Nhà thơ Hoàng Trần Cương: Vuốt nỗi nhớ cồn cào xuống ngực…

Căn nhà chung cư của gia đình nhà thơ Hoàng Trần Cương rộn ràng tiếng trẻ nô đùa. Các cháu nghỉ hè vui vầy bên ông bà nội. Vợ ông, cô Chè, dịu dàng dắt ông đi tập tễnh. Người phụ nữ tần tảo một đời lặng lẽ bên người chồng, nguyên Tổng biên tập Thời báo tài chính, một nhà thơ nổi tiếng, một anh thương binh đầy ồn ào, đôi khi nóng tính như lửa.

Nhà thơ Hoàng Trần Cương là người lính đi qua chiến tranh, là thương binh ở chiến trường Quảng Trị, trở về sau hòa bình, ông là một trong những người thành đạt.

Có vị trí xã hội, nhưng trên hết, ông có những trang thơ đầy dư ba về cuộc chiến đã đi qua, về những người lính, về đồng đội, và về khát vọng của một người con sau hòa bình "Mẹ ơi/ Con đâu dám cầu xin chi nhiều/ Sau chuỗi ngày chinh chiến/ Sau chuỗi ngày rụng rơi như bồ hóng/ Những năm tháng hỏa lò không sót lại muội than/ Cho con xin vỏn vẹn một ngày/ Trải lá chuối lên xó vườn rậm cỏ/ Nằm dang tay chân/ Để nghe gió thì thào to nhỏ/ Để dõi theo mây núi trắng ngần/ Để nỗi nhớ lần về tận ngõ/ Theo chuyến đò ngang/ Dụi mắt/ Đỏ chân trời...".

Thơ và đời

Từ ngày bị tai biến mạch máu não, nhà thơ Hoàng Trần Cương mới có dịp... ở nhà nhiều đến vậy. Giờ đây, cơ thể ông gầy và yếu đi nhiều, dù ông vẫn minh mẫn và tỉnh táo đến từng chi tiết của cuộc đời, vẫn nặng nghĩa ân tình hỏi thăm hầu hết những người quen cũ. Sau cơn tai biến, ông miệt mài với những tháng ngày vật lý trị liệu để mong muốn cơ thể lại được một phần sức như vóc ngày xưa, một Hoàng Trần Cương khỏe mạnh, uống bia không biết say, đọc thơ không biết mệt, làm thơ không cần cảm hứng vì thơ cứ thế như trầm tích ùa ra đầu ngọn bút. Bạn bè vỗ tay, đồng nghiệp, lính tráng tán tưởng, chúc tụng.

Thơ ca mang đến cho ông nhiều thứ, các giải thưởng danh giá, cả nước biết đến tập trường ca "Trầm tích", ai cũng nể vì khả năng thuộc thơ và làm thơ không cần chỉnh sửa của nhà thơ Hoàng Trần Cương. Nhiều bài thơ, nhiều câu thơ hay của ông ra đời trong quán nhậu, lên mặt báo và đi vào tập thơ của ông như một dấu ấn không thể mờ phai...

Nhà thơ Hoàng Trần Cương quê ở Đặng Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Ông thuộc dòng dõi họ Mạc, là hậu duệ đời thứ 29 của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi. Trong căn nhà thờ họ ở quê hương, được ghi danh di tích lịch sử quốc gia (năm 1996) gia đình ông vẫn ghi danh đầy đủ tiểu sử của dòng họ Mạc.

Ông kể lại: Tháng 8 năm 1970, khi đang học dở năm cuối Đại học Tài chính - Kế toán, Hoàng Trần Cương đi bộ đội, trực tiếp chiến đấu tại các chiến trường miền Nam, miền Trung và cả chiến trường Lào. Ông là pháo thủ pháo cao xạ thuộc biên chế Sư đoàn phòng không 367 và 375 quân chủng Phòng không - Không quân. Ông bị thương trong kháng chiến chống Mỹ. Tháng 10 năm 1975, ông chuyển ngành về Bộ Tài chính.

