Nhà văn Ngôn Vĩnh và chuyện “Bên kia cổng trời”

Nhiều người vẫn nhắc về ông với cuốn sách có cái tên giản dị như nó vốn có "Cuộc chiến đấu bảo vệ Đồng Văn" được in và phát hành nội bộ (Bộ Công an) vào năm 1977. Khi cuốn sách được xuất bản công khai (năm 1985) đã đổi tên là "Bên kia cổng trời" hơn 500 trang dày dặn và hấp dẫn.

Với cuốn tiểu thuyết tư liệu này, nhà văn Ngôn Vĩnh đã đóng đinh tên tuổi mình vào dấu ấn văn học đề tài bảo vệ an ninh Tổ quốc, đưa vùng đất Đồng Văn, Hà Giang trở thành một điểm hẹn lịch sử mà sau này, chính cuốn sách đã trở thành "kim chỉ nam" dẫn đường chỉ lối cho nhiều bạn đọc và các nhà văn tìm đến vùng đất địa đầu Tổ quốc.

Nhà văn Ngôn Vĩnh tiếp khách trong căn phòng đầy sách, tranh ảnh kỷ niệm một đời làm nghề. Dường như khung cảnh xung quanh ông vẫn còn âm vang những tiếng vọng vang của thời xa xưa, hồi mà cuốn sách "Bên kia cổng trời" trở thành một "hiện tượng" nổi bật trong làng văn nghệ. Nhà văn Ngôn Vĩnh vẫn thế, từ tốn, điềm đạm.

Nhà văn Ngôn Vĩnh và tác phẩm “Bên kia cổng trời”.
Nhà văn Ngôn Vĩnh và tác phẩm “Bên kia cổng trời”.

Kể lại việc viết sách, ông thủng thẳng với từng chi tiết câu chuyện mà ông là một nhân chứng, một người chép sử về những câu chuyện thú vị, đặc biệt để viết nên cuốn tiểu thuyết tư liệu độc đáo, đầy lý thú của dòng văn học đề tài an ninh. Cuốn sách mà tiếng vang của nó, còn lưu lại không chỉ đến thời điểm này, mà tôi nghĩ, nó còn nhiều thế hệ kế tiếp bởi tính thời sự và hấp dẫn .

Nhà văn Ngôn Vĩnh tốt nghiệp khoa Văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội. Năm 1968 ông về làm phóng viên Báo Công an nhân dân. Là một người đam mê văn học, nên dù đã làm phóng viên Báo Công an nhân dân, nhưng ông không viết án, viết phản ánh tin bài mà cái tạng của ông vẫn là viết những bài ký chân dung, nhân vật, na ná như bút ký văn học và gần với văn chương.

Rồi việc gì đến đã đến, dường như, con đường trở thành nhà văn đã có trong số phận của ông để trao gửi phận sự đi viết về một cuốn tiểu thuyết đầy dấu ấn về an ninh ngay từ những ngày đầu lập nghiệp.

Nhà văn Ngôn Vĩnh chia sẻ: "Khi tôi trở thành phóng viên Báo Công an nhân dân, vì say mê văn chương, nên tôi cố gắng viết những bài có tính văn học. Đọc Báo Công an nhân dân, phát hiện ra tôi, năm 1970, nhà văn Lê Tri Kỷ triệu tập tôi về dự trại sáng tác văn học. Đây là trại sáng tác văn học đầu tiên của Bộ tổ chức tại Tây Hồ. Tôi được phân công viết về chị Nguyễn Thị Minh Châu, Trưởng Công an xã, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1972, nhà văn Lê Tri Kỷ triệu tập tôi và một số cây bút tham gia Đoàn Văn nghệ của Bộ vào Quảng Trị viết về các chiến sĩ An ninh giải phóng. Thời gian này tôi viết một số truyện ngắn như "Bông hoa lạ", "Chiều sâu quá khứ"…

Đến năm 1973, Bộ thành lập Phòng Sáng tác văn nghệ, nhà văn Lê Tri Kỷ đề nghị Bộ điều tôi về công tác tại Phòng này. Năm 1974, tôi được phân công viết về vụ bạo loạn Đồng Văn và nhờ tác phẩm này, tôi đã có bước đi nhất định trên con đường văn chương. Như chúng ta đã biết, những hồ sơ, tư liệu về quá trình chiến đấu của các chiến sĩ Công an, về lịch sử hoạt động của lực lượng Công an, về các vụ án… rất đa dạng, phong phú và rất kỳ lạ. Có những cuộc đời, những số phận éo le không thể tưởng tượng nổi.

