Nhân kỷ niệm 70 năm sự kiện Côn Minh (tháng 2/1945 - tháng 2/2015):

Những cuộc gặp gỡ khởi đầu quan hệ Việt – Mỹ

Đầu năm 1945, tình hình chiến tranh thế giới biến động có lợi cho phe Đồng minh chống trục phát xít. Lúc đó quân đội Mỹ đang đóng tại Côn Minh để giúp Tưởng Giới Thạch chống Nhật, gồm có trụ sở của Không đoàn thứ 14 do tướng L.Chennault chỉ huy, Cơ quan phục vụ chiến lược OSS và Cơ quan cứu trợ không quân AGAS. Nhằm tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của Đồng minh chống phát xít đối với cách mạng Việt Nam và liên lạc với các đồng chí cách mạng ở Vân Nam nên lãnh tụ Hồ Chí Minh quyết định đi Côn Minh gặp phía Mỹ.

Tháng 1/1945, Người cùng đồng chí Phùng Thế Tài, Đinh Đại Toàn dẫn theo trung úy phi công Mỹ Shaw (được Việt Minh giải thoát khi máy bay bị rơi ở Cao Bằng) bắt đầu lên đường. Đến Côn Minh, anh em bố trí cho Người ở quán cà phê Đông Dương, số 76 đường Kim Bích do cơ sở cách mạng của ta, anh chị Minh Phương làm chủ.

Tại đây, Người đã đón Tết âm lịch Ất Dậu cùng bà con Việt kiều. Sau Tết, anh em bắt đầu tìm cách bắt liên lạc với phía Mỹ. Ngày 17/3/1945, nhân danh Việt Minh, lực lượng đã giải cứu phi công Shaw, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tiếp xúc với Cơ quan AGAS tại tiệm cà phê.

Đại diện phía Mỹ là trung úy C.Fenn (người trực tiếp điều khiển nhóm tình báo quân Đồng minh đang hoạt động trên đất Việt Nam) đã đưa đến nhiều bánh, rượu, thuốc men và cả tiền đôla để cảm ơn Việt Minh, song Người chỉ nhận thuốc mà không nhận tiền, Người trao đổi với Fenn bằng tiếng Pháp: “Chúng tôi là mặt trận Việt Minh có chiến khu, có quân đội, đứng bên cạnh Đồng minh chống phát xít. Quân đội chúng tôi còn rất nhỏ bé, chỉ có mấy thanh mã tấu và súng kíp. Giá bây giờ các bạn cho chúng tôi đổi những thứ này lấy súng đạn thì quý biết bao”.

Fenn kể lại trong nhật ký như sau: “Hồ cùng đến với một thanh niên tên là Fam (là Phạm Việt Tử). Hồ không như tôi tưởng. Trước hết ông chưa đến nỗi “già”, chòm râu không còn đen nữa, nhưng khuôn mặt khỏe mạnh và đôi mắt lấp lánh. Chúng tôi nói chuyện bằng tiếng Pháp. Tôi hỏi ông là ông muốn gì ở người Mỹ. Ông nói: Chỉ muốn họ công nhận tổ chức của ông. Tôi đã nghe phong thanh người này là cộng sản và tôi đã hỏi về điều đó. Hồ nói rằng người Pháp gọi tất cả những người Việt Nam mong muốn độc lập đều là cộng sản. Tôi đã kể cho ông nghe về công việc của chúng tôi và hỏi ông có muốn giúp chúng tôi không. Hồ nói là họ có thể giúp được, nhưng không có người sử dụng điện đài và dĩ nhiên không có thiết bị gì cả. Chúng tôi thảo luận về việc tiếp nhận một điện đài, một máy phát và người sử dụng máy phát đó. Chúng tôi đã thảo luận về người Pháp. Hồ nhấn mạnh rằng Việt Minh chỉ chống Nhật. Giọng nói của ông rõ ràng, dứt khoát, gây cho tôi một ấn tượng mạnh mẽ. Fam ghi chép. Chúng tôi thỏa thuận còn phải gặp nhau nữa. Họ đã ghi tên của họ bằng chữ Trung Quốc theo La tinh là Fam Fuc Pao và Ho Tchih Ming”.