Ông là "dân" tài chính "thứ thiệt", là chuyên viên cao cấp và có thâm niên trên 15 năm làm kế toán trưởng Báo Nông nghiệp Việt Nam và Thời báo Tài chính Việt Nam, nguyên là Tổng Biên tập Thời báo Tài chính Việt Nam, Chủ tịch Liên chi hội báo chí ngành Tài chính. Dù vậy, nhưng ông luôn thừa nhận, thứ giúp ông "sống" được đến ngày hôm nay lại chính là thơ. Ông đến với văn chương khá sớm và từng được giải A về văn xuôi đề tài lực lượng vũ trang (1970-1972) của Tạp chí Văn nghệ quân đội; giải Nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam (1989-1990).

Nhưng phải đến trường ca "Trầm tích", nhà thơ Hoàng Trần Cương mới thực sự tìm được chính mình. "Trầm tích" ngay sau đó đã đoạt được giải thưởng văn học (giải B, không có giải A) của Hội Nhà văn Việt Nam năm 2000. Nhiều người nói với Hoàng Trần Cương rằng giữa những con số khô khan và những câu thơ thoát ra từ trái tim nồng cháy không thể cùng một đáp số chung?

Nhưng nhà thơ Hoàng Trần Cương đã trả lời rằng, ông sinh ra và lớn lên ở một miền quê thương khó. Trải qua những năm tháng gian nan của đất nước, có mùa thu, có lửa đỏ và những cam go, nghiêng lệch hình hài, với ông, hình như những con số và những câu thơ không phân định ranh giới, mà cùng song hành.

Ở vào thời khắc trời cho ấy, khi một tứ thơ bật sáng, ở trong ông chỉ còn lại những gương mặt người, những số phận thấm đẫm hứng chịu và khát vọng cồn cào không chịu nằm yên. Gập cuốn sổ kế toán lại, gấp lại những nỗi lo thường nhật, ông lặng lẽ lục tìm tờ giấy trắng, khoảnh khắc ấy chỉ còn lại nàng thơ với bộ mặt khó đăm đăm, những con số biến mất, những câu thơ quằn quại bò ra...

Thơ ông là những khúc hát về miền Trung đầy thương khó, về mẹ quanh năm lam lũ nhọc nhằn: "Ôi quê hương/ Cái đòn gánh trĩu hai đầu đất nước/ Gió bão thù chi với mảnh đất này/ Nối đuôi nhau xếp hàng ngang đen sì ngoài biển/ Mưa giờ Ngọ chưa qua gió giờ Mùi đã đến/ Cay đắng lắng vào trái ớt lúc còn xanh/ Đất vắt kiệt mình nước mọng múi chanh/ Ngửng mặt nhìn trời xanh nhức mắt/ Dằng dặc dải làng quê thưa thắt/ Tảng cháy cạy đi rồi/ Còn hằn vết móng tay/ Cạy lên/ Sưng cả đáy nồi"...

Trầm tích của cuộc đời

Tôi có nhiều dịp được gặp và ngồi cùng ông trong những buổi chiều sau giờ công sở. Cả khi ông đang là một ông Tổng Biên tập Thời báo Tài chính đầy oai phong, cả khi ông nhận quyết định về hưu. Vẫn là ở một quán bia với những cốc bia hơi sủi bọt trên bàn, nhưng cái khác rõ rệt, là khi ông về hưu, vắng hẳn. Không bạn hữu chúc tụng. Chẳng lính tráng tung hô.

Bìa tập trường ca "Trầm tích".
Bìa tập trường ca "Trầm tích".

Ông ngồi một mình, đầu đội chiếc mũ lưỡi trai đã cũ. Ông nhắm bia với đĩa lạc, cạnh góc bàn là một túi xách nhỏ đựng thuốc lá, bút viết và vài mẩu giấy. Những thứ đó, dường như không bao giờ thiếu trong hành trang của ông. Vì với thơ, bao giờ ông cũng có sẵn những xúc cảm, đôi khi, những con chữ chợt dâng trào và ông chỉ việc chép vào giấy.

Niềm vui của ông ngày ngày khi trở về nhà là chơi với cháu nội, dắt cháu đi chơi dưới sân tập thể, vẫn đau đáu với chặng đường thi ca và những vần thơ về quê hương, về đồng đội. Rồi, trong một buổi sáng, khi đang đi chơi với cháu nội, ông ngã khuỵu xuống. Ông bị tai biến, phải nằm viện nhiều tháng nay.