Nếu được khám phá, dựng lên thành tác phẩm nghệ thuật thì cuốn hút bạn đọc rất mạnh. Những cây bút trong Lực lượng Công an có điều kiện tiếp cận tư liệu đó hơn là các nhà văn ngoài lực lượng vì những tư liệu này được bảo quản một cách nghiêm ngặt, không phải ai cũng dễ dàng tiếp cận, tìm hiểu được".

Nhà văn Ngôn Vĩnh (thứ 2 từ trái qua) và các bạn văn tại Hội nhà văn Việt Nam.
Nhà văn Ngôn Vĩnh (thứ 2 từ trái qua) và các bạn văn tại Hội nhà văn Việt Nam.

"Cuộc chiến đấu bảo vệ Đồng Văn" sau này là cuốn "Bên kia cổng trời" là cuốn tiểu thuyết miêu tả cuộc chiến tranh đẫm máu giữa các tập đoàn quyền lực ở miền đất địa đầu Tổ quốc. Đây cũng là nơi lực lượng Công an và nhân dân chiến đấu quyết liệt với bọn phản động tàn ác để bảo vệ vùng đất thân yêu.

Nhà văn Ngôn Vĩnh chia sẻ, từ nguồn tư liệu có được trong suốt trong 6 tháng "nằm vùng" ở cao nguyên Đồng Văn, một vùng hoang sơ, rừng núi cao nguyên đá tai mèo trùng điệp, ông nhận ra rằng, đây là một mảnh đất lạ, lạ cả về thiên nhiên và con người. Câu chuyện về những cuộc đời ám ảnh ông khủng khiếp. Có những chuyện ngoài sức tưởng tượng của ông.

Chuyện về một ông "vua" người Mèo nhưng khác hoàn toàn với hình dung của nhà văn, không phải là một ông Vua như trong sách chính sử, ông "vua" Mèo học tiếng trường Pháp ở Hà Nội, giỏi tiếng Pháp, giỏi nhảy đầm, có 5 bà vợ, 5 người đàn bà đều "không ai kém ai" với những chuyện "hậu cung" với trò đổi con, "tranh ngôi đoạt vị".

Chuyện rất lạ về bà mẹ của người vợ thứ ba vua Mèo, quê Nam Định nhưng làm me Tây và có những mưu kế ghê gớm giúp con gái đoạt được ngôi "Hoàng hậu" của Vua Mèo không ai có thể nghĩ ra… Câu chuyện xử tử con chó lưu truyền cả xứ Mèo khiến không ai không tò mò khi lên với cao nguyên đá heo hút ấy.

Sau 6 tháng, nhà văn Ngôn Vĩnh bảo rằng, ông đã hiểu nhiều hơn sau khi đọc toàn bộ tài liệu về cuộc chiến đấu bảo vệ Đồng Văn. Ông cảm thấy nó có sức hút lạ kỳ. Về đến Hà Nội, nhà văn Ngôn Vĩnh viết liên tục trong vòng 6 tháng tại trụ sở Bộ Công an, 15 Trần Bình Trọng. Nằm bàn để viết, ăn bếp ăn tập thể, có những thời điểm, cần khung cảnh ban đêm, ông đóng hết cửa, dán báo xung quanh chụp đèn để tạo khung cảnh ban đêm để lấy cảm hứng.

Hồi đó chưa có gia đình nên nhà văn ngủ đêm luôn ở phòng làm việc trên một cái góc nhỏ. Ông sợ nếu đi ra ngoài những chuyện xung quanh có thể làm ảnh hưởng đến mạch cảm xúc. Ông viết liên tục. Mỗi ngày ông viết 12 tiếng đồng hồ, viết tay, được một chương lại đánh máy chữ để lưu giữ. Khi hoàn thành bản thảo, nhà văn Ngôn Vĩnh gửi để nhà văn Lê Tri Kỷ góp ý. Sau khi có ý kiến góp ý, ông tiếp tục lên Đồng Văn và hoàn thiện tác phẩm, mất 2 năm mới hoàn thành cuốn tiểu thuyết.

