Nhà thơ Hoàng Trần Cương: Gắng gượng ngồi canh từng trang giấy

Đối diện với di chứng của cơn tai biến, nhà thơ Hoàng Trần Cương bị liệt nửa người và phải vật lý trị liệu để mong cơ thể được bình thường trở lại nhưng ông vẫn minh mẫn nhận ra bạn bè, người thân, vẫn lẩm nhẩm đọc những câu thơ mới trên giường bệnh. 

Nghe tin nhà thơ Hoàng Trần Cương bị tai biến trong lúc đang cùng cháu nội dạo chơi dưới sân khu chung cư, phải nằm viện mấy tháng nay, nhiều người không khỏi ngạc nhiên. Ngạc nhiên bởi ông vốn là một nhà thơ khỏe mạnh, ít khi thấy ông ốm vặt. Sức vóc của ông, như mạch nguồn sông Lam nơi mảnh đất Đặng Sơn, Đô Lương có đập Ba-ra quanh năm nước chảy cuộn trào.

Con người ông khảng khái, thô ráp, thậm chí là nóng tính và khó tính, nhưng thơ của ông thường buồn, một nỗi buồn như từ tiền kiếp. Thơ của ông đau đáu về miền Trung bỏng rát gió Lào cát trắng. Thơ của ông đắm đuối về mẹ, về chị, về những người em gái quê chân chất, đầu trần... 

Vì thế mà đọc thơ ông, có những khi ứa nước mắt vì thương quê hương, xóm mạc, thương cánh đồng thẳng cánh cò bay, thương cái nghèo, cái khó cứ đeo bám mãi vào ký ức của những đứa con xa quê, dù đó là ai, và dù họ có đang ở vị trí nào trong cuộc đời rộng lớn này.

Từ ngày về hưu, rời khỏi chiếc ghế Tổng Biên tập Thời báo Tài chính, nhà thơ Hoàng Trần Cương ít bạn bè hơn. Nói đúng ra, bạn bè của ông chắt lại chỉ còn đếm trên đầu ngón tay. Họ thỉnh thoảng gặp nhau để hồi ức về một thời lính trận, hồi ức về những câu thơ đắm đuối lòng người.

Nhà thơ Hoàng Trần Cương năm nay đã chạm đến tuổi thất thập cổ lai hy, cái tuổi không còn sung mãn để ồn ào nữa, bởi vậy mà khác hẳn ngày xưa, cứ ra quán bia là đọc váng trời cả một tập trường ca, đọc đến khản giọng, đọc to đến nỗi, những bàn bia bên cạnh phải dừng lại nghe thơ ông, tán dương và vỗ tay. 

Thời của Trầm tích quả thật là một thời kỳ mà thơ ông trở thành tâm điểm của nhiều cuộc luận bàn, người ta yêu thơ ông bởi nó không màu mè, bởi nó xù xì, gai góc như chính con người ông. Nó thô mạc, bởi vậy mà nó lay động lòng người.

Những câu thơ mà tôi chắc chắn rằng, nhiều người bây giờ nói về Hoàng Trần Cương là có thể thuộc làu làu nhiều chương trong Trầm tích: "Ôi quê hương. Cái đòn gánh trĩu hai đầu đất nước. Gió bão thù chi với mảnh đất này. Nối đuôi nhau xếp hàng ngang đen sì ngoài biển. Mưa giờ Ngọ chưa qua, gió giờ Mùi đã đến. Cay đắng lắng vào trái ớt lúc còn xanh. Đất vắt kiệt mình nước mọng múi chanh. Ngửng mặt nhìn trời xanh nhức mắt. Dằng dặc dải làng quê thưa thắt. Tảng cháy cạy đi rồi. Còn hằn vết móng tay. Cày lên. Sưng cả đáy nồi".

Hay: "Mảnh đất nghèo mồng tơi không kịp rớt. Lúa con gái mà gầy còm úa đỏ. Chỉ gió bão là tốt tươi như cỏ. Không ai gieo mọc trắng mặt người...".

Và thương biết mấy: "Để giữ lại dù chỉ vài mụn cám. Mẹ vén vun cưng nựng nụ cười. Trên gương mặt thời gian còn rác rưởi. Củ khoai ri gầy như sợi lạt. Mẹ tha về nhà. Chùm rễ trắng mọc vào đêm. Cái rễ khoai lang thành khúc ruột mềm. Chưa hề đứt. Nên bầy con không ngửa tay ăn mày ngoài chợ" hay: "Cái nón mê mẹ đội nửa đời người. Khi chóp thủng lại trùm lên vại nhút"...

Có những người nghe rồi thuộc thơ Hoàng Trần Cương, mỗi lần ngâm ngợi lại rưng rưng nơi khóe mắt. Họ đồng cảm và chia sẻ với những ký ức của nhà thơ, bởi ông như nói hộ lòng bao người con xa quê hương bằn bặt. Để rồi vẫn cái bóng dáng của quê nhà đau đáu trong trái tim.