Tiếp đó, lãnh tụ Hồ Chí Minh đã tìm đến cơ quan thông tin chiến tranh Mỹ AOWI để thu thập những thông tin cần thiết, đặc biệt là những tin chiến sự thế giới. Người đọc nhiều tài liệu tiếng Anh từ báo Time đến Bách khoa toàn thư Mỹ. Ngày 20/3/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh gặp Fenn lần thứ hai cũng tại tiệm cà phê. Theo yêu cầu của Người, Fenn nhận cung cấp các phương tiện thông tin liên lạc, nhân viên truyền tin và hướng dẫn cho người Việt Nam biết cách sử dụng.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp và những lãnh đạo đội biệt kích Con Nai, năm 1945.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp và những lãnh đạo đội biệt kích Con Nai, năm 1945.

Fenn ghi trong nhật ký như sau: “Cuộc gặp với những người Việt Nam diễn ra trong một quán cà phê Đông Dương ở phố Kim Bích. Hình như ông chủ quán cà phê này là bạn của họ. Chúng tôi ngồi trên lầu và uống cà phê theo kiểu Pháp rất đặc và rất ngon. Gian phòng còn vắng nhưng Hồ nói là khách có thể vào. Ông già mặc một chiếc quần bông kiểu Tàu và một chiếc áo xanh đã ngả vàng cài khuy đến tận cổ. Đôi dép của ông là dép da thường thấy ở Đông Dương. Bộ râu thưa đã bạc, lông mày màu nâu sáng đã chuyển sang mầu xám ở phía trên, nhưng mái tóc hầu như vẫn còn đen tuy cũng đã bắt đầu ngả màu. Người thanh niên Fam mặc quần áo Tây, gò má cao, cằm bạnh. Chúng tôi thỏa thuận gọi người Trung Hoa là “bạn”, người Mỹ gọi là “anh em”, người Pháp gọi là “người trung lập”, người Nhật gọi là “bọn chiếm đóng”, người Việt Nam gọi là “người đồng hương”.

Vì không có người Việt Nam sử dụng được vô tuyến điện nên tất nhiên phải chọn người Trung Quốc... Tiếp đó chúng tôi bàn về sự trợ giúp, Fam nhắc lại “tiếng nổ lớn” mà Hall đã nói với anh ta. Chúng tôi thỏa thuận với nhau là sau này chúng tôi có thể cung cấp thêm vũ khí phát sáng, thuốc men và điện đài khác. Người sử dụng máy móc riêng của chúng tôi có thể huấn luyện lại một số người của ông Hồ để sử dụng được các thứ đó. Hồ cũng muốn được gặp Chennault. Tôi thỏa thuận sẽ thu xếp cuộc gặp đó, nếu ông đồng ý không nói với Chennault bất cứ điều gì về sự ủng hộ và những hứa hẹn giúp đỡ. Hồ đồng ý. Cả hai người nói nhỏ nhẹ, thỉnh thoảng mỉm cười. Chúng tôi cảm thấy, chúng tôi cư xử với nhau rất đẹp”. Ngày 23/3/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh lại gặp Fenn và một người Mỹ gốc Hoa tên là Ph.Tan.

Ngày 29/3/1945, vào lúc 11 giờ, tại tổng hành dinh Không đoàn 14, Hồ Chí Minh và phiên dịch là Phạm Việt Tử gặp tướng Chennault, một chiến tướng già dặn có vẻ mặt nghiêm nghị nhưng rất hòa nhã, có thêm Fenn và Bernard cùng tham dự.

Fenn ghi lại trong nhật ký: “Bernard và tôi có bổn phận đón Hồ vào 10 giờ 30 phút ngày 29/3 cho cuộc gặp vào lúc 11 giờ, khi chúng tôi có mặt ở ngoài cơ quan của Chennault thì chúng tôi được báo là tướng quân đang bận việc. Đúng lúc đó cô thư ký xuất hiện và quả quyết với chúng tôi là ngài còn bận chút xíu nữa thôi. Năm phút sau chúng tôi được dẫn vào phòng. Ở đó Bernard đã mang sẵn ra hai chiếc ghế, trong khi chính Chennault ngồi trên chiếc ghế thứ ba.