Nhiều người không khỏi ngạc nhiên. Ngạc nhiên bởi ông vốn là một nhà thơ khỏe mạnh, ít khi thấy ông ốm vặt. Sức vóc của ông như mạch nguồn sông Lam nơi có con đập Bara quanh năm nước chảy cuộn trào. Có lẽ phải đối diện với thực tế rằng, ông đã có tuổi. Ông cũng đã ở cái ngưỡng nhân sinh thất thập cổ lai hy.

Con người ông lúc nào trông cũng khảng khái, thô ráp, thậm chí là nóng tính và khó tính, nhưng thơ của ông thường buồn, một nỗi buồn như từ tiền kiếp, nối dài cả cuộc đời ông. Thơ của ông đau đáu về miền Trung bỏng rát gió Lào cát trắng. Thơ của ông đắm đuối về mẹ, về chị, về những người em gái quê chân chất, đầu trần...

Vì thế mà đọc thơ ông, có những khi ứa nước mắt vì thương quê hương, xóm mạc, thương cánh đồng thẳng cánh cò bay, thương cái nghèo, cái khó cứ đeo bám mãi vào những ký ức của những đứa con xa quê, dù đó là ai, và dù họ có đang ở vị trí nào trong cuộc đời rộng lớn này: "Để giữ lại dù chỉ vài mụn cám/ Mẹ vén vun cưng nựng nụ cười/ Trên gương mặt thời gian còn rác rưởi/ Củ khoai ri gầy như sợi lạt/ Mẹ tha về nhà/ Chùm rễ trắng mọc vào đêm/ Cái rễ khoai lang thành khúc ruột mềm/ Chưa hề đứt/ Nên bầy con không ngửa tay ăn mày ngoài chợ..." hay: "Cái nón mê mẹ đội nửa đời người/ Khi chóp thủng lại trùm lên vại nhút"...

Nhà thơ Hoàng Trần Cương cũng là người nhiều bôn ba. Bảy tuổi đầu ông theo cha ra sống ở Hà Nội, rồi nhiều năm sau, ông đắm mình với miền Kinh Bắc, cái vùng quê ngọt ngào đã mang đến cho ông một người vợ dịu hiền, tần tảo, nhưng cũng cho ông một tâm hồn "liền anh, liền chị".

Trong ông có cái lãng mạn của chất Bắc, nhưng lại có sự giữ dội của miền Trung. Ông lại là một người thương binh đi qua chiến trận, bàn tay ông từng vuốt mắt của bao đồng đội đã hy sinh. Hiển hiện trong ông là người mẹ, là những người thân, là mảnh đất khô cằn, là vùng trời miền Trung và trên hết đó là những "trầm tích" của tổ tiên, dòng họ. Là những tháng năm làm lính trận chiến chinh đổ máu, là hy sinh của bạn bè đồng đội, cả nỗi đau tê nhức của mảnh đạn vẫn đang nằm trong cơ thể ông suốt mấy chục năm trời...

Tất cả những điều đó, với ông, nó có sức nặng bom tấn để từ trong trái tim ông ngân lên những khúc ca bi tráng về những gì ông đã trải qua trong cuộc đời này và buộc ông phải cầm bút viết "Một sáng ra đường/ Anh lặng người trước những chiếc ba lô/ Trên vai các em quàng vào phố xá/ Những chiếc ba lô vừa quen vừa lạ/ Bàng hoàng anh nắn lại bờ vai/ Những chiếc ba lô không một bóng lá cài/ Sao như có màu xanh thuở ấy/ Màu xanh/ Của một thời anh từng mơ đấy/ Bây giờ cười nói líu lô/ Những chiếc ba lô/ Sớm tinh mơ cơ động đến trường/ Các em chở bình yên về rợp phố/ Nghẹn ngào, anh rướn nhìn theo...".

