Nhà thơ Bế Thành Long: Ngôi nhà xanh núi suối trong veo

Tính thời điểm vào Hội Nhà văn Việt Nam, Bế Thành Long được coi là nhà thơ Tày "trẻ" nhất so với ba "ngự lâm" Phủ Trùng: Y Phương tuổi 40 (1988) đến với Hội; 10 năm sau (1998) đến 2 nhà văn Cao Duy Sơn (42 tuổi), Từ Ngàn Phố (45 tuổi). 

Hơn 10 năm sau, nhà thơ Bế Thành Long ở tuổi "thất thập" có dư mới vào Hội. Bước vào "ngôi đền" văn tuy chậm chạp, nhưng Bế Thành Long là một nhà thơ độc đáo. Thơ ông như lúa thì con gái ngậm đòng, như vầng trăng xanh non nỏn, như dòng suối thanh tân, như cái hôn đầu tiên ngập ngừng, đắm say ma mị…

Bế Thành Long sinh năm 1938 trong một gia đình viên chức tại thị trấn Co Xàu (Cao Bằng). Trong con mắt của Y Phương, Bế Thành Long xưa đẹp trai, một thư sinh nho nhã, một học trò giỏi có năng khiếu thi ca… và bây giờ chạm ngưỡng tuổi 80 vẫn đẹp như một tiên ông với chòm râu xùm xòa trước ngực. Ông bộc lộ năng khiếu văn chương và hội họa từ nhỏ. Đề xuất lập nhóm bút "Mặt trời mọc" của ông được hai người bạn dân tộc Kinh ủng hộ. Những người bạn cùng sở thích văn nghệ đã tự lập một văn đàn để ngoài giờ học dành thời gian giao lưu, đàm đạo văn chương.

Cả cuộc đời Bế Thành Long gắn với ngành thương mại, nhưng thi ca như một người bạn đồng hành thủy chung; một nơi vịn bám, nâng đỡ tâm hồn; một nơi giúp trút bỏ mọi ưu phiền trong cuộc đời không ít nỗi cô đơn phiền muộn.

Nhà thơ Bế Thành Long và niềm vui bên bạn bè.
Nhà thơ Bế Thành Long và niềm vui bên bạn bè.

20 tuổi đã làm thơ, nhưng qua tuổi 70, Bế Thành Long mới trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Sự kiện này khiến nhiều bạn văn ngạc nhiên. Khi đó, tân hội viên chỉ rung chòm râu bạc cười hiền. Còn Y Phương thì nhẩn nha nói hộ đồng hương: "Con số 70, hay tám, 90 chả nói lên điều gì. Nhà thơ vốn là một thực thể của thiên nhiên, tạo hóa không câu nệ gì đến tuổi tác. Thời gian nằm ngoài vòng sinh tử". Với Bế Thành Long "Quá khứ vinh hay nhục đều bị anh cho vào túi pác mạ treo lên sàn nhà. Một con người tuyệt vời... là hậu duệ của dòng họ Đào Duy chả bao giờ quan tâm tới chức vị cao thấp, nhà cửa giàu sang, thụ hưởng bổng lộc…".

Chạm vào "Suy nghĩ nghề văn" của Bế Thành Long, tôi nhận thấy nhà thơ "trẻ" cũng nhiều tâm tư: "Quỹ thời gian tôi còn ít"; "Về già, tôi trách mình chưa có đạo đức để thấu được nỗi đời của biết bao thân phận"; Tôi răn mình (mà cũng biết mình đã già không vươn tới được). Phải biết khai thác lại tuổi trẻ của mình để minh mẫn và hăng hái.

Tôi luôn tự nhắc nhở rằng: Không nên ngừng nghỉ việc đọc, quan sát, lắng nghe và học (đôi khi cả khoa học tự nhiên). Đừng vội đi phê phán phủ nhận tất cả, nó sẽ làm cho ta cô độc và nghèo nàn. Đau đáu nỗi niềm thì phải mới, phải đúng để cho ta luôn chung dòng với cuộc sống hiện đại mà viết. Ngừng nghỉ sẽ khô cứng, khởi động trở lại rất khó khăn".

Cho đến nay, Bế Thành Long mới xuất bản hai tập thơ "Cỏ may" và "Ở nguồn". Có lẽ ông đã chọn phương châm "quý hồ tinh" hơn "quý hồ đa". Thơ ông được diễn đạt độc đáo, câu từ mới lạ, quậy cựa, sinh nở, nhưng lại kén người thưởng thức như nghe nhạc giao hưởng. Sự hấp dẫn là bởi chính sự tươi tắn không chút gợn mờ. Có lẽ chính hồn thơ trong trẻo, xanh tươi đó đã định hình một phong cách thơ Bế Thành Long.

