Nhạc sỹ Phong Nhã – Những ân tình trên đường âm nhạc

Rất nhiều người già và trung niên ở nước ta đều khắc trong tim những bài hát thời thơ ấu như “Nhanh bước nhanh nhi đồng” hoặc “Ai yêu Bác Hồ Chí Minh hơn thiếu niên nhi đồng”… Người tài hoa đã cất lên tiếng hát của hàng triệu trái tim trong sáng ấy là nhạc sỹ Phong Nhã. Ông đã sáng tạo những giai điệu tuyệt vời ấy từ chính thiên tư của mình mà chưa học một trường lớp đào tạo bài bản nào về âm nhạc.

Nhạc sỹ Phong Nhã tên thật là Nguyễn Văn Tường. Ông sinh năm 1924 tại thôn Ngọc Động, xã Hoàng Đông, Duy Tiên, Hà Nam. Mẹ mất sớm. Bố đi bước nữa. Tuổi thơ của cậu bé mồ côi lớn lên trên vùng chiêm trũng rất cơ cực. Nhưng dường như cậu được cuộc đời bù đắp lại cho những ân tình vô giá. Cha của cậu là một người nông dân, song tâm hồn đầy âm nhạc.

Nhạc sỹ kể: "Bố tôi chỉ là một người chơi nhạc nghiệp dư, nhưng so với cụ, tôi chưa thật say bằng. Cụ tự sắm được mấy cây đàn đẹp: đàn nguyệt, đàn bầu, đàn thập lục. Còn về phần tôi sau này, tôi chỉ sắm được:  đàn nhị, hồ và mấy cây sáo. Tôi tiếc không còn giữ được nhạc cụ nào của cha để lại. Vì có lúc  nhà nghèo, đông con, túng thiếu, cụ đã phải bán đi những cây đàn đẹp, có cây đàn được chạm trổ khá tinh vi, khảm xà cừ nữa… Bài học của ông bố tôi là bài học về kí âm pháp dân tộc đầu tiên: Hò, xừ, xang, xê, cống, lìu… Cụ dạy tôi các nốt đó trên một cây đàn nguyệt".

Nhạc sỹ Phong Nhã – Những ân tình trên đường âm nhạc -0
Nhạc sỹ Phong Nhã

Nhạc sỹ có một người chị ruột, nhưng bị tàn tật. Những lúc cô đơn, cậu bé Tường thường trốn nhà, lên rặng cây, nhặt búp đa thổi cho vơi nỗi buồn. Về người chị, ông kể: "Thường đọc đi đọc lại truyện thơ Tống Trân - Cúc Hoa, nhất là đoạn Tiến Lực và Nghi Xuân, sau khi mẹ mất, dắt nhau đi ăn mày. Chị rất nhạy cảm với âm nhạc, phải nói là có năng khiếu nữa. Làm được bài gì mới, tôi thường hát cho chị nghe. Chị biểu lộ ngay tình cảm với đoạn nào chị thích". Đó chỉ là những giai điệu lời ca vụt hiện trong tâm hồn tuổi thơ bé của hai chị em. Song đó là những hạt giống mà đất trời đã gieo vào lòng họ. Nhưng số phận người chị mệnh yểu.

Nhạc sỹ nhớ lại: "Chị Xạn ơi, em chẳng còn được ước mong nuôi chị, an ủi chị lúc tuổi già. Bệnh tật đã cướp mất chị. Nhưng chị đã ảnh hưởng tới em không nhỏ về mặt tình cảm, tâm hồn. Người ta bảo chị giống mẹ như đúc. Và về tính nết chân thật, mộc mạc, nhạy cảm, hiền hòa, chị là hình ảnh của mẹ truyền cảm đến em, khi ở trên đời mấy chục năm sau, chỉ còn hai chị em, hai giọt máu của mẹ còn lưu lại. Tình cảm giữa con người với con người cũng chính là một thứ âm thanh vô hình mà hữu hình, không có nó cũng chẳng ra âm thanh, đặc sắc mà riêng biệt của từng người".