Làng quê nào cũng Việt Nam ta cả

Có những người nghe thơ rồi thuộc thơ Hoàng Trần Cương, mỗi lần ngâm ngợi lại rưng rưng nơi khóe mắt. Họ đồng cảm và chia sẻ với những ký ức của nhà thơ, bởi ông như nói hộ lòng bao nhiêu người con xa quê hương. Để rồi vẫn cái bóng dáng của quê nhà đau đáu trong trái tim.

Ông cho ra đời tập thơ "Bầu-trời-đất", trường ca "Long mạch"... Tập nào cũng ăm ắp chữ tình. Cố nhà thơ Hoàng Cầm trong Hội thảo về tập thơ "Trầm tích" đã nói: "Lâu lắm tôi mới được đọc một tập sách dày dặn, chứa đựng sự thực lớn như thế này. ác giả "Trầm tích" là một thi sĩ đích thực.

Phải yêu quê hương, gắn bó máu thịt với quê hương đến mức nào thì mới viết được đến thế. Đọc ứa nước mắt. Đây thực phải là con người miền Trung. Thơ Hoàng Trần Cương đậm đặc chất miền Trung, chất xứ Nghệ. Chúng ta có thể nhặt ra được nhiều câu thơ như những viên kim cương lấp lánh. Tôi đọc ba lần, lần nào cũng phát hiện được những chi tiết đắt giá. Với tôi, "Trầm tích" là một tác phẩm lớn, một tác phẩm còn lại của văn học Việt Nam sau 50 năm qua".

Nhà thơ Hoàng Trần Cương bây giờ không còn đi lại được như xưa. Những giờ khắc thả hồn trên quán bia cùng tiếng cười bè bạn giờ chỉ còn trong ký ức. May mắn thay ông có bên cạnh người vợ tảo tần, chăm bẵm ông từng ly từng tí, bên cạnh ông từng giây phút cuộc đời. Có đôi lúc tôi nhắc ông về quê hương, bản quán, về những ngày tháng cũ, ông rơm rớm.

Tôi nhớ lại câu nói của ông: "Tôi gốc Nghệ, chôn nhau cắt rốn ở mảnh đất nhiều thương khó này nhưng tôi lại trưởng thành ở Bắc Hà và đổ máu ở chiến trường miền Nam. Tôi nghĩ, viết về miền nào cũng là điều không quan trọng vì cũng chính là Việt Nam đấy thôi. Tôi chỉ viết khi những con chữ được lắng tụ, khi những va đập với cuộc đời đã đến tận cùng. Thường trực trong tôi khi cất bút thành lời thơ, chính là những lúc cảm xúc hoặc là dâng đến tận cùng, hoặc rơi xuống đáy. Không có khoảng giữa".

Ông đang có nhiều bài thơ viết dở dạng bản thảo, và trong từng giờ nghỉ ngơi của đợt vật lý trị liệu, ông vẫn nhấm nháp thi ca, như là một nguồn sống tinh thần duy nhất có thể chữa lành những vết đau, ngoài gia đình, con cháu: "Nhiều lúc anh muốn bứt đi dòng hồi tưởng của mình/ Những ký ức từng làm em xây xẩm/ Khi sốt rét quật anh ngã sấp/ Buổi động trời vết thương cũ nghiến răng/ Nhiều lúc một mình ngồi muốn nuốt chửng cả mùa trăng/ Khi rạng lên trong anh những gương mặt đã tản vào năm tháng/ Những chiếc áo của đồng đội anh nếu đem ghép lại/ Chắc cũng đủ căng lên thêm một bầu trời/ Nhiều lúc quá khứ bị chính anh lơ đãng bỏ rơi/ Ngước lên bàn thờ bắt gặp đôi nén hương đói lửa/ Những nén hương khắc khoải cong xoắn vòng vấn hỏi/ Khói bay tìm trời xưa/ Vuốt nỗi nhớ cồn cào xuống ngực/ Và nằm xoài anh ôm anh trên đất/ Chợt gặp lại những tấm bia đã mờ tên đồng đội/ Đứng im lìm giữa dãy dọc, hàng ngang/ Không hiểu sao những tấm bia đều ngoảnh mặt về làng"...