Những bài thơ quê hương giàu hình tượng, mang cảm xúc thanh xanh đến nao lòng như "Đêm Trùng Khánh", "Bóng quê hương"... Vẻ đẹp đêm Trùng Khánh tĩnh lặng nhưng xao động tình người thấm đậm run rẩy chất men say trong từng câu chữ "Trăng nồng quê cũ uống không vơi" (Đêm Trùng Khánh). Quê hương hiện ra tinh khôi: "Chắc sáng nay quê tôi mù sương bạc/ Chắc buổi trưa nay gió núi ngừng/ Chắc chiều xuống hút rừng xào xạc" (Bóng quê hương). Tâm trạng thi nhân khắc khoải trước bức tranh quê: "Cỏ non cứ bời bời không ngủ/ Bước trâu chờ bước nghé lang thang". Những câu thơ đan cài khéo léo giữa mộng và thực khiến người đọc xôn xao.

Như bất cứ thi nhân nào, Bế Thành Long yêu say cả bốn mùa trong năm. Vốn có năng khiếu hội họa, ông đã vẽ bằng thơ bức tranh "Tứ quý".

Trước hết, là mùa xuân - mùa đẹp nhất, mùa của thiên nhiên và tình yêu. Bức tranh xuân tươi tắn màu sắc được nhà thơ thể hiện với đầy đủ cung bậc xúc cảm của giác quan thơ bén nhạy. Nhà thơ gửi vào đó tình xuân không mùa: "Em giặt áo bến dòng sông nọ/ Mấy lần thơm lại nắng quê hương" (Cảm xuân). Tâm trạng dùng dằng từ Xuân sang Hạ được diễn đạt bằng ngôn ngữ tươi  mới. Những từ láy, như: "cụng cựa, xang xác, cùng kiệt" đã diễn tả chính xác tâm trạng bồn chồn, lưu luyến khi Hạ đã ngập ngừng trước cửa nhưng chưa muốn rời Xuân: "Cụng cựa tre giằng răng rắc/ Vặn mình phơi hết lá đỏ au…/ Theo tiếng ve ran xang xác/ Cùng kiệt cho ta hết nợ nần (Tre cuối xuân). Một mùa thu hào phóng, đầy quyến rũ: "Một lần Thu đến, quên hờn giận…/ Một lần Thu đến quên sông bến" (Một lần thu). Mùa Đông miền núi như "những tháp tuyết chìm sâu/ Bìa băng gãy những tinh thể khổng lồ/ Chồng chất lên thành phố thủy tinh" (Ngân Sơn).

Thơ Bế Thành Long dâng đầy cảm xúc trước thiên nhiên: Một đêm xuân huyền diệu: "Hổ gầm vỡ vầng trăng/ Đồi xưa rung rung cỏ tranh vàng…/ Và đêm xuân vũ trụ mỏng tang" (Đêm xuân); một ban mai xanh trong sáng "Tiếng mõ trâu gieo hương gạo nếp thơm" (Một ban mai). Cảnh sắc nào dưới bàn tay xử lý của một tâm hồn yêu cái đẹp lúc nào cũng lung linh, hấp dẫn. Ông như một vị "Đại sứ văn hóa" đã mượn thơ để thỏa sức sáng tạo. Vẻ đẹp quê hương và các miền quê khác được thể hiện trong cái nhìn trong trẻo.

Bế Thành Long và một tác phẩm thơ của ông .
Bế Thành Long và một tác phẩm thơ của ông .

Qua "Lời thuyết minh hang Ngườm Ngao", ông đã giới thiệu vẻ đẹp của hang động đá vôi độc đáo: "Nhũ đá giấu giếm sự long lanh/ Bóng tối đựng trời thu đã ngủ/ Không mặt trời bắt nhịp ngày đêm/ Chỉ những con dơi chao cánh/… Từng chùm đá buông chuông". Động Ngườm Ngao (động Hổ) mang một vẻ đẹp nguyên sơ, quyến rũ khiến du khách "Quên mất lối về cuộc sống", "Bâng khuâng mãi chưa bay", "Cái bồng bềnh thổn thức"…

Thơ chàng trai Tày đã vượt khỏi Quây Sơn, Bản Giốc… mở lòng đến mọi miền đất nước. Vẫn góc nhìn ấy, vẫn tâm hồn xanh trong ấy, vẫn tài tình trong chọn thơ nhạc như một bản giao hưởng… cảnh sắc con người hiện lên tươi tắn trong thơ Bế Thành Long. Hình ảnh thảo nguyên xanh của thiên nhiên và tình người đan quện: "Con bò không biết mình đường bệ/ Đeo bầu vú nặng/ Theo bầy chúc mũi nó đi nghiêng…/ Thảo nguyên cứ thể dửng dưng xanh" (Thảo nguyên xanh); "Đến thảo nguyên là đến giữa bơ vơ" (Nhớ thảo nguyên).

