Nhà văn Ma Văn Kháng: Miên man ký ức Tết

Cả một đời làm nghề và say nghề, nhà văn Ma Văn Kháng đã đi vào dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại như hình bóng một cây đại thụ. Và những câu chuyện của ông, kể cả đã đi vào trang sách hay chỉ đơn giản là một câu chuyện trong lúc trà dư tửu hậu, cũng là một bài học về nhân sinh, về cuộc đời mà ông đã trải nghiệm, đã đi qua…

Những ngày tết đối với ông bây giờ là những ngày tháng đầy chiêm nghiệm. Ông ngồi đó, giữa căn phòng gọn gàng, ngăn nắp và đầy ấm áp nhìn ngắm sự trưởng thành của những đứa cháu nội ngoại. Đôi khi ông cười hiền với những nghịch đùa trẻ thơ. Không biết ông đang nghĩ gì nhưng tôi cảm thấy ông đang thật sự thảnh thơi trong những ngày đón chào năm mới, dù bên cạnh ông là cơ man thuốc cho đủ mọi loại bệnh tật trong người.

Cả một đời làm nghề và say nghề, nhà văn Ma Văn Kháng đã đi vào dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại như hình bóng một cây đại thụ. Và những câu chuyện của ông, kể cả đã đi vào trang sách hay chỉ đơn giản là một câu chuyện trong lúc trà dư tửu hậu, cũng là một bài học về nhân sinh, về cuộc đời mà ông đã trải nghiệm, đã đi qua…

1. Vẫn luôn là cái hóm hỉnh đầy tinh tế, vẫn là sự khéo léo đầy trìu mến, vẫn là sự ân cần đầy chân tình, nhà văn Ma Văn Kháng luôn là một người không bao giờ làm mất lòng ai.

Nửa thế kỷ cầm bút với gần 20 cuốn tiểu thuyết và hơn 200 truyện ngắn, nhà văn Ma Văn Kháng đã đi vào lịch sử văn học Việt Nam như một biểu tượng của cuộc đời lao động viết văn không mệt mỏi. Những tác phẩm của ông đã đi vào dòng chảy văn học Việt Nam với những dấu ấn đậm nét: “Mùa lá rụng trong vườn”, “Đồng bạc trắng hoa xòe”, “Một mình một ngựa”, “Bóng đêm”, “Bến bờ”, “Chuyện của Lý”…

Cho đến nay, trong chồng bản thảo dày cộp ông đang lưu giữ, vẫn còn có nhiều tác phẩm dở dang cần hoàn thiện, nhưng ông vẫn đang xếp vào một góc bởi sức khỏe không cho phép.

Ông thủng thẳng: “Cụ Nguyễn Tuân, văn sĩ bậc nhất nước ta có nói một ý rất hay: Sống tích cực có nghĩa là phải viết nó lên trang giấy. Thế là tôi nổi nhiều cơn hứng bất tử. Chẳng hạn như năm 2009, sau khi viết xong tiểu thuyết “Một mình một ngựa” tôi bị ốm một trận dài và phải vào nằm viện điều trị. Tuổi đã cao, lại mang bệnh trọng nên ra viện thì đành tặc lưỡi: Thôi, đã đến lúc kết thúc mọi dự định viết lách được rồi. Nhưng rồi, rốt cuộc hóa ra cũng không phải. Văn chương là cái quái gì mà nó quyến rũ mê mẩn, nó như ma ám quỷ giục người ta thế! Thành ra, động mạch vành bị tắc, đã đặt vào đó 3 cái stent (giá đỡ) rồi, vậy mà, ngồi dậy được, nhúc nhắc chân tay được, là lập tức lại tìm đến trang giấy, cái bút. Sau đó vẫn có 3 cuốn thiểu thuyết khác lần lượt ra đời…”.

2. Nhà văn Ma Văn Kháng là người sống với nhiều hoài niệm, đặc biệt là những ngày Tết cận kề, phố xá ngược xuôi với rất nhiều đổi thay giao mùa. Trong cái đủ đầy, ông thường nhớ đến những cái tết thời còn gian khó, thiếu thốn.

Cứ độ hai mươi tháng Chạp, chưa đến tết ông Công ông Táo, mậu dịch đã dựng rạp bán lá dong, và các cửa hàng đã căng băng đỏ dán chữ vàng quầy hàng bán Tết, thế là Tết đã về.

Đối với thời ấy, Tết, đó là những ngày thật đặc biệt, là một khoảng thời gian tách ra khỏi chuỗi ngày bình thường đều đều.

Tết đến trong tâm tư rộn ràng của mỗi người, trong niềm vui sum họp, trong những cảm xúc thiêng liêng, trong phấp phỏng hy vọng, trong khắc khoải chờ mong một cái gì đó thật mơ hồ và vô cùng đẹp đẽ.