Ở cái làng quê bé nhỏ ấy đã có một dàn nhạc gia đình: ông bác chơi đàn nguyệt, ông bố chơi đàn bầu, ông chú kéo nhị, nhạc sỹ tương lai kéo hồ hay thổi sáo… Đặc biệt, tiếng đàn tranh của ông bác ruột tên là Nguyễn Trình làm ai cũng mê. Nhạc sỹ muốn học nhưng không được vì thuận tay trái.

Một nguồn nữa nuôi dưỡng thiên hướng âm nhạc của cậu bé Tường chính là thiên nhiên đồng quê. Sân đình, hội làng, những đám rước của trò "con đĩ đánh bồng" với những giai điệu dân ca cùng những động tác múa dân gian đã hút hồn nhạc sỹ. Ông cảm nhận: "Những âm thanh quê hương vùng đồng bằng Bắc Bộ cứ thấm vào tâm hồn mình một cách tự nhiên như không khí, ngày lại ngày nuôi dưỡng tâm hồn mình". Đó là những không gian, những bối cảnh. Còn thiếu nhân vật chính. Cậu bé Tường thường thích hát những điệu dân ca.

Nhạc sỹ kể: "Nhưng phải đến khi một bà cô họ tên là Sen nghe thấy tôi hát “Cò lả”, bà uốn nắn lại cho tôi, sau đó bà dạy tôi thêm bài ca trù “Chén muối đĩa gừng”, tôi mới cảm nhận được cái hay của dân ca; nét đẹp ở những chỗ luyến láy, nhả chữ, nhả vần điêu luyện, truyền cảm. Bà cô tôi chỉ là một nữ nhi tài sắc của quê hương hay tham gia hát giao duyên, trong những hội hè, đình đám, thế mà đã cho thấy được cái hay của dân ca chủ yếu qua giọng hát tươi mát, tình tứ của bà. Cứ nghe bà hát là tôi bị lôi cuốn, ngồi ngẩn ra, rồi tôi xin học lại, bắt chước lại…".

Cuộc sống ở vùng chiêm trũng luôn nghèo khó. Ông bố đã đưa con trai lên Hà Nội, giúp việc cho người bác và đến trường. Cậu bé Tường nhiều lần mang gối rút, hương nến, lốp kếp lên bán trên tàu điện. Tuy vất vả, nhưng tâm hồn cậu bé luôn phơi phới vì được bay nhảy giữa trung tâm văn hóa sôi động. Song cũng có những kỷ niệm nhớ đời. Có một thày giáo cấm học trò viết nguệch ngoạc, nhất là các chữ số. Hoặc đọc bài lơ đãng. Thày đánh và bắt quỳ. Có lần, cậu bé Tường bị thầy tát. Một chiếc răng bắn vào góc tường. Miệng ứa máu. Thày cho ra ngoài xúc miệng.

Nhớ lại, nhạc sỹ cảm nhận: "Tôi biết ơn sự nghiêm khắc ấy hơn là sự dễ tính khiến cho học sinh nhờn xác". Nhưng thày giáo này cũng rất quý Tường. Vì cậu đọc rất diễn cảm, sinh động, tự nhiên kèm theo động tác, nhất là phát âm đúng giọng Pháp văn khi đọc các bài văn. Nhạc sỹ tương lai rất thích thơ, nhất là thơ ngụ ngôn La Fontaine. Khi có thanh tra về, thày thường yêu cầu Tường đọc bài thơ “Hai người tranh nhau con sò” bằng tiếng Pháp chuẩn. Cậu bé Tường còn nhớ thày vì một kỷ niệm khác. Hôm thày ra đề làm văn “Hãy tả một người bán hàng rong”. Trong khi các bạn tả những người quen thuộc như người bán cháo, phở gánh… thì Tường tả “Một người mù thổi sáo bán lạc rang”.