Nhà thơ Hoàng Cầm đã từng khẳng định trong hội thảo về tập thơ Trầm tích đã nói: "Lâu lắm tôi mới được đọc một tập sách dày dặn, chứa đựng sự thực lớn như thế này. Tác giả Trầm tích là một thi sĩ đích thực. Phải yêu quê hương, gắn bó máu thịt với quê hương đến mức nào thì mới viết được đến thế. Đọc ứa nước mắt. Đây thực phải là con người miền Trung.

Thơ Hoàng Trần Cương đậm đặc chất miền Trung, chất xứ Nghệ. Chúng ta có thể nhặt ra được nhiều câu thơ như những viên kim cương lấp lánh. Tôi đọc ba lần, lần nào cũng phát hiện được những chi tiết đắt giá. Với tôi, Trầm tích là một tác phẩm lớn, một tác phẩm còn lại của văn học Việt Nam sau 50 năm qua".

Nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo, trong một bài viết đăng trên Báo Văn nghệ - Hội nhà văn Việt Nam cũng đã nói: "Tôi đã có trường ca Đồng Lộc - Con đường của những vì sao và vẫn ấp ủ một trường ca về đất và người xứ Nghệ, nhưng sau khi đọc trường ca Trầm tích, tôi đã từ bỏ ý định của mình vì không thể viết về xứ Nghệ hay hơn Hoàng Trần Cương"...

Những ngày nghỉ hưu, nhà thơ Hoàng Trần Cương thường đến quán bia một mình, ông không uống bia "ồng ộc" như thuở còn trẻ, mà nhâm nhi như uống từng ngụm ân tình, cầm trên tay cuốn sổ và cây bút, ông sáng tác. Ông thường lẩm nhẩm một mình, đọc lại những câu thơ cho liền mạch. 

Ông viết đều, những bài thơ đầy tâm trạng vẫn ấp ủ cái hồn cốt quê hương trong từng con chữ. Ông viết rồi in sách đều đặn, nhưng không có những cuộc hội thảo hay tọa đàm. Ông lặng lẽ tặng những người bạn thân thiết để cùng chia sẻ những vui buồn trong thơ ca, trong chặng đường tuổi thất thập của ông.

Ông cho ra đời tập thơ Bầu trời - đất, trường ca Long mạch... Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha, một người bạn thơ thân thiết của anh đã nhận xét: "Từ Đường chân trời bay tới Bầu trời - đất, lại chạm xuống Long mạch, thơ Hoàng Trần Cương đã có sự biển đổi chóng mặt về chất. Một nỗi buồn bình thản được tấu lên qua các cung bậc khác thường, gập ghềnh và thô ráp, trào cuốn và dịu dàng.

Bầu trời - đất và Long mạch ghi nhận nỗ lực không mệt mỏi của một nhà thơ luôn trăn trở tự đào bới vào chính mình để tìm ra được chính mình từ thẳm sâu. Cứ thế, không khoa trương, không diệu vợi, không làm hàng, thơ Hoàng Trần Cương là bản chất sống, bản chất yêu của chính anh".

Nhà thơ Hoàng Trần Cương được biết đến là dân tài chính thứ thiệt, là chuyên viên cao cấp và có thâm niên trên 15 năm làm Kế toán trưởng Báo Nông nghiệp Việt Nam và Thời báo Tài chính Việt Nam, nguyên là Tổng Biên tập Thời báo Tài chính Việt Nam, Chủ tịch Liên chi hội Báo chí ngành Tài chính. Dù vậy, ông luôn thừa nhận, thứ giúp ông "sống" được đến ngày hôm nay lại chính là thơ.

Ông đến với văn chương khá sớm và từng đoạt giải A về văn xuôi đề tài lực lượng vũ trang (1970-1972) của Tạp chí Văn nghệ quân đội, giải Nhất cuộc thi thơ Báo Văn nghệ - Hội Nhà văn Việt Nam (1989-1990). 

Nhưng phải đến trường ca Trầm tích, nhà thơ Hoàng Trần Cương mới thực sự tìm được chính mình. Trầm tích ngay sau đó đã đoạt Giải thưởng Văn học (giải B, không có giải A) của Hội Nhà văn Việt Nam (năm 2000)...

Nhà thơ Hoàng Trần Cương từng chia sẻ: Bảy tuổi đầu ông theo cha ra sống ở mảnh đất Hà thành, rồi nhiều năm sau, ông đắm mình trong miền Kinh Bắc, cái vùng quê ngọt ngào đã mang đến cho ông một người vợ dịu hiền, tần tảo, nhưng cũng cho ông một tâm hồn "liền anh, liền chị". 

Trong ông có cái lãng mạn của chất Bắc, nhưng lại có sự dữ dội của miền Trung. Ông lại là một người thương binh đi qua chiến trận, bàn tay ông từng vuốt mắt đồng đội đã hi sinh.

Hiển hiện trong ông là người mẹ, là những người thân, là mảnh đất cá gỗ, là vùng trời miền Trung và trên hết là những "trầm tích" của tổ tiên, dòng họ, là những tháng năm chiến chinh đổ máu, là hi sinh của bạn bè đồng đội, cả nỗi đau tê nhức của mảnh đạn vẫn đang nằm trong cơ thể ông suốt mấy chục năm trời...