Một cảnh tượng kỳ lạ: Chennault trong bộ complê trang nhã có đính huân chương, Bernard trong bộ soóc bằng vải kaki, còn tôi trong bộ quần áo bằng vải gabađin và chiếc mũ cối thủy quân lục chiến. Ông già mặc chiếc áo ngắn tay dài tới đầu gối và đi xăngđan, Doreen trong bộ quần áo kaki. Chennault nói với Hồ là ông ta rất biết ơn về việc cứu người phi công. Hồ nói ông sẽ rất vui lòng giúp đỡ người Mỹ, đặc biệt là tướng Chennault - người mà ông rất ngưỡng mộ. Họ trò chuyện về những con hổ biết bay (chỉ các huyền thoại về đơn vị Không quân 14 được mệnh danh là phi hổ dưới quyền Chennault). Chennault rất hài lòng về việc ông già biết chuyện đó. Chúng tôi tiếp tục nói chuyện về việc cứu phi công này”.

Lãnh tụ Hồ Chí Minh đặt vấn đề chính: “Hiện nay phong trào du kích của chúng tôi rất phát triển nhưng vũ khí, thuốc men đều thiếu thốn. Chúng tôi đề nghị các ngài tạo điều kiện để hai nước chúng ta có đầy đủ điều kiện mau chóng đánh bại phát xít Nhật”. Tướng Chennault hoàn toàn ủng hộ ý kiến này của Người và hứa sẽ giúp đỡ. Kết thúc buổi gặp, Chennault tặng lãnh tụ Hồ Chí Minh một bức ảnh chân dung của mình với dòng chữ: Bạn chân thành của Ngài. Chennault.

Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp và những lãnh đạo đội biệt kích Con Nai, năm 1945.
Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp và những lãnh đạo đội biệt kích Con Nai, năm 1945.

Ngày 31/3/1945, Chennault nói Fenn đi ôtô đến quán cà phê mời lãnh tụ Hồ Chí Minh đi họp. Trong buổi gặp này, Chennault đề nghị Người làm việc cho Mỹ ví dụ như tổ chức một mạng lưới tình báo ở Đông Dương nhưng lãnh tụ Hồ Chí Minh đã trả lời: “Chúng tôi không phải người đi làm thuê. Chúng tôi là người cách mạng. Chúng tôi đánh Nhật, Đồng minh cũng đánh Nhật. Chúng tôi giúp Đồng minh thì Đồng minh phải giúp chúng tôi. Chúng ta bình đẳng với nhau...”. Tướng Chennault mở tiệc chiêu đãi lãnh tụ Hồ Chí Minh và các thành viên trong đoàn Việt Nam tại khách sạn. Lãnh tụ Hồ Chí Minh nói chuyện với các tướng Mỹ bằng tiếng Anh, với các tướng Tàu bằng tiếng Trung Quốc phổ thông. Cách vài hôm, lãnh tụ Hồ Chí Minh nói với anh em tổ chức chiêu đãi lại phía Mỹ ngay tại gác hai quán cà phê Đông Dương.

Ngày 10/4/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh và đoàn Việt Nam rời Côn Minh đi Bách Sắc, một thị trấn nhỏ của tỉnh Quảng Tây. Tướng Chennault cho xe đến đón Người ra sân bay, cùng đi có hai người Mỹ là Tan và Maxim, phụ trách điện đài. Phía Mỹ đã tặng Người 6 khẩu súng ngắn, 2 vạn viên đạn, một số thuốc chữa bệnh. Tại Bách Sắc, lãnh tụ Hồ Chí Minh gặp tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh Chiến khu IV. Người đề đạt nguyện vọng lấy một số học viên vừa tốt nghiệp trường quân sự về nước để tăng cường lực lượng kháng chiến, Trương Phát Khuê hoàn toàn đồng ý.

Ngày 15/4/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh chọn 20 thanh niên mang theo giấy tờ đến để cùng khiêng máy phát điện, điện đài, đồ quân dụng với Tan và Maxim về Việt Nam. Tan viết: “Những người hộ tống đã tới vào ngày 15/4. Bốn giờ sáng hôm sau chúng tôi cải trang thành những người buôn lậu vùng biên giới, cho tất cả trang bị vào những chiếc làn mây. Chúng tôi sóng đôi cuốc bộ tới biên giới lúc 15 giờ, chờ tối vượt biên giới. Chuyến đi dài ngày này dễ bị cướp nên chúng tôi tháo súng ra khỏi bao và cầm sẵn trong tay”.