Ông mù này, khi có người mua, thường thổi bài sáo tặng khách hàng. Cậu bé Tường không có tiền, nhưng mỗi khi nghe tiếng sáo, cậu thường chạy đến nghe và đi theo. Nhạc sỹ kể: "Tôi ghi nhớ những chỗ nhả hơi, vân vê, mà mình thấy hay rồi mua một cây sáo của ông về tập luyện". Sau này, khi phụ trách đội thiếu nhi, nhạc sỹ lại đến chỗ ông mù mua sáo.

Ở trường Nguyễn Du của Tường, thường có nhiều nghệ sỹ tự do đến biểu diễn. Những tiếp xúc này gợi cho Tường những chân trời mơ mộng. Nhạc sỹ tương lai còn được xem phim câm của Charlie Chaplin. Rồi khi nghệ sỹ cùng vợ sang thăm Hà Nội, cậu bé Tường lại cùng các bạn đứng chờ cả buổi trước khách sạn Metropole để "chộp" nghệ sỹ cùng vợ khi ra ngoài để tận mắt được thấy thần tượng. Cậu còn được tiếp xúc với trào lưu nhạc phương Tây tràn vào. Được nghe các giai điệu mới lạ, được nghe những ca khúc lời Việt nhạc Tây. Rồi lại được xem các nghệ sỹ cải lương miền Nam ra biểu diễn như Kim Thoa, Phùng Há, Năm Châu…Những lần làm khán giả ấy như những hạt phù sa nuôi dưỡng cây nghệ thuật trong tâm hồn cậu bé để sau này trở thành tác giả.

Nhạc sỹ Phong Nhã – Những ân tình trên đường âm nhạc -0
Nhạc sĩ Phong Nhã đệm đàn cho các đội viên Đội Thiếu niên Tiền phong hát.

Đang vui, nhưng vì nhà nghèo khó, ông bố không muốn cho cậu học lên cấp II. Ông gửi cậu đến một người bạn là thợ may. Ông này ngâm Kiều tuyệt hay và bố Tường thường đệm đàn cho ông. Nhưng Tường '"không dám" với lý do cậu thuận tay chiêu! Song cậu tìm ra  con đường khác để đến trường. Cậu kết thân với những người bạn. Tuy là con nhà nghèo, nhưng lại ham học và có năng khiếu âm nhạc. Họ vừa đi dạy thêm, vừa tự học và bày cách học cho nhau. Tường thi đỗ vào trường Đỗ Hữu Vị. Tại đây, cậu được ông thày người Pháp là nhạc sỹ Robert dạy về ký âm. Mỗi tuần chỉ có một giờ, nhưng những giờ ấy đã chắp cánh cho những mơ mộng của tâm hồn tuổi trẻ cất cánh.

Những năm 1944-1945, không khí chiến tranh và cách mạng thổi vào tâm hồn tuổi trẻ những luồng gió thiêng liêng. Chàng thanh niên Nguyễn Văn Tường tham gia phụ trách đội Nhi đồng cứu quốc. Anh cùng bạn bè tổ chức cho các em đi cắm trại, đá bóng… Anh thường sáng tác những ca khúc ngắn cho các em hát. Những hoạt động ấy đã thúc đẩy anh sáng tác bài “Nhanh bước nhanh nhi đồng” cho thiếu nhi đồng ca.

Ngày ấy, cách mạng chưa thành công, nên câu mở đầu của bài hát là "Nhanh bước nhanh nhi đồng ta cùng nhau bước lên đường". Sau cách mạng tháng Tám đổi thành "Nhanh bước nhanh nhi đồng theo cờ đỏ sao vàng". Nhưng điều đặc biệt là những câu sau: "Kìa lời gió ngàn kìa lời sông núi". Câu này được hát hai lần. Tôi cứ nghĩ, làm sao một thanh niên 20 tuổi lại có thể đưa vào lời ca cho con trẻ những lời của "gió ngàn", của "sông núi" một cách "tự nhiên như nhiên" và ngọt ngào đến thế?  Những thế hệ nhi đồng từng hát lời gió ngàn sông núi ấy, sau này ra trận, đánh đuổi giặc Pháp, giặc Mỹ, giặc phương Bắc, giặc Tây Nam. Phải chăng, trong lúc sáng tác, có một nữ thần âm nhạc đã nhập vào anh? Nội dung bài hát rất giản dị. Trẻ con ai cũng hiểu, ai cũng thích và rất dễ thuộc.