Nhà văn Ngôn Vĩnh chia sẻ, trong vòng mấy năm viết cuốn sách ông như được "lột xác" bởi rất nhiều câu chuyện đã xảy ra với chính ông. Ông đối diện với rất nhiều cảnh huống của cuộc sống nơi cao nguyên đá. Nhiều lần trong suốt thời gian viết cuốn sách, ông đi ô tô khách triền miên mà đường sá hồi đó thì không như bây giờ.

Ông và một đồng chí công an huyện Đồng Văn đi khắp các bản để tiếp xúc với dân. Có lần đi từ Hà Giang thì giữa đường ô tô phải dừng lại vì bị lở đường. Ông đã phải đi bộ cả ngày trời tầm 50 cây số. Nhưng thật may, nhờ đi bộ mới qua được cổng trời, mới biết cái cổng trời là một chương quan trọng của cuốn sách.

Từ "Cuộc chiến đấu bảo vệ Đồng Văn" đến "Bên kia cổng trời" là một quá trình dài khoảng 15 năm nay để cuốn sách được xuất bản công khai tới bạn đọc. Nhà văn Ngôn Vĩnh vẫn nói đùa rằng, cuốn sách của ông bằng cuộc đời chìm nổi lận đận của cô Kiều. Khi "Bên kia cổng trời" để phát hành công khai, ông đã thay tên nhân vật, lược bỏ một số hành vi của các nhân vật là cán bộ trong chính quyền ta có tham gia chỉ huy ngầm phỉ. Ông biết rằng sự thay đổi này thì tác phẩm kém một phần hấp dẫn so với tác phẩm trước nhưng điều này là cần thiết.

Ông tự ví mình như "người làm địa chất đi tìm quặng", dẫu không luyện quặng thành vàng như những nhà luyện kim tài ba thì mình luyện thành một hợp kim nào đó, có khi may mắn lại là một hợp kim lạ. Vì viết tiểu thuyết tư liệu nên tự nhủ phải chịu khó đào sâu tư liệu, tìm ra những tính cách, những tình huống éo le, những số phận thăng trầm, những biến cố kịch tính trong cuộc đời thật của họ rồi gọt giũa và lên trang viết, dù nó có mộc mạc, xù xì nhưng vẫn hấp dẫn bạn đọc.

Và trên thực tế, quá trình biến ghi chép ký sự sang tiểu thuyết tư liệu, là một việc thực sự rất khó. Với ông, hai yếu tố đặc thù của văn học tư liệu cần xử lý một cách khéo léo, đó là miêu tả sự kiện và con người trong khi thể hiện tác phẩm. Nếu nhà văn chạy theo sự kiện, say mê trình bày sự kiện thì sẽ biến tác phẩm của mình thành tác phẩm báo chí hoặc lịch sử, không còn là tác phẩm văn học nữa.

Ông coi trọng miêu tả con người với tâm trạng, tình cảm, hành vi của họ hơn là diễn tả sự kiện. Muốn diễn tả sự kiện thì chỉ cần đọc tư liệu là có, nhưng muốn miêu tả con người thì đọc tư liệu chưa đủ, mà phải "sống" với nhân vật. Sống ở đây theo nghĩa rộng, nghĩa là hiểu cuộc đời họ, có tình cảm, rung động, vui buồn cùng họ. Muốn thế thì sau khi đọc hồ sơ, tư liệu, phải đi thực tế, gặp gỡ nhân vật mà mình sẽ thể hiện hoặc những nhân chứng, nghe kể về cuộc đời của họ.

Khi viết tác phẩm, ông thường đi gặp nhiều người. Từ những câu chuyện họ kể, ông thu thập được nhiều chi tiết về cuộc đời và tính cách con người mà nếu không gặp, ông không thể nào tưởng tượng nổi.

Nhà văn, nhà báo Như Phong khi đọc cuốn tiểu thuyết "Cuộc chiến đấu bảo vệ Đồng Văn" và sau này là "Bên kia cổng trời" đã nhận xét: "Đây có thể gọi là cuốn tiểu thuyết tư liệu đầu tiên của Lực lượng Công an. Đối với cá nhân tôi, đây là một cuốn tiểu thuyết tư liệu mẫu mực, dù sau này có những cuốn khác cũng hấp dẫn, nhưng cuốn sách của nhà văn Ngôn Vĩnh đã ảnh hưởng rất lớn tới tôi. Thậm chí, vì mê cuốn sách mà sau này tôi đã lên cao nguyên đá Đồng Văn và đi đến tất cả những nơi mà nhà văn Ngôn Vĩnh đã đến và điều hay nhất là tôi thấy đi đến đâu cũng rất thân quen.