Ngày 27/4/1945, vào buổi chiều tối, tại một quán trà trong làng Chiu Chon Chie cách Tĩnh Tây khoảng 10km, lãnh tụ Hồ Chí Minh gặp thiếu tá tình báo Mỹ A.Patti. Người nói cho Patti biết về tình hình nạn đói ở Việt Nam, về quan điểm của Pháp, Trung Quốc, Anh với vấn đề Việt Nam và Việt Minh sẵn sàng hợp tác với người Mỹ khi nào phía Mỹ thấy thích hợp. Người còn thông báo về việc chuẩn bị cho một Chính phủ Việt Nam dân chủ độc lập. Cuộc trao đổi kéo dài tới quá nửa đêm mới kết thúc. A.Patti kể lại: “Con người mảnh khảnh, nhỏ bé và kỳ lạ ấy gặp tôi với một nụ cười niềm nở. Ông Hồ không yêu cầu gì cả, ông chỉ trình bày cho tôi nghe giá trị tiềm tàng của tổ chức quân sự, chính trị của mình”. Cuối tháng 4/1945, lãnh tụ Hồ Chí Minh và  đoàn người cùng đi về đến Việt Nam.

Những cuộc hội đàm giữa lãnh tụ Hồ Chí Minh và các nhà quân sự Mỹ đã đem lại những kết quả tích cực. Thực hiện giao ước giữa Việt Nam và Mỹ ở Côn Minh, Ban Không trợ mặt đất của Mỹ đã lập một mạng lưới vô tuyến điện từ Hà Nội đến Sài Gòn theo kế hoạch của OSS và C.Fenn được giao nhiệm vụ liên lạc giữa OSS và Việt Minh.

Ngày 16/7/1945, đội biệt kích Con Nai do thiếu tá Tomas chỉ huy đã nhảy dù xuống làng Kim Lung và bắt đầu giúp đỡ huấn luyện kỹ thuật và sử dụng vũ khí cho Việt Minh. Phía Việt Minh cũng cung cấp tin tức tình báo về tình hình quân Nhật và giúp đỡ phía Mỹ tìm cứu được 17 phi công bị rơi trong rừng Tuyên Quang. Tuy nhiên, sau này do lợi ích tư bản hẹp hòi chi phối nên phía Mỹ chưa có quyết định dứt khoát về Đông Dương, bởi vậy Việt Minh chưa được văn bản chính thức nào công nhận từ phía Mỹ.

Đỗ Hoàng Linh (PGĐ Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch)

Các tin khác

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Vó ngựa của Hoàng đế Quang Trung

Nhắc đến vị vua anh hùng Quang Trung, hậu thế nhớ ngay đến hình ảnh oai hùng vẫn được miêu tả khi nhà vua ngồi trên bành voi, trực tiếp chỉ huy binh sĩ đánh đồn Ngọc Hồi hay hạ thành Thăng Long mùa xuân năm Kỷ Dậu 1789. Nói đến ngựa với nhà vua, người ta lại nhớ đến giai thoại về việc nhà vua sai ngựa trạm đem một cành đào Nhật Tân gửi về Phú Xuân tặng Hoàng hậu Ngọc Hân.

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Mã định danh liệu có minh bạch thị trường bất động sản?

Từ ngày 1/3/2026, mỗi bất động sản tại Việt Nam sẽ có một “căn cước” riêng dưới dạng mã định danh điện tử. Chủ trương này được kỳ vọng tạo ra bước ngoặt về minh bạch hóa thị trường, kiểm soát dòng tiền và hạn chế đầu cơ.

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Điện Kính Thiên: Thêm những bí ẩn khai mở từ lòng đất

Những bí mật quanh điện Kính Thiên - biểu tượng quyền lực tối cao của nhiều triều đại Việt Nam bất ngờ tiếp tục được khai mở vào những ngày cuối cùng của năm 2025, khi Trung tâm Bảo tồn Di sản Thăng Long - Hà Nội phối hợp với Viện Khảo cổ học công bố kết quả khai quật khảo cổ mới nhất tại Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long.

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại

“Trận địa mới trên bản đồ chiến tranh hiện đại” không còn nằm ở biên giới địa lý hay không gian mạng, mà đang dịch chuyển thẳng vào vùng lãnh thổ bí ẩn nhất của con người: bộ não. Khi các cường quốc đồng loạt đầu tư vào công nghệ thần kinh mang tính lưỡng dụng, từ giao diện não - máy tính đến kỹ thuật điều biến nhận thức, ranh giới giữa điều trị và kiểm soát, giữa tiến bộ và vũ khí hóa trở nên mong manh chưa từng có. Bản chất con người đang đứng trước một phép thử mới, nơi chiến tranh không chỉ nhắm vào cơ thể, mà nhắm vào chính ý chí và bản sắc của mỗi cá nhân.

