Nhà văn Lê Lựu và cội nguồn của văn chương

Lê Lựu thuộc lớp nhà văn chống Mỹ. Nhưng suốt cuộc chống Mỹ cứu nước, anh còn khiêm tốn đứng trong đội ngũ với nhiều nhà văn cùng lứa. Nói cách khác, hai mươi năm đầu cầm bút của anh chỉ đủ để mọi người biết đến có một nhà văn Lê Lựu.

Truyện của Lê Lựu xuất hiện đều đều như nhiều người khác, và bạn đọc cũng lúc nhớ lúc quên anh giống như với nhiều nhà văn khác. Nếu chỉ có thế thì với thời gian trôi đi, Lê Lựu sẽ không để lại gì. Nhưng anh khác nhiều người: ngoài cái trình làng, cái bày bán chứa đựng chín phần tài sản của mình bao giờ anh cũng giữ lại một phần không phải là phần tinh chất, nhưng lại là phần mà anh đem hòa ghép với những phần anh giữ lại khác, theo thời gian thì trở thành một thứ hàng khác hẳn, có giá cao, vẫn là của anh nhưng lại không phải là anh trước đó nữa, hay chính mới thực là anh? Từ thời đổi mới, Lê Lựu đã trở thành một nhà văn khác. Nói theo cách nói của quân đội thì hai mươi năm đầu cầm bút, Lê Lựu chỉ là một người lính, dù người lính ấy có lúc được biểu dương, được mọi người biết đến, được khen thưởng, nhưng vẫn là người lính thường; những năm tiếp sau anh là một sĩ quan chững chạc, lúc được khen lúc bị chê, nhiều khi bình lặng âm thầm, lại có khi bị khiển trách trước hàng quân, nhưng anh vẫn là một sĩ quan già dặn, hễ nhắc đến là mọi người đều nể, vào các cuộc hội họp làng văn anh đã có một chỗ ngồi riêng.

Lê Lựu sinh ngày 12/12/1942 tại một làng ngoài đê sông Hồng, xã Tân Châu, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên, trong một gia đình nông dân bình thường như mọi gia đình nông dân Việt Nam vùng đồng bằng Bắc bộ khác. Xã Tân Châu là một vùng quê nghèo. Không chỉ xã Tân Châu, mà cả huyện Khoái Châu trước đây đều nghèo. Những vụ lúa thường không đủ nuôi người, người dân phải trồng thêm củ đao củ đót chống đói tháng ba. Câu ngạn ngữ xưa "Oai oái như phủ Khoái xin tương" đủ để hình dung về cái nghèo của cả vùng quê ấy. Thêm nữa, cái làng của Lê Lựu lại ở ngoài đê, trước đây dòng sông Hồng chưa được trị thủy, về mùa nước lên, năm nào nước cũng dâng to gây ngập lụt. Những năm Cách mạng chưa thành công, đê Châu Giang vỡ 18 năm liền... Nói thế để chúng ta hình dung làng quê của Lê Lựu tuy có nét riêng nhưng khá điển hình cho làng quê tỉnh Hưng Yên.

Lê Lựu lớn lên giữa lúc "Dân có ruộng dập dìu hợp tác". Tất cả những niềm vui và nỗi buồn của làng quê thời kỳ ấy anh đều chứng kiến. Bản chất là một nông dân mặc áo lính, anh luôn luôn nghĩ về quê hương, chú ý đến những gì liên quan đến người nông dân và nông thôn. Nông thôn và người nông dân là cội nguồn, là quê hương văn chương của anh từ tác phẩm đầu tiên đến tác phẩm anh viết gần đây nhất, dẫu cả đời anh lại gắn bó với quân đội, ăn lương của quân đội và làm việc cho quân đội.