Sau này tôi mới phát hiện ra là nhà văn Ngôn Vĩnh miêu tả cực giỏi, miêu tả đúng và hay đến từng chi tiết. Bản thân tôi chịu ảnh hưởng rất nhiều từ cuốn tiểu thuyết này, và khi viết phóng sự tôi đã học được ở cuốn sách nhiều điều, từ việc lấy tư liệu, ghi chép. Điều này chứng tỏ sự lao động nghiêm túc của nhà văn trong việc lấy tư liệu và phát hiện chi tiết. Cho nên cuốn tiểu thuyết hay được là vì các nhân vật đều có tính cách, số phận kỳ lạ, sống động, kể cả nhân vật chính xuyên suốt hay là nhân vật phụ xuất hiện thoáng qua thì nó cũng đạt đến độ điển hình. Đây cũng là một cuốn tiểu thuyết tư liệu vừa đạt đến độ sâu sắc, đa dạng và đầy tính nhân văn".

Sau đề tài chống phản động trên cao nguyên Đồng Văn, nhà văn Ngôn Vĩnh được cử vào Tây Nguyên và Nam Trung Bộ viết tiếp về công việc chống bọn phản động FULRO của chiến sĩ ta sau ngày đất nước thống nhất.

Ông kể: "Khi đi viết về FULRO, tôi đã trải qua nhiều gian nan, vất vả. Tôi đi trên một địa bàn quá rộng, gồm 4 tỉnh: Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai - Công Tum (nay là hai tỉnh Gia Lai và Kon Tum), Thuận Hải (nay là hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận). Thời gian đi tròn một năm. Mỗi tỉnh tôi "nằm vùng" 3 tháng. Mà cứ 3 tháng tôi phải về Sài Gòn lĩnh lương một lần rồi lại tiếp tục lên đường. Thời gian này FULRO hoạt động rất mạnh, chúng thường xuyên gây ra những vụ tàn sát đẫm máu, giết cán bộ, giết nhân dân. Khi tôi về đến Đắk Lắk thì được biết cách đó mấy ngày, Y Thuyên (Phó ty Công an), A Ma Đoai (Trưởng Công an xã) vừa bị giết. Bên hông tôi lúc nào cũng kè kè khẩu súng K54, sẵn sàng chiến đấu".

Nhà văn Ngôn Vĩnh bảo rằng, ông biết ơn nhà văn Lê Tri Kỷ, chính nhà văn đã phát hiện, bồi dưỡng, động viên ông sáng tác. Tính cẩn thận, kỹ lưỡng của nhà văn Lê Tri Kỷ đã tạo cho nhà văn Ngôn Vĩnh thói quen từ những ngày đầu bước chân vào con đường văn nghiệp.

"Nếu không có nhà văn Lê Tri Kỷ thì tôi không có những tác phẩm như đã xuất bản và không trở thành nhà văn. Những anh chị Văn Phan, Tôn Ái Nhân, Phùng Thiên Tân, Thu Trang… đều do ông đào tạo, vun đắp mà trưởng thành. Ông không những đào tạo chúng tôi về sáng tác văn học mà còn về  nhân cách nhà văn, sống và viết thế nào cho nhân văn, tử tế, không bon chen, xu nịnh và độc ác với mọi người".

Cuốn tiểu thuyết "Bên kia cổng trời" của nhà văn Ngôn Vĩnh là một trong những cuốn tiểu thuyết ăn khách nhất trong những năm 80 với 4 vạn bản in cho lần đầu tiên và cho đến nay đã tái bản đến lần thứ 5. Sau này, nhà văn Ngôn Vĩnh được điều về làm Phó Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân (năm 1988). Sau đó ông lên làm Tổng Biên tập Báo CAND, đến năm 2004 thì nghỉ hưu.

Ông là một trong những nhà văn chăm chỉ với bàn văn. Ở vào tuổi thất thập cổ lai hy, nhưng vẫn ngày ngày đến văn phòng Chi hội Nhà văn Công an (100 Yết Kiêu, Hà Nội) nơi ông làm Phó Chủ tịch thường trực để tiếp đón, đàm đạo với các đồng nghiệp, bàn chuyện văn chương, nhân tình thế thái…

Trần Hoàng Thiên Kim

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.