với anh giá cả thế nào cũng xong. Dù sao đối với tôi, anh vẫn ưu ái hơn người khác. Cóp nhặt dần dần qua nhiều năm, tranh của anh có ở trong tay tôi trên 40 bức vừa sơn dầu vừa bột màu. Ngoài ra có tới 200 ký họa chân dung anh vẽ về tôi. Có bức ký họa nào bạn bè thích tôi tặng lại.

Họa sĩ Bùi Xuân Phái và nhà sưu tập Nguyễn Bá Đạm.
Họa sĩ Bùi Xuân Phái và nhà sưu tập Nguyễn Bá Đạm.

Thời gian từ 22/12/1984 - 22/1/1985, anh có triển lãm tranh ở phố Ngô Quyền, trưng bày 107 bức họa vừa sơn dầu, vừa bột màu. Trong một vài ngày đã bán được 25 bức. Một con số kỷ lục về bán tranh trong các cuộc triển lãm ở Việt Nam từ trước tới thời điểm đó. 

Cuộc sống của anh bắt đầu trở nên khấm khá. Kinh tế trong gia đình đã có nhiều thay đổi đáng mừng. Các nhà quay phim vô tuyến truyền hình trong và ngoài nước đã tìm đến anh. Nhà quay phim người Australia cũng cố mời bằng được để anh ra phố quay về phố cổ. Báo chí trong nước và nước ngoài kể cả Việt kiều ở xa đất nước cũng hướng về anh.

Mấy năm về trước anh cũng được giải thưởng cao về trình bày bìa sách ở hội chợ sách quốc tế tại Leipzig, Đông Đức (cũ) vẽ về “Hề, chèo”. Các cuộc triển lãm ở trong nước, nhiều năm anh cũng được giải thưởng. Danh vọng và tiền tài đã đến với anh lúc này không thiếu. Điều mơ ước ở anh trong lúc này chỉ cần một “atelier” (xưởng vẽ) để làm việc. Thêm một điều ước muốn nữa là được đặt chân đến Paris, thủ đô nước Pháp. 

Nếu tới đó, anh sẽ đến thăm viện bảo tàng Lourve và Musée dArt Moderne để được chiêm ngưỡng những kiệt tác của các nhà đại danh họa tầm cỡ thế giới. Những ước mơ đó đối với anh không khó. 

Nhưng đến khi qua đời anh vẫn chưa thực hiện được ý muốn. Nhớ đến hằng năm cứ vào dịp tết anh lại vẽ một số thiếp chúc tết. Lấy con vật của một năm làm đề tài. Năm thì vẽ con gà, con lợn, năm thì vẽ con ngựa, con dê. Bạn bè thân ái đến chơi hoặc đến nhà ai chơi anh đều tặng. 

Tết Mậu Thìn 1988, tôi đã mấy ngày đợi anh ở nhà vẫn không thấy anh lại. Khác hẳn với mọi tết. Mọi khi thường anh đến tôi hoặc tôi đến với anh trong hai ngày mồng Một hoặc mồng Hai. Nóng ruột quá, chiều ngày mồng Năm tôi đến thăm anh, thấy còn trùm chăn kín mít.

Nghe thấy tiếng tôi, anh vùng dậy, trong người hãy còn nồng men rượu. Sau đó, anh phải vào Bệnh viện Việt Xô điều trị. Ít ngày sau, ở bệnh viện về, tôi có lại thăm. Thấy bóng dáng tôi, chị Phái tỏ vẻ vui mừng khoe anh đã ăn được khá hơn trước, tuy nói năng vẫn phải dùng đến bút đàm. 

Rút trong chiếc cặp da lấy ra bức ảnh chân dung cỡ 9x12 anh ghi mấy chữ: "Thân tặng cụ Đạm một bức ảnh rất xưa - HN, 11/5/1988”. Cầm tấm ảnh, tôi không nhận ra anh vì lúc đó anh là một thanh niên đẹp trai tuổi mới 21 đang học ở trường Mỹ thuật Đông Dương. Cách nhau 48 năm rồi làm gì mà không khác.

Tôi thường quen nhớ đến tuổi mụ vì anh sinh năm Canh Thân 1920, cùng tuổi với Duy Nhất nhưng trong giấy khai sinh lại ghi là 1/9/1921 để xin vào học cho dễ. 

Bâng khuâng đi đường tôi suy nghĩ có việc qua lối Tràng Thi gặp Thái Bá Vân, hỏi tôi: Trong mấy ngày gần đây anh có đến Phái không? Tôi trả lời: Vừa ở nhà Phái ra. Vân hỏi: Anh thấy thế nào? Tôi nói: Sức khỏe xem ra khá hơn mấy hôm nọ. Vân cho biết là anh (Phái) bị cance (ung thư) gia đình giấu không cho Phái biết. Lòng tôi se thắt lại... nhưng vẫn nửa tin nửa ngờ. 

Cách vài tháng sau đến thăm, thấy anh ngả người trên chiếc ghế bành mắt lim dim lúc nhắm lúc mở. Thấy tôi anh choàng dậy gật đầu chào, còn có vẻ mệt mỏi. Nhìn kỹ sắc thái lúc này đã thấy sút hẳn. Không làm phiền hỏi nhiều để anh phải mệt thêm. Giữ ý tôi cáo từ ra về sớm hơn mọi bận.

Hà Nội trong mấy ngày ấy thật oi bức, nhiệt độ từ 35-36 độ. Nóng cả ban ngày, nóng cả ban đêm. Cứ hầm hập. Chiều tối 23/6, cơn dông to ập đến, mây đen mù mịt lác đác vài giọt mưa, sau trở thành nặng hạt. Nhiệt độ trong người anh cũng bắt đầu thay đổi. Sau giờ vô tuyến, trong người anh cảm thấy khó thở. Gia đình bối rối. Chị và các cháu thấy cần phải đưa ngay anh vào viện để cấp cứu. Cháu Phương đi kèm cùng anh từ nhà ra đường, lúc đó anh còn kéo lê đôi dép tự đi một mình. 

Vào tới Bệnh viện Việt Xô, bác sĩ và những người trực ca đêm đó đã tận tình cứu chữa, dùng phương pháp hồi sức bằng cách cho thở ôxy. Nhìn điện tâm đồ thấy hơi thở tụt dần. Tim anh bắt đầu ngừng đập vào 20h40 ngày 24-6-1988...

Thế là Hà Nội đã mất đi một họa sĩ tài hoa. Đất nước mất đi một danh họa. Nhưng Bùi Xuân Phái đã để lại cho đời những bức tranh trường tồn cùng thời gian...

Nguyễn Bá Đạm

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.