Nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy: Bản mệnh của tôi là phê bình

Thâm trầm, lặng lẽ, không giỏi diễn giải và không biết cách "hâm nóng" cuộc đối thoại... là điều mà bất cứ ai gặp nhà phê bình văn học Đỗ Lai Thúy cũng nhận ra.

Đọc sách của Đỗ Lai Thúy , thấy rõ sức nặng của lý thuyết và thực tiễn của một người đọc nhiều, ngẫm nghĩ nhiều. Ông cho rằng, một nhà phê bình nhất thiết phải có hiểu biết lý thuyết. Biết nhưng không phải để thồ chữ, mà để kết hợp với kinh nghiệm sống, kinh nghiệm thẩm mỹ nhằm kiến tạo những mô hình nghiên cứu. Nhờ đó, khám phá và diễn giải tốt hơn các hiện tượng của văn học Việt Nam.

- Thưa nhà phê bình Đỗ Lai Thúy, mấy năm vừa rồi, cái tên Đỗ Lai Thúy đã xuất hiện khá "ồn ào" trên mặt báo. Điều này xem ra có vẻ ngược với lối phê bình học thuật và tính cách lặng lẽ ẩn mình sau con chữ của ông. Vậy điều gì gây nên sự thay đổi căn bản này?

+ Có thể bây giờ phê bình học thuật được người đọc chú ý hơn. Đây là một hiện tượng đáng mừng. Bạn đọc quan tâm đến phê bình như một tồn tại tự thân chứ không phải là một công cụ. Vì thế, các cuốn phê bình, trong đó có sách của tôi được đọc và quan trọng hơn, được đàm luận trên mặt báo. Cũng có thể, trong năm 2009 vừa qua, cuốn sách "Bút pháp của ham muốn" của tôi được Hội Nhà văn Hà Nội trao giải, còn đầu năm nay xuất hiện "Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy". Cuốn trước là phê bình phân tâm học, còn cuốn sau là phê bình sự phê bình. Những vấn đề đặt ra rất đáng được bạn đọc quan tâm…

- Đỗ Lai Thúy được đánh giá là một nhà phê bình có tính phát hiện và có nhiều dấu ấn để lại cho nền phê bình Việt Nam đương đại. Bản thân ông, ông tự nhận mình thuộc "kiểu" phê bình nào?

+ Phê bình, trong quan niệm của tôi, có 2 kiểu: phê bình báo chí và phê bình học thuật. Phê bình báo chí hướng dẫn cho người đọc chọn sách, định hướng thẩm mỹ cho họ, tạo nên dư luận và đời sống xã hội của văn học. Còn phê bình học thuật thì lặng lẽ vì thường nằm ở bề sâu, bề xa của các sự kiện nhưng nó lại góp phần quan trọng vào việc xây dựng hệ thẩm mỹ mới, nhất là khi các giá trị thẩm mỹ cũ "có vấn đề". Tuy nghề "nhà nước" của tôi là làm báo, nhưng "nghề riêng" thì lại là phê bình văn học theo lối học thuật. Điều này do cái tạng tôi nó quy định như vậy, chứ tôi thấy phê bình nào cũng đáng trân trọng cả, miễn là người làm nghề trở thành một nhà nghề.

- Tôi cho rằng, sách phê bình của ông… đắt hàng trước hết là vì người đọc tò mò với những nhan đề tác phẩm. Nói chung, đặt tên sách sáng tác đã khó, sách phê bình hẳn còn khó hơn. Nhưng các 'tít" sách của ông quả thực đã tạo nên một ấn tượng sâu sắc, như "Mắt thơ", "Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực", "Chân trời có người bay", "Bút pháp của ham muốn", "Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy"… Khi đặt cho sách của mình những cái tên lạ thường, chẳng giống ai như vậy, hẳn ông đã phải rất vất vả?

 + Tôi không thích đặt tên kiểu "thật thà" quen thuộc của các cụ trước đây như "phê bình và tiểu luận", hoặc "góp phần nghiên cứu...". Nhưng cũng không vì thế mà sa vào thói chuộng lạ, làm hàng. Những tên sách của tôi quả là gây bất ngờ cho người đọc ở cách nói, ở hình ảnh độc đáo, kích thích ham muốn đọc. Rồi khi đã đọc thì vẫn thấy bất ngờ vì tên ấy thể hiện đúng nội dung sâu xa của cuốn sách, tư tưởng chủ đạo của nó, hoặc quan niệm nghệ thuật hay học thuật của tác giả. Cái tên, bởi thế, là chìa khóa để bạn đọc mở vào tác phẩm hoặc chiếc la bàn cho một hành trình thám mã. Có điều tôi không đặt tên trước cho tác phẩm để rồi sự viết chỉ là việc chứng minh cái tên đó. Thường thì cái tên xuất hiện đột ngột trong quá trình viết và thôi thúc tôi phải làm giấy khai sinh cho nó. Đó là của trời cho nằm ngoài sự suy tính đầu óc.

- Ông có thể nói cụ thể hơn trong một vài trường hợp?