Lê Lựu rời ghế nhà trường bước vào quân đội từ đầu những năm sáu mươi, lúc đó phong trào "Ba nhất" đang hừng hực khí thế. Tuổi trẻ háo hức, từ một cậu bé được hòa vào không khí thi đua của công-nông-binh toàn miền Bắc, Lê Lựu lao vào công việc, sống và tìm hiểu cuộc sống quân đội. Cảm hứng về sự thay đổi của miền Bắc và của cá nhân anh đã thôi thúc anh cầm bút ghi lại những điều mình thích, nói lên những điều mình muốn nói với mọi người, với cuộc đời. Năm 1964, anh trình làng cái truyện ngắn đầu tiên: "Tết làng Mụa". Tiếp theo là các truyện "Trong làng nhỏ", "Người cầm súng"... Lúc  đầu anh làm báo ở quân khu III. Sau đó, là phóng viên báo, công tác tại mặt trận đường dây 559 Trường Sơn thời kỳ chiến tranh. Do vậy, Lê Lựu được đi nhiều, biết nhiều, vừa mở rộng tầm mắt, vừa tăng thêm vốn sống thực tế. Anh có thêm mảng đề tài mới là cuộc sống chiến đấu của người chiến sĩ quân đội. Với bản chất chân thật và giản dị, Lê Lựu dễ hòa vào đời sống người chiến sĩ, tìm hiểu tâm tư và sinh hoạt của họ, một cách tự nhiên, không bị che chắn bởi một hàng rào ngăn cách nào... Anh là một người lính nông dân mà chín phần mười những anh bộ đội là từ nông dân mà ra. Họ cũng chính là anh, mà anh cũng chính là họ. Nên trong những trang viết của anh, mọi người vẫn thường bảo anh là nhân vật chính. Nói thế cũng có thể đúng mà cũng có thể không đúng. Bởi anh là một mảng của bức tranh có cùng chất liệu, dù mỗi mảng một khác. Đây là điều kiện quan trọng để tác giả viết tác phẩm thành công. Đó là viết về những gì mình từng sống. Chỉ nói những điều mình biết, mình hiểu sâu sắc, khi cầm bút là nhân vật và sự kiện hiện lên trước mặt; khác với những nhà văn đi thực tế, họ chỉ nhìn thấy, nghe thấy, kể cả sờ thấy chứ không thật hiểu, nếu có hiểu thì nhiều nhất cũng chỉ được chín phần, còn một phần không hiểu. Chính cái một phần không hiểu kia dễ biến tác phẩm của họ thành giả cả.

Sau chiến tranh một thời gian, Lê Lựu về làm ở tòa soạn tạp chí Văn nghệ Quân đội trong nhiều năm. Lúc làm biên tập, khi đi sáng tác, với quân hàm đại tá, là một sĩ quan của làng văn, nhưng anh vẫn là một người lính binh nhì trong đời thường: xuề xòa, chân thật, hồn nhiên và cởi mở... Có lẽ đó là nguồn lực giúp anh không khô khan trong sáng tác chăng? Cuộc sống riêng tư của Lê Lựu cũng không bình lặng như mọi người mà phần nhiều là do hoàn cảnh. Anh lấy vợ lần đầu ở làng quê, hai người có con chung, sau nhiều năm mới ly dị được. Người vợ thứ hai ở thành phố, nhưng cuộc sống cũng không bình lặng hơn. Khó có thể nói anh gặp may hay không gặp may trong đời riêng. Chỉ biết rằng, chính cái cuộc sống riêng của anh đã cho anh những trang viết có giá trị. Chính nó cũng là một trong những nội lực để chúng ta có nhà văn Lê Lựu.

Gần nửa thế kỷ cầm bút, với hai chục tập sách, số lượng tác phẩm của Lê Lựu thuộc dạng trung bình. Anh viết không khoẻ, có lẽ vì thận trọng, chứ cái vốn sống của anh có thể cho anh viết được nhiều hơn nữa. Lê Lựu khi vui đùa vẫn thường nhận mình là nhà văn ít học. Đến nay trình độ văn hóa và học vấn của anh cao, chủ yếu là tự học. Nói cho cùng cũng đúng, trong nghề viết văn có ai dạy cho anh, có ai dạy được anh. Anh có năng khiếu bẩm sinh, cuộc sống làng quê và người chiến sĩ đã giúp năng khiếu văn chương của anh phát triển. Văn anh có giọng riêng, có duyên riêng. Văn anh không rành rẽ, không mạch lạc, nhưng có một chất nhựa gì đấy ở bên trong. Nhiều khi cả đoạn cả trang cứ thùng thình mà người đọc vẫn thấy thích, không ai chê, vì người ta biết đấy là văn tự nhiên của riêng anh, chứ không phải là anh làm văn mà chê anh về văn phạm. Về điểm này, Trần Đăng Khoa đã có nhận xét đúng: "Văn Lê Lựu cuốn hút, đọc không nhạt. Ngay cả những truyện vào loại xoàng xoàng, người đọc vẫn thu lượm được một cái gì đấy, có khi là một chi tiết, một đoạn tả cảnh, hoặc một nét phác họa tính cách nhân vật"... Có lẽ đây là điểm đầu tiên để bạn đọc đến với Lê Lựu từ những truyện ngắn đầu tiên, chưa có nghệ thuật gì lắm về kết cấu, xây dựng nhân vật và vấn đề được nêu ra. Nghĩ cho cùng, ở mỗi nhà văn cũng vậy, mỗi người phải có một chất văn riêng, rồi từ đó mới trồng cây đâm hoa và đậu quả. Không có cái chất văn như nhựa tươi nồng ấy thì dẫu cây to mấy cũng thành củi khô. Mà cái chất văn riêng ấy thì không thể học được. Lê Lựu không học mà thành nhà văn là vì vậy.