Hạ Long trong phiên chợ biển "Sung túc một nửa biển cá tanh/ Chợ no khói" (Chợ biển). Một Đà Lạt mộng mơ trong tâm trạng "Kẻ ngỏ tình đến muộn": "Có nỗi buồn cào nát cỏ tranh" (Đà Lạt - Không đề). Đứng trước Núi Bài Thơ, cảm xúc trào dâng khắc khoải "Chợt kêu ré sau buồm tan giá" (Núi Truyền Đăng)…

Thơ Bế Thành Long đan dày những tâm trạng, nỗi niềm. Có bài thơ giàu tính tự sự. Có bài thơ lại độc thoại nội tâm. Nhiều bài thơ ẩn trong những vần thơ tươi xanh là những thông điệp về nhân tình thế thái… Nhưng điều quan trọng, những cảm xúc, tâm trạng ấy được diễn tả hết sức trong trẻo, tươi sáng. Có bao nỗi tiếc nuối "Cuộc đời vẫn có em mà chẳng biết/ Nên bạc đầu, anh cũng chẳng có em" (Ánh trăng).

Nghe tiếng ngỗng trời mà tâm trạng rối bời bời "Quá khứ đêm thu về lớp lớp/ Tiếng ngỗng trời co kéo không gian/ Sải cánh rộng qua đêm mỏng/ Kìn kìn bay vẳng trong mây"… Sống khiêm nhường và khép mình, Bế Thành Long tự họa chân dung mình bằng thơ: "Tôi đã tạch ra và chú bé giơ tay reo… Không dám bước ra trước cõi đời/ Nói rồi lặn, vách đá cũng mất hút" (Kẻ tạc tượng)...

Bế Thành Long có cách xử lý ngôn từ rất khéo, sức gợi lớn giữa mộng và thực: "Vòm động thức con Dơi treo giấc ngủ/ Nhũ đá gầy buông thõng tháng năm đi" (Xuân rừng); "Đất nhẹ nở đầy hoa cúc dại…/ Bãi bờ khô xác gió hoa lau" (Hư không); "Hạt cỏ đựng niềm vui cánh cánh" (Hạt cỏ)…

Chạm nấc tuổi 80, nhưng thơ Bế Thành Long luôn trẻ, một giọng thơ khỏe khoắn, hồn nhiên. Tuổi tác dường như bất lực trước một hồn thơ trong trẻo và trẻ trung. Cuộc đời thơ của ông đi từng bước có vẻ chậm chạp, nhưng chắc chắn. Tôi xin mượn một câu văn "nhan sắc" nhất trong tản văn của nhà thơ Y Phương để kết lại bài viết rằng với Bế Thành Long thì "khi nào nước lắng hết bùn, người sẽ nhìn thấy cát".

Lê Thị Bích Hồng

Các tin khác

Điều Ước để lại

Điều Ước để lại

Có những chuyến đi không đơn thuần là sự dịch chuyển về vị trí địa lý, mà là một hành trình tìm về những khoảng lặng tâm hồn và cả chiều sâu văn hóa. Đầu thu này, chúng tôi đã có một chuyến đi như thế!

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

"Lời giã biệt" của "ông hoàng" truyện trinh thám Nhật Bản

Chỉ ít ngày sau khi nhà văn Higashino Keigo qua đời, cuốn tiểu thuyết mới nhất và cũng là cuối cùng của ông đã được phát hành ở Nhật Bản vào sáng 5/8/2026 như một "lời giã biệt" hàng triệu độc giả yêu mến ông suốt hơn 40 năm qua...

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Đến Bắc Kinh xem Bảo tàng Văn nhân

Ngoài khu lưu niệm Nguyễn Du ở Hà Tĩnh, khu lưu niệm Lê Quý Đôn ở Thái Bình và khu lưu niệm Nguyễn Đình Chiểu ở Bến Tre, thì văn học hiện đại nước ta cũng đã có công trình Bảo tàng Văn học Việt Nam. Thế nhưng, nhìn ra các nước trong khu vực, so với Trung Quốc, thì cách lưu dấu văn nhân ở Việt Nam vẫn chưa thể hiện được tính chuyên nghiệp. Chúng tôi đã có dịp “mục sở thị” một số mô hình bảo tàng văn nhân tại Bắc Kinh và không khỏi trầm trồ về sự đầu tư nghiêm túc và sự quản lý khoa học.