Trần Hoàng Thiên Kim

Các tin khác

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Khơi thông nguồn lực từ dữ liệu văn hóa

Việt Nam đã tạo lập ngày càng nhiều dữ liệu số về di sản, nhưng phần lớn vẫn phân tán, thiếu liên thông và chưa được khai thác như một nguồn lực. Chuyển từ những bản sao số rời rạc sang hạ tầng tri thức dùng chung vì thế là điều kiện để di sản tiếp tục tạo ra giá trị cho nghiên cứu, giáo dục, sáng tạo và cộng đồng.

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Vì sao Mỹ ra tay cứu đồng yen Nhật Bản?

Trước đà lao dốc của đồng yen, Mỹ đã ra tay hỗ trợ Nhật Bản sau gần 3 thập kỷ, đánh dấu động thái phối hợp hiếm hoi giữa lúc những tác động từ tỷ giá ngày càng lan rộng.

Các nghệ sĩ trẻ với tư duy mới mẻ mang đến sức sống mới cho làng nghề.

Tái sinh di sản làng nghề

Hà Nội sở hữu hơn 1.300 làng nghề. Thế nhưng, nhiều làng nghề đang đứng trước nguy cơ mai một vì thiếu thị trường, thiếu người kế nghiệp và thiếu không gian để kể câu chuyện của mình. Trước thềm Lễ hội Thiết kế Sáng tạo Hà Nội 2026, những người trẻ đã chọn làng nghề làm chất liệu sáng tạo, mở ra một cách tiếp cận mới, tái sinh di sản làng nghề…

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Khi cổ vật thành “mồi” của kẻ gian

Những pho tượng, sắc phong trong đình chùa đến những cấu kiện nguyên gốc của các công trình cổ, nhiều di sản đang trở thành mục tiêu của nạn trộm cắp ngày càng tinh vi, táo tợn. Mỗi cổ vật bị thất lạc không chỉ là mất đi một tài sản quý giá, mà còn là sự đứt gãy một phần ký ức lịch sử, văn hóa của dân tộc.

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Từ nâng tầm quản trị đến khát vọng chuyên nghiệp hóa

Trước đòi hỏi của kỷ nguyên phát triển mới, thể thao Việt Nam đang đứng trước bước ngoặt chiến lược: chuyển đổi mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại và thương mại hóa chuyên nghiệp. Nâng cao năng lực tổ chức sự kiện không chỉ là thước đo điều hành, mà còn là chìa khóa mở ra không gian kinh tế thể thao đầy tiềm năng.

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Tuân thủ nguyên tác hay dũng cảm bước qua?

Khi “The Odyssey” - bộ phim điện ảnh lấy cảm hứng từ sử thi kinh điển của Homer công bố dàn diễn viên, lựa chọn của đạo diễn Christopher Nolan tựa như “quả táo bất hòa”, tạo ra những luồng tranh luận sôi nổi, độc giả lan tỏa những bài viết phân tích, so sánh với nguyên tác sử thi. Cùng thời gian, điện ảnh Việt Nam dậy sóng khi công bố Tăng Thanh Hà vào vai Nam Phương Hoàng hậu. Tại sao đạo diễn lại thích đảo lộn những hình mẫu vốn đã quá đỗi quen thuộc và thành công từ nguyên tác? Liệu việc tuân thủ tuyệt đối tác phẩm gốc có phải “lá bùa hộ mệnh”, hay sự phóng tác dũng cảm mới giúp tác phẩm đến gần hơn với thế hệ khán giả mới?

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Cần hệ sinh thái sáng tạo cho họa sĩ trẻ

Festival Mỹ thuật trẻ lần thứ 8 năm 2026 đang diễn ra tại Hà Nội, mở ra một không gian đối thoại đa chiều của nghệ thuật đương đại, phản ánh tiếng nói của những người trẻ trước cuộc sống và những thay đổi của thời cuộc. Tuy nhiên, hơn cả một kỳ liên hoan, mỹ thuật trẻ cần có một chiến lược phát triển dài hạn trong thời gian tới.