Nói đến Lê Lựu là người ta nói đến "Thời xa vắng", tác phẩm đưa anh trở thành sĩ quan trong làng văn. Cuốn sách ra đời năm 1986, sau khi kết thúc cuộc chống Mỹ mười một năm. Mười một năm, mọi người còn say sưa với thắng lợi, tiếp tục viết về cuộc chống Mỹ theo quán tính cũ. Lê Lựu cũng viết về chống Mỹ nhưng anh biết lùi lại giấu mình mà ngẫm nghĩ. "Thời xa vắng" cũng trong dòng văn chương viết về chiến tranh cách mạng nhưng là tác phẩm có giá trị hiện thực, sâu sắc. Do hoàn cảnh lịch sử văn chương trở thành một vũ khí trực tiếp chiến đấu, nên các giá trị khác không khỏi có phần non yếu. Phần lớn các tác phẩm văn chương thời kỳ này làm xong nhiệm vụ thì trôi đi, nhưng "Thời xa vắng" thì đọng lại. "Thời xa vắng" viết về hậu phương miền Bắc trong cuộc chống Mỹ cứu nước với cả cái vui và cái buồn, cái nồng nhiệt và sự non nớt, những quầng sáng và những bóng mờ, có cả nụ cười và nước mắt....

Nhân vật chính của tiểu thuyết "Thời xa vắng" là anh nông dân Giang Minh Sài, từ tuổi ấu thơ, qua thời kỳ bộ đội, rồi thành một chuyên viên cấp bộ. Giang Minh Sài nhìn bề ngoài là thành đạt, nhưng thực ra cuộc đời anh là một bi kịch vì anh không sống cuộc sống chính mình mà là sống theo sự điều khiển của người khác. Anh yêu Hương, một tình yêu thật đẹp của tuổi trẻ học trò nhưng không lấy được Hương, để suốt đời ân hận. Anh lấy Tuyết là do người khác sắp đặt để tiến bộ, có con với Tuyết cũng là để tiến bộ, là chấp hành tổ chức để được kết nạp Đảng. Thực ra Giang Minh Sài không có gì sai, tổ chức cũng không có gì sai, mọi người đều nghĩ tốt và làm việc tốt. Nhưng cái "Thời xa vắng" ấy, nhiều việc tốt có tính chất khuôn mẫu cứng nhắc ấy vô tình đã để lại hậu quả xấu, mà nhìn bề ngoài mọi người vẫn tưởng là tốt đẹp.

Sự độc đáo của chủ đề, với những trang viết đầy ắp chất liệu thực, không tô hồng nhưng cũng không nhìn hiện thực bằng con mắt màu xám, mà khách quan sâu sắc, và một giọng văn thùng thình có kết dính, tạo hấp dẫn riêng, "Thời xa vắng" đã đưa Lê Lựu lên trên những nhà văn cùng lứa viết về đề tài chống Mỹ và bước đầu chuyển sang xây dựng thời bình.

Từ truyện ngắn xuất hiện đầu tiên (1964), đến nay Lê Lựu đã viết văn liên tục gần nửa thế kỷ. Nhiều nhà văn chỉ nổi tiếng với một tập sách, thậm chí chỉ một truyện ngắn. Lê Lựu thì đã có tới ba tập có tiếng: "Người về đồng cói", "Thời xa vắng" và "Chuyện Làng Cuội", trong đó "Thời xa vắng" là một đỉnh cao

Đ.Q.T.

Các tin khác

Âm nhạc không đơn thuần chỉ là giải trí

Âm nhạc không đơn thuần chỉ là giải trí

Trong bối cảnh đời sống âm nhạc đang bị chi phối bởi nhiều chương trình giải trí, nhạc sĩ Dương Cầm lại chọn một con đường khó, ra mắt chuỗi chương trình mang tên “Phòng khách 3 thế hệ”, với mong muốn kết nối các thế hệ trong một gia đình bằng âm nhạc. Theo anh, “nghệ thuật nói chung hay âm nhạc nói riêng không đơn thuần chỉ là giải trí, mà nó còn có sứ mệnh mang đến cho con người khát khao được yêu thương, gắn kết. Đó là bản chất của nghệ thuật”.

“Mật mã Đông Dương”: Phim tình báo tái xuất màn ảnh rộng

“Mật mã Đông Dương”: Phim tình báo tái xuất màn ảnh rộng

“Mật mã Đông Dương” - bộ phim lịch sử - tình báo được lấy cảm hứng từ một số chuyên án trong hơn 25.000 bộ hồ sơ chiến sĩ tình báo viên Việt Nam sẽ được Điện ảnh CAND sản xuất trong thời gian tới. Không chỉ là món quà tri ân sự hy sinh thầm lặng của lực lượng tình báo CAND, bộ phim còn ghi dấu sự “tái xuất” màn ảnh rộng, sau gần 40 năm vắng bóng của đề tài tình báo - một trong những chất liệu đặc biệt và khó khai thác nhất của điện ảnh Việt Nam.

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.