Chuyện kể rằng, trong thần thoại Hy Lạp có nữ thần Âm nhạc và Thi ca. Nữ thần này thường chỉ đến với những ai có tâm hồn trong sáng. Khi tâm hồn người đó bị vẩn đục vì vụ lợi, nữ thần sẽ bỏ đi. Những gì người đó viết ra, chỉ là phế tạp. Tôi hình dung, sáng tác xong bài hát đầu tay, chàng trai Nguyễn Văn Tường, sau  những giờ phút đắn đo, đã quyết định ký tên dưới ca khúc bằng bút danh Phong Nhã. Chắc khi ấy, anh chưa biết những thiên Phong, thiên Nhã trong Kinh Thi. Song cuộc đời anh, tâm hồn anh, chí hướng anh dường như hội tụ để anh chọn cái bút danh rất đẹp này. Nó vận vào, theo nhạc sỹ  cả cuộc đời. Một cuộc đời bình dị mà sâu sắc như con người, năm tháng và cuộc sống  mà nhạc sỹ đã trải.

Cuộc đời của nhạc sỹ Phong Nhã thấm đậm bao câu chuyện ân tình. Những ân tình ấy trải dài theo những chặng đường lịch sử của ông, của đất nước.  Có câu chuyện thế này: Đầu năm 1947, ông cùng đồng đội vượt sông Đáy về Đan Hoài để dự lễ truy điệu người lính trẻ Dương Văn Nội vừa hy sinh. Trở về, quá xúc động, ông sáng tác ngay bài hát về người liệt sỹ. Bài hát được mọi người đồng cảm. Nhưng khi cấp trên muốn tìm trích ngang Dương Văn Nội để truy tặng huân chương thì ít ai biết anh quê đâu. May sao, có một người đồng đội biết anh Nội đã nhận Huân chương và chút tiền tuất, mang về gia đình anh Nội. Và nhạc sỹ cùng những người bạn đã về quê anh.

Tại đây, có câu chuyện lạ kỳ. Một đơn vị bộ đội hành quân qua làng. Có anh bộ đội đã dạy các em thiếu nhi hát bài ca về anh hùng. Trong số thiếu nhi có hai người em gái của chính anh Dương Văn Nội. Bà mẹ nghe các con hát, bỗng giật mình. Tên, tuổi người liệt sỹ thiếu niên đó sao giống tên con trai bà thế! Chính bà tiễn con đến tận nơi đóng quân. Nhưng hàng xóm bảo: "Thiếu gì người trùng tên nhau". Chuyện đó qua đi. Nhưng khi nhạc sỹ cùng đồng đội Dương Văn Nội về quê anh, ai cũng nhận ra, anh Nội rất giống mẹ ở gò má cao và nụ cười đôn hậu.

Và sau này, gia đình  Dương Văn Nội đã lần theo bài hát để tìm hài cốt anh tại nghĩa trang liệt sỹ Sấu Giá, xã Yên Sở, huyện Đan Phượng, Hà Nội. Những vị muối mặn gừng cay mà nhạc sỹ hát từ thuở ấu thơ đã thành máu thịt và lẽ sống của ông. Những vị muối  của đời đã thấm vào những bài hát của ông chất mặn mòi sâu đậm. Ai đã nghe đều muốn hát. Ai đã hát một lần đều muốn hát nhiều lần. Và những ai đã hát nhiều lần đều không thể nào quên. Tất cả đã trở thành máu thịt và hương thơm tâm hồn của họ. 

Đoàn Tuấn

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.