Tất cả những điều đó, với ông, nó có sức nặng bom tấn để từ trong trái tim ngân lên những khúc ca bi tráng về những gì ông đã trải qua trong cuộc đời này và buộc ông phải cầm bút viết: "Nhiều lúc anh muốn bứt đi dòng hồi tưởng của mình/ Những ký ức từng làm em xây xẩm/ Khi sốt rét quật anh ngã sấp/ Buổi động trời vết thương cũ nghiến răng/ Nhiều lúc một mình ngồi muốn nuốt chửng cả mùa trăng/ Khi rạng lên trong anh những gương mặt đã tản vào năm tháng/ Những chiếc áo của đồng đội anh nếu đem ghép lại/ Chắc cũng đủ căng lên thêm một bầu trời”.

Khi viết một tác phẩm, ông phải huy động vốn sống cả cuộc đời tích cóp được. Cuộc đời ông đã được đào luyện qua nhiều thử thách, khổ ải và nỗ lực, chính những điều đó đã làm nên số phận ông và tác phẩm của ông.

Ông nói: "Tôi gốc Nghệ, chôn rau cắt rốn ở mảnh đất nhiều thương khó này nhưng tôi lại trưởng thành ở Bắc Hà và đổ máu ở chiến trường miền Nam, tôi nghĩ, viết về miền nào cũng là điều không quan trọng vì cũng chính là Việt Nam đấy thôi. Tôi chỉ viết khi những con chữ được lắng tụ, khi những va đập với cuộc đời đã đến tận cùng. Thường trực trong tôi khi cất bút thành lời thơ, chính là những lúc cảm xúc hoặc là dâng đến tận cùng, hoặc rơi xuống đáy. Không có khoảng giữa".

Gần đây, thơ của ông hướng về gia đình, ông có thơ tặng vợ, tặng cháu nội... Trong bài thơ viết cho cháu nội, ông đã tâm sự với cháu như trút cả ruột gan mình: ...Ngắm Nghé con ngọ nguậy quậy lòng bà/ Không hiểu sao ông ngỡ ngàng chột dạ/ Thôi mình cứ từ từ cháu ạ/ Vịn tháng ngày thư thả lớn lên/ Rồi cháu sẽ thương hôm nay lắm đấy/ Biết mấy đêm ròng/ Ông gắng gượng ngồi canh từng trang giấy/ Cháu sẽ đọc gì đây/ Cháu sẽ hát gì đây/ (Cái thời ấy hình như nhiều thơ quá)/ Thơ dầy kệ sách/ Thơ đầy mặt báo/ Nhưng sao lại toàn một giọng buồn thiu/ Bài nào cũng hờn/ Câu nào cũng tủi/ Nhỡ chạm vào Nghé còn biết lui không?/ Nào ông cháu mình cứ thủng thỉnh đi rông...".

Điều may mắn của ông là sau tất cả những vinh quang, may rủi ở cuộc đời, bên ông vẫn luôn có bóng dáng người vợ hiền thục là cô Chè, con gái vùng Kinh Bắc, một người phụ nữ giản dị, chu toàn, sinh hai cậu con trai thông minh, giỏi giang và yêu thương ông hết mực. Bà chấp nhận mọi cơn say mềm vì bia rượu của ông, chịu được cái tính nóng như lửa của ông, cả cái tính thất thường của một nhà thơ già về hưu, với một tình yêu tuyệt đối.

Dường như biết được những thiệt thòi, hy sinh của vợ, nên ông dành tặng bà những vần thơ tha thiết: "Mưa là trăng của ngày/ Êm đềm bay mềm đá/ Rải lụa là khắp ngả/ Cưng nựng mùa héo hon/ Em là trăng của anh/ Mọc xanh miền xói lở/ Khuyết tròn vương thương nhớ/ Chở hương về đó đây/ Trăng là mưa trắng đêm/ Giăng thu vào cõi lặng/ Em là mưa cuốn nắng/ Đưa anh về trời riêng".

Nhà thơ Hoàng Trần Cương bây giờ đang đối diện với di chứng của cơn tai biến, ông bị liệt nửa người và phải vật lý trị liệu để mong cơ thể được bình thường trở lại. Ông vẫn minh mẫn nhận ra bạn bè, người thân, vẫn lẩm nhẩm đọc những câu thơ mới trên giường bệnh. 

Ông không khác gì nhiều, vẫn cái vẻ xù xì, gai góc, với bản chất của một người lính, chắc chắn ông vẫn bản lĩnh để vượt qua bạo bệnh để trở về ngồi nhâm nhi li bia cỏ cùng bè bạn, trở về lại sông Lam, đập Ba-ra nước quanh năm cuộn chảy, để lại được đắm mình vào dòng thi ca chưa bao giờ vơi cạn trong ông...

Trần Hoàng Thiên Kim

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.