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Bài cuối: Một gia đình đặc biệt

Không chỉ Trần Tử Bình có cuộc đời đặc biệt, mà đồng chí Nguyễn Thị Hưng - người bạn đời của ông cũng vậy. Họ là “đồng chí chồng - đồng chí vợ” gắn bó với nhau và cùng vượt qua những sự kiện quan trọng của một giai đoạn cách mạng hào hùng nhất trong lịch sử dân tộc.

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Thiếu tướng Trần Tử Bình: Gan vàng dạ sắt

Trong 60 năm cuộc đời thì có đến gần 8 năm Thiếu tướng Trần Tử Bình bị tù đày ở các nhà tù Côn Đảo, Thái Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Hỏa Lò - đều là những địa ngục trần gian. Sự trưởng thành, tôi luyện của người chiến sĩ cách mạng xuyên qua những gông cùm, xiềng xích; tích đọng thành lòng yêu nước, khát vọng tự do và sức mạnh để quên mình chiến đấu trọn đời vì cách mạng.

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

O Thu - người chèo đò qua dòng sông “mưa đỏ” Thạch Hãn

Có những khoảnh khắc lịch sử, một dòng sông phản chiếu hình ảnh nước Việt Nam can trường trong những năm tháng khói lửa 1972 - sông Thạch Hãn. Giữa mưa bom bão đạn, những mái chèo kiên cường vẫn rẽ sóng, đưa bộ đội sang Thành cổ, chở theo cả niềm tin và ý chí quật cường của đất nước.

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Liệt sĩ Hà Nội trong trận đầu Hải quân ta đánh thắng

Tôi tình cờ gặp Họa sĩ Ngô Thành Nhân trong một chiều mưa Đà Lạt. Lại tình cờ mà thật thú vị khi biết anh là con trai út của Kiến trúc sư nổi tiếng Ngô Huy Quỳnh. Cũng thật thú vị khi tôi với họa sĩ Ngô Thành Nhân là người cùng quê phường Đường Hào, tỉnh Hưng Yên.

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Anh hùng phi công Nguyễn Văn Bảy: Huyền thoại của bầu trời

Trong lịch sử không quân Việt Nam, phi công Nguyễn Văn Bảy (1936-2019) là một cái tên huyền thoại khi lái MiG-17 bắn hạ 7 máy bay tối tân của Mỹ. Ông được phong danh hiệu Anh hùng lực lượng Vũ trang nhân dân khi vừa bước qua tuổi 30 với quân hàm Thượng úy. Câu chuyện về phi công Nguyễn Văn Bảy thực sự là một huyền thoại của bầu trời và cuộc đời ông như biểu tượng về một “Cánh chim của bầu trời tự do” …

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Tấm giấy báo tử và câu chuyện xúc động về làm báo ở chiến trường

Trong “kho” hiện vật đồ sộ của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, nhất là những hiện vật lớp thế hệ nhà báo đi trước, có một hiện vật rất đặc biệt. Đó là tấm giấy báo tử “nhầm” của nhà báo Kim Toàn. Được trưng bày trang trọng trong tủ trưng bày của Bảo tàng Báo chí Việt Nam, đằng sau tấm giấy báo tử vương màu thời gian này là câu chuyện xúc động không chỉ riêng của nhân vật có tên trên tấm giấy mà còn là về những nhà báo chiến trường, về một thế hệ nhà báo - chiến sĩ trong một thời lửa đạn.

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Nhiệm vụ đặc biệt quan trọng của nhà tình báo Vladimir Kulemekov

Từ nhỏ, Vladimir Kulemekov mơ ước trở thành quân nhân. Tốt nghiệp Trường Sư phạm Suvorov với huy chương vàng, ông vào học Học viện Truyền thông Quân sự ở Leningrad. Năm 1969, ông tốt nghiệp và trở thành chuyên gia tình báo điện tử. Sau 5 năm làm việc tại vùng Khabarovsk, ông nộp đơn vào Trường Ngoại giao quân sự.