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Mỹ thâm hụt ngân sách do hoàn thuế nhập khẩu

Sau khi Tòa án Tối cao bác bỏ cơ sở pháp lý của nhiều mức thuế quan, Chính phủ Mỹ phải hoàn hàng chục tỷ USD cho doanh nghiệp nhập khẩu, gây ra hậu quả ngân sách tháng 6/2026 thâm hụt 120 tỷ USD.

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Hình tượng người chiến sĩ - từ nguyên mẫu đến màn ảnh

Thời gian gần đây, nhiều bộ phim có chất liệu từ những chuyên án và nguyên mẫu có thật trong lực lượng CAND đã được đưa vào sản xuất. Những tác phẩm điện ảnh ấy không chỉ mang đến những câu chuyện chân thực, giàu tính nhân văn, tái hiện sinh động cuộc đấu tranh bảo vệ an ninh Tổ quốc mà còn khắc họa bản lĩnh, trí tuệ và sự hy sinh của các chiến sĩ Công an trong nhiều giai đoạn lịch sử.

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Đào tạo trẻ - nền móng bền vững của Thể thao CAND

Trong thể thao thành tích cao, mỗi tấm huy chương không chỉ được quyết định ở khoảnh khắc thi đấu, mà được vun đắp từ rất sớm: từ khâu phát hiện năng khiếu, lựa chọn môn phù hợp, xây dựng giáo án huấn luyện, tạo dựng môi trường rèn luyện cho đến bồi dưỡng bản lĩnh qua từng giải đấu. Với Thể thao Công an nhân dân (CAND), công tác đào tạo trẻ vì thế luôn mang ý nghĩa đặc biệt. Đó không chỉ là nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng kế cận cho thể thao CAND, mà còn là sự đóng góp thiết thực vào thành tích chung của thể thao Việt Nam.

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Chuỗi cung ứng và mặt trận an ninh mới

Đầu năm 2026, khi xung đột Mỹ - Iran đẩy eo biển Hormuz vào tình trạng gián đoạn nghiêm trọng, nỗi lo của thế giới không chỉ là giá dầu, mà còn là chip bán dẫn.

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Hành trình đưa các anh trở về đất mẹ

Những tấm thân vùi sâu dưới đất, nằm yên lặng hơn nửa thế kỷ, có những tình yêu không được viết bằng đám cưới, mà được viết bằng cả một đời chờ đợi. Đó là những thước phim chân thực và sống động nhất đã và đang diễn ra trong “chiến dịch 500 ngày đêm” tìm kiếm hài cốt liệt sĩ.

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Tiệm cận thế giới để vươn xa

Trong những năm gần đây, điện ảnh Việt Nam ghi nhận bước tiến rõ rệt cả về quy mô thị trường lẫn năng lực sản xuất. Chất lượng hình ảnh, thiết kế mỹ thuật, diễn xuất hay tổ chức sản xuất ngày càng tiệm cận những chuẩn mực mới. Tuy nhiên, để một bộ phim không chỉ thành công trong nước mà còn có thể bước ra các liên hoan phim, thị trường phát hành quốc tế, điểm nghẽn lớn nhất vẫn nằm ở kịch bản. Những câu chuyện giàu bản sắc Việt Nam cần được kể bằng một ngôn ngữ điện ảnh đủ sức tạo đồng cảm với khán giả toàn cầu.

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

"0% lãi suất" và góc khuất ứng lương qua app

Chỉ cần vài thao tác không quá 10 phút trên điện thoại, người lao động có thể nhận trước tiền lương nhờ những lời quảng cáo "0% lãi suất", "giải ngân trong 5 phút". Nhưng phía sau sự tiện lợi ấy là các khoản phí phát sinh mà người lao động chỉ biết khi đã nhận tiền và khả năng vi phạm pháp luật, nguy cơ phụ thuộc tài chính và nếu không tỉnh táo thì rất khó để phân biệt giữa dịch vụ ứng lương với hoạt động cấp tín dụng.

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Khi nắng nóng có thể làm “bốc hơi” GDP

Những đợt nắng nóng cực đoan đang hoành hành tại châu Âu không chỉ là vấn đề thời tiết hay môi trường, mà ngày càng hiện rõ như một thách thức kinh tế, đe dọa tới tốc độ tăng trưởng GDP và gây ra khó khăn cho mọi mặt đời sống.