Ông đã công tác ở Lào Cai 24 năm, cả một năm trời xa cách gia đình, trừ những năm tháng chiến tranh ác liệt, còn thì những ngày Tết đều cố gắng tranh thủ về sum họp cùng vợ con. Từ Lào Cai về Hà Nội hơn 300 cây số, chỉ có mỗi con đường sắt được khôi phục sau hòa bình lập lại 1954.

Kỷ niệm nhớ nhất là những ngày đêm chen chúc và hăm hở trên các toa tàu đông ken, đầy than bụi, đường tàu luôn bị ngắt quãng vì máy bay Mỹ đánh phá, để trở về ăn Tết với họ hàng gia tộc quê hương.

Rồi sau đó là những đêm bịn rịn chia tay vợ con, lên tàu trở về nơi công tác. Lên đường, nhớ thương hòa trộn với khát vọng mãnh liệt giục giã ở nơi chân trời xa, cái Tết nó như là một khoảng lặng, một dấu mốc, một cuộc lên đường mới.

Nói đến Lào Cai, nhà văn Ma Văn Kháng kể lại chuyến lên đường định mệnh đã gắn bó ông với mảnh đất miền núi đầy yêu thương ấy. Mảnh đất đã mang lại cho ông một cái tên, một sự nghiệp văn học lẫy lừng: “Hôm ấy đã là hai mươi chín tháng Chạp, sắp đến Tết Ất Mùi. Xung quanh đã rộn ràng không khí đón xuân. Vậy mà cả đoàn không một ai nghĩ đến cái Tết và gia đình. Chỉ một hăm hở hướng về cái đích phải tới, nơi lập nghiệp, nơi thử thách ý chí trai trẻ.

Ngày đầu tiên đi bộ chúng tôi tới Báo Đáp. Nắng hanh vàng rười rượi trên các khu đồng đã gặt. Ngày thứ hai chúng tôi qua một chặng đường nữa, tới Trái Hút, bắt đầu xâm nhập vào miền rừng Tây Bắc. Núi non xanh đằm ngờm ngợp, mịt mùng.

Tìm một nhà dân bên đường, chúng tôi xin vào ở nhờ và nấu ăn. Đồng bào đón tiếp rất niềm nở, vẫn là cái nền nếp có từ kháng chiến: Bộ đội, cán bộ đi công tác, đến nhà dân nào cứ việc vào chào hỏi và xin ăn ở là được. Không bao giờ có sự từ chối và tính đếm. Không ngờ, chiều đó cả đoàn lại được đồng bào cho ăn cỗ 30 Tết!

Bất ngờ nữa là sáng hôm sau, còn tinh mơ, ông Chủ tịch xã đi mời cả đoàn ra dự mít tinh đón năm mới, hát Quốc ca. Bịn rịn, ra đi không được vì bà con nhất quyết giữ, thế là chúng tôi phải ở lại đây ăn Tết mồng Một với dân làng.

Hôm sau, mồng Hai Tết chúng tôi lên đường đi Bảo Hà. Từ đây, đường là đường mòn trên nền đường sắt cũ đã bóc dỡ trong tiêu thổ kháng chiến từ năm 1946. Tràn lấn ra mặt đường là lau lách cỏ dại, hoang vu, vắng vẻ.

Con đường nhỏ mờ mờ ẩm ướt gập ghềnh, len lỏi. Thi thoảng mới lại gặp một vài cán bộ đi bộ, dắt xe đạp. Xe đạp đi được đoạn nào thì tranh thủ đi, không là dắt. Sau này nhiều lần tôi đã đi xe đạp từ Lào Cai về Yên Bái và ngược lại.

Muốn đi xe đạp được đoạn đường này phải biết bơm và vá xe lấy. Vì hiệu sửa xe không có. Gặp lúc săm bị thủng, phải tự móc lốp tìm chỗ thủng rồi thay vì đánh giấy ráp, bôi nhựa vá, phải kiếm lấy con nhái lột da nó ra làm thành miếng vá, áp vào chỗ thủng hoặc giả phải lấy kìm kẹp chỗ săm thủng kéo dài ra, rồi lấy chỉ quấn thít thật chặt chỗ đó lại... Đó là những năm tháng gian khổ nhưng đầy niềm vui, đầy sự háo hức, niềm tin và lạc quan tuổi trẻ”.

Cũng tại mảnh đất này bút danh Ma Văn Kháng đã ra đời. Có người nghĩ rằng, đó là một cuộc “hóa thân” của ông, nhưng nhà văn Ma Văn Kháng khẳng định bút danh đó chỉ là một sự tình cờ.

Ông kể: “Hồi ấy, trong những ngày làm công tác thuế nông nghiệp ở vùng đồng bào dân tộc, tôi quen anh Ma Văn Nho. Anh Nho người Kinh, quê ở Ấm Thượng, Yên Bái. Vùng ấy, có một dòng họ Ma là người Kinh, là Phó Chủ tịch kiêm Phó Bí thư Huyện ủy Bảo Thắng.