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Nhà báo, bác sĩ Nguyễn Văn Luyện: Làm báo để chữa cho nhiều người cùng lúc…

Giáo sư Nguyễn Tấn Gi Trọng (đại biểu Quốc hội từ khóa I tới khóa VII) nhận xét bác sĩ Nguyễn Văn Luyện (Ủy viên Ban Thường trực Quốc hội khóa I) là “một bác sĩ giỏi, một con người cởi mở, nhân hậu, vị tha, sống vì mọi người; một nhà báo, một nhà hoạt động xã hội lớn, có tầm nhìn xa trông rộng”.

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Ký ức về một thời hào hùng của người lính An ninh

Mặc dù vừa trải qua cơn đột quỵ, trí nhớ khi tỏ khi mờ, nhưng những ký ức về những năm tháng tuổi trẻ hào hùng, với hành trình đi dọc Trường Sơn, vượt qua mưa bom bão đạn để tham gia chi viện cho chiến trường miền Nam vẫn khắc sâu, nguyên vẹn trong tâm trí của ông Võ Xuân Thành - người lính An ninh Công an Nghệ An.

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

Dalat Palace và cuộc trù bị cho “Hội nghị Fontainebleau”

“Hội nghị Đà Lạt” còn gọi là “Hội nghị trù bị Đà Lạt” họp từ ngày 19/4 đến ngày 11/5/1946 tại Dalat Palace, Tp Đà Lạt, là một hội nghị dự bị, gặp gỡ giữa 2 phái đoàn Việt và Pháp chuẩn bị cho “Hội nghị Fontainebleau” diễn ra vào tháng 7 năm đó.

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Những bức ảnh trở thành lịch sử

Trong không khí cả nước náo nức chào mừng 50 năm Ngày Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, những ngày tháng Tư lịch sử năm nay, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III đón những vị khách đặc biệt và “kho” tư liệu ảnh vô giá. Đó là 2 nhà báo chiến trường - Trần Mai Hưởng và Đinh Quang Thành - những người đã theo đoàn quân giải phóng tiến về Sài Gòn, ghi lại nhiều khoảnh khắc đặc biệt và nhiều trận đánh lớn trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, trong đó có thời khắc những chiếc xe tăng đầu tiên húc đổ cánh cổng Dinh Độc Lập nửa thế kỷ trước.

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Ký ức miền Nam của những người lính an ninh trên quê hương Xô Viết

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, ác liệt, cùng với quân và dân cả nước, lực lượng Công an tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều nhiệm vụ mang tính chiến lược: Củng cố, xây dựng lực lượng để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của sự nghiệp cách mạng; đảm bảo an ninh, trật tự; bảo vệ công cuộc xây dựng CNXH ở hậu phương miền Bắc; đập tan mọi âm mưu và hoạt động của bọn gián điệp biệt kích và nỗ lực tham gia chi viện sức người, sức của cho chiến trường miền Nam.

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Cuộc hạnh ngộ sau nửa thế kỷ

Côn Đảo ngày nay đã khác xưa rất nhiều, nhưng dấu tích của quá khứ vẫn còn đó, nhắc nhở chúng ta về một thời kỳ đấu tranh gian khổ nhưng oanh liệt. Với những người từng trải qua năm tháng lao tù khắc nghiệt tại Côn Đảo, hòn đảo này đã trở thành một phần máu thịt, gắn liền với ký ức không thể nào quên.

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Hồi ức chiến trận của vị tướng miền Tây

Ở tuổi 81, trải qua nhiều trận đánh sinh tử, đi qua nhiều cột mốc quan trọng của cuộc đời, nhưng với Thiếu tướng Trần Vinh Quang (nguyên Chủ nhiệm Chính trị Quân khu 9, nguyên Thứ trưởng Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội) thì kỷ niệm đặc biệt nhất với ông là trong những ngày tháng 4/1975 lịch sử, những ngày mà “niềm vui như một giấc mơ” trong cuộc đời mỗi người lính.

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

Hoa bất tử nở giữa lòng địch

H63 là một mô hình điệp báo chưa từng có tiền lệ trong lịch sử tình báo quốc phòng Việt Nam và thậm chí là cả thế giới. Ở đó, quy tụ được những điệp viên hoàn hảo như Phạm Xuân Ẩn (X6), Nguyễn Thị Mỹ Nhung (Tám Thảo), Nguyễn Thị Ba... Phía sau mạng lưới tình báo hoạt động nhanh gọn, hiệu quả, bí mật suốt nhiều năm ấy, người ta không quên hình ảnh vị chỉ huy chiến lược Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang). Cuộc đời ông như một bông hoa bất tử nở giữa lòng địch.