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Giá trị của tình yêu trong văn học dân gian

Văn học dân gian là tấm gương phản chiếu hành trình con người đi từ thuở hoang sơ đến văn minh. Lần theo dấu vết các trang truyện cổ, chúng ta sẽ thấy tổ tiên đã từng bước dựng xây nền tảng gia đình, thiết lập trật tự xã hội bằng cả trí tuệ lẫn sự trải nghiệm qua nhiều thế hệ.

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Nhà thơ Vũ Cao: Đi ta đi, đỉnh đèo kia phía trước

Tôi trở lại con đường Núi Đôi (Xã Sóc Sơn-Hà Nội), men theo đường dốc lên đỉnh núi. Những câu thơ bay lên bát ngát như ngày nào lớp học chúng tôi được nghe giáo sư Hoàng Như Mai giảng bài thơ “Núi Đôi” của cố nhà thơ Vũ Cao (1922-2007). Giọng ông sang sảng vang trên giảng đường: “Anh đi bộ đội sao trên mũ/ Mãi mãi là sao sáng dẫn đường/ Em sẽ là hoa trên đỉnh núi/ Bốn mùa thơm ngát cánh hoa thơm”. Những ký ức học trò trong tôi bỗng hiện về trên đỉnh núi mùa thu đầy hoa và búp lá non tơ...

Người vẽ cờ Tổ quốc

Người vẽ cờ Tổ quốc

Lá cờ đỏ sao vàng được sử dụng trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ - về sau được chọn làm Quốc kỳ - đã tung bay trên Quảng trường Ba Đình lịch sử ngày Độc lập 2/9/1945. Nguyễn Hữu Tiến - một chiến sĩ Cộng sản kiên trung, gắn với câu chuyện lịch sử về sự ra đời của lá cờ đỏ sao vàng.

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Danh Họa Nguyễn Phan Chánh - Mộng mây vờn gió

Tôi chiêm ngưỡng và yêu nghệ thuật tranh lụa Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) từ hàng chục năm trước. Đặc biệt, sau khi gặp gỡ nhà văn Nguyệt Tú (con gái đầu của họa sĩ Nguyễn Phan Chánh) vào năm 2004, tôi càng thêm yêu tranh ông. Những câu chuyện nhà văn Nguyệt Tú viết về cha mình trong cuốn "Đường sáng trăng sao" (NXB Tổng hợp, TP Hồ Chí Minh - 2004) làm tôi bất ngờ với những di sản họa sĩ để lại. Bức nào cũng như một cung đàn loang sương khói trong veo nước thu vàng.

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Văn Phác, vị tướng cầm súng và cầm bút

Hiếm có một thủ trưởng Tổng cục Chính trị nào đặc biệt như Thiếu tướng Trần Văn Phác, ông từng làm Tổng biên tập hai tờ báo lớn, đặc sắc trong quân đội, đó là Tạp chí Văn nghệ Quân đội và Báo Quân đội nhân dân.

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Văn hóa đối ngoại: “Sức mạnh mềm” và lá chắn từ xa

Chiến lược văn hóa đối ngoại đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 theo Quyết định số 1306/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ khẳng định tầm chiến lược: “Văn hóa không dừng lại ở vai trò cầu nối hữu nghị, mà đã trở thành “sức mạnh mềm” cốt lõi, thành lá chắn từ xa bảo vệ vững chắc chủ quyền và an ninh quốc gia.

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn với lực lượng kỹ thuật nghiệp vụ

Phát biểu trong buổi thăm và làm việc tại Trung tâm Kỹ thuật nghiệp vụ Công an nhân dân, ngày 6/7/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: “Lịch sử đấu tranh bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội đã chứng minh vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng của công tác kỹ thuật nghiệp vụ...”.

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Nén tâm hương trên những miền đất lửa

Những ngày tháng 7, trên dải đất miền Trung nắng gió, những bước chân của cán bộ, chiến sĩ Cục Ngoại tuyến, Bộ Công an lặng lẽ đi qua những miền đất lửa Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Trị. Trong hành trình “Theo dấu chân những người anh hùng”, mỗi địa danh đi qua không chỉ là một điểm dừng chân, mà còn là một miền ký ức thiêng liêng. Mỗi nén hương được thắp lên không chỉ là lời tri ân, mà còn là lời nhắc nhở sâu sắc về giá trị của hòa bình...