Trên vai anh toòng teng cái túi vải xanh trong đựng xấp công văn tài liệu mà chẳng mấy khi thấy anh giở ra xem. Quan trọng trong ấy có lẽ chỉ là mấy cuốn sách giáo khoa toán lớp 5, đi đâu anh cũng mang theo sách để học.

Anh học thật sự chứ không phải học vì phong trào, học lấy mẽ. Đồng bào gọi anh là “Pú Nho! Pú Nho”.

Anh có khả năng trò chuyện thân mật nên bà con bảo: “Pú Nho nói có hơi giọng dài, nghe rất dễ hiểu. Hơn là cán bộ Kháng nói còn khó hiểu”.

Thôi thế là tôi tìm thấy thần tượng sống động của tôi rồi. Một cán bộ xông pha trong phong trào, một con người khiêm nhường nhưng tiềm ẩn bên trong cái khí lực của cả khối quần chúng công nông, cái hơi thở mạnh mẽ, sâu bền của đời sống cần lao.

Làm thuế nông nghiệp ở Tùng Tung ít lâu thì căn bệnh sốt rét tôi mắc từ thời ở Việt Bắc, những tưởng đã tiệt nọc sau mấy năm ở Trung Quốc, tái phát.

Sốt rét trong hoàn cảnh ở thôn xóm đồng bào dân tộc làm gì có thuốc thang. Thấy tôi nằm liệt mấy ngày, anh Ma Văn Nho liền tức tốc đi vào Cam Đường, tìm gặp ông Sơn, một y tá từ thời Pháp. Ông Sơn tiêm cho tôi hai ống Quinofort de la croix, bệnh dứt hẳn.

Anh Ma Văn Nho đã là thần tượng của tôi, nay còn là ân nhân của tôi Tôi kết nghĩa anh em với anh và đổi sang họ Ma - Ma Văn Kháng. Cái tên Ma Văn Kháng có xuất xứ là thế, chứ không phải là bút danh đặt ra cho nó có màu sắc miền núi khi bắt đầu sáng tác văn học”.

Nói về chuyện Tết, nhà văn Ma Văn Kháng chia sẻ rằng, có những cái Tết trong cuộc đời khiến người ta không bao giờ quên được, dù có bao nhiêu sự kiện đã đến, đã xảy ra: “Tôi nhớ da diết chiều hôm ấy, 29 Tết Quý Hợi, tôi ngồi cắn bút, vẳng nghe tiếng pháo từ phố phường xa xa vọng về. Gió rét căm căm. Tôi ngồi co ro ở căn buồng trong.

Một lát, cửa mở, ào vào ba cái măng tô-san và rộn lên tiếng phụ nữ nói cười. Vợ tôi và hai bà chị dâu, chị Nguyễn Thị Liên vợ anh Đinh Trọng Lạc, chị Nguyễn Kim Thành, vợ anh Định Trọng Cảng, đi chợ Tết về. Ngổn ngang trên sàn, rối tinh rối mù là mứt, bánh, kẹo, măng, miến, mộc nhĩ, nấm hương, bánh đa nem, đậu xanh, mì chính, hạt tiêu... toàn những thứ mua bằng tem phiếu, như một bức tranh tĩnh vật đủ màu sắc tết nhất!

Chà, còn gì vui bằng đi chợ Tết! Còn gì thích hơn là được nghe các chị tíu tít chuyện trò về giá cả chợ búa tết nhất! Và thế là ý nghĩ đầu tiên về cuốn tiểu thuyết về đề tài gia đình đã được sinh thành. 30 Tết Quý Hợi, tức 12/2/1983, tôi bắt tay vào viết cuốn “Mùa lá rụng trong vườn”.

Viết hối hả trong cả mấy ngày Tết. Những gì đã có, tưởng như đã chìm đắm vào lãng quên mà hóa ra không phải, chúng vẫn còn ở đâu đó trong ký ức, chỉ cần khẽ cất lời huy động là lập tức có mặt, hiện lên thành câu thành chữ trên trang viết ngay.

Sau Tết, từ ngày 1/3/1983, công việc theo đà tăng tốc đến chóng mặt. Cuối tháng 6/1983, tôi nộp bản thảo đầu tiên cho Nhà xuất bản Phụ nữ”.

Nhiều người nói rằng, sống đã rồi mới viết, với nhà văn Ma Văn Kháng, đời sống và đời viết là một cuộc song hành. Bởi vậy ông thích triết lý của Khổng Tử, ông thánh của đạo Nho: “Ta, lúc 15 tuổi đã để chí học hành. 30 tuổi đã đứng vững. 40 tuổi nhận thức không lầm lẫn. 50 tuổi mới hiểu được mệnh trời. 60 tuổi thuận lợi mọi điều. 70 tuổi tự do hành động mà không trái phép tắc quy luật”.

Nhà Văn Ma Văn Kháng đã ở tuổi ngoài 70 và ông vẫn đang tận hưởng những mùa xuân của đời mình những ngày tròn vẹn nhất...

Trần Hoàng Thiên Kim

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.