+ Chẳng hạn, nghiên cứu Hồ Xuân Hương thì ai cũng phải đối diện với cái dâm tục trong thơ bà. Ý kiến thì đại để có thể chia thành hai: hoặc là coi thơ Hồ Xuân Hương có dâm tục hoặc là không. Nhưng cả hai đều lúng túng. Tôi tìm một lối đi khác: Thơ Hồ Xuân Hương vừa là dâm tục vừa là không dâm tục. Để chứng minh được lối tư duy A vừa là A vừa là không A này tôi phải đẩy thơ bà ngược dòng lịch sử về với tín ngưỡng phồn thực qua một hệ pháp: Thơ Hồ Xuân Hương - văn hóa dâm tục (thời bà) - lễ hội phồn thực - tục thờ cúng sinh thực khí - tín ngưỡng phồn thực. Mà ở thời của tín ngưỡng phồn thực (thời Đá mới) thì thiêng tục là một, trong thiêng có tục, trong tục có thiêng. Nguồn gốc thơ Hồ Xuân Hương ở tín ngưỡng phồn thực nên thơ bà thanh tục cũng là một, trong thanh có tục, trong tục có thanh. Nhưng thời nữ sĩ, tín ngưỡng phồn thực chỉ còn lại là những dư sinh, ảnh xạ, nên thơ bà chỉ là sự hoài niệm: "Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực".

- Còn "Bút pháp của ham muốn" -  một cái tên sách rất gợi, thì sao thưa ông?

+ Ở "Bút pháp của ham muốn", tôi nghiên cứu 6 nhà thơ: 3 cổ điển là Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan, 3 hiện đại là Hoàng Cầm, Chế Lan Viên, Xuân Diệu. Họ đều là những thi nhân có bút pháp độc đáo. Ngoài việc mô tả bút pháp đó như thế nào, tôi còn muốn đi tìm cái gì đã tạo nên bút pháp đó, tức tại sao? Qua việc phân tích ngôn ngữ văn bản, tôi đều thấy động lực sáng tạo của họ ở một ham muốn vô thức nào đó, như Hoàng Cầm là mặc cảm Oedipe, Chế Lan Viên là rối loạn đa nhân cách, Xuân Diệu là tình yêu đồng giới… Chính những ham muốn vô thức này, xét cho cùng, đã tạo nên bút pháp của họ, thế giới nghệ thuật của họ. Tôi lấy tên chung cho cả tập là "Bút pháp của ham muốn".

- Như vậy, phê bình của ông thiên về phân tâm học. Từ "Mắt thơ" (1992) đã thấy dấu vết, dù còn mờ nhạt, đến "Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực", rồi "Bút pháp của ham muốn" thì càng thấy đậm hơn, thậm chí thành phương pháp phê bình phân tâm học. Đây là phương pháp mới và có phần xa lạ với người đọc Việt Nam và không dễ được chấp nhận, nhất là trong khí quyển văn hóa Nho giáo. Xin ông hãy cho đôi điều giải thích?

+ Cũng có lý do của nó. Trước hết, phê bình phân tâm học không mới. Ở ta từ năm 1936, Nguyễn Văn Hanh và Trương Tửu đã sử dụng học thuyết Freud để nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương. Sau đó, nó bặt đi một thời gian dài. Tôi chỉ là người phục dựng lại và đẩy nó lên một bước cao hơn nhờ sự cập nhật phân - tâm - học - sau - Freud. Hơn nữa, phương pháp xã hội học mác xít khi nghiên cứu con người chỉ nghiên cứu mặt xã hội, hữu thức của nó, còn phân tâm học thì chuyên nghiên cứu mặt vô thức của con người, tức "con người trong con người", nên đó là một bổ sung cần thiết, làm đa dạng cái vốn phương pháp phê bình văn học của ta.

- Cuốn sách gần nhất của ông "Phê bình văn học, con vật lưỡng thê ấy" cũng đã được dư luận quan tâm, nhất là sau cuộc tọa đàm trao đổi ở Trung tâm Văn hóa Pháp. Nhưng tại sao cuốn sách này là "phê bình sự phê bình" hoặc tại sao phê bình lại là "con vật lưỡng thê"?

+ Sau 20 năm làm phê bình văn học với không ít niềm vui và nỗi buồn, tôi thấy đã đến lúc mình nên nhìn lại công việc phê bình của mình, của các đồng nghiệp đi trước cũng như đang đồng hành với mình, nhất là nhìn lại cái sự phê bình như là một đối tượng tự thân. Đó là phê bình sự phê bình. Nếu phê bình là sự tự ý thức của sáng tác, thì phê bình sự phê bình là sự tự ý thức của phê bình. Tôi viết cuốn sách này để mô tả sự tiến triển của phê bình văn học Việt Nam thông qua sự thay đổi các hệ hình phương pháp của nó: Từ tiền hiện đại - tiền văn bản đến hiện đại - văn bản sang hậu hiện đại - hậu văn bản. Tuy nhiên, đây không phải là cuốn lịch sử phê bình theo nghĩa thông thường, đúng hơn nó là cuốn lịch sử tư tưởng phê bình qua các lý thuyết và phương pháp của nó. Còn tại sao phê bình lại là "con vật lưỡng thê": Con vật lưỡng thê là một sinh vật - thực thể sống/tồn tại ở hai môi trường có khi đối nghịch nhau, như trên cạn - dưới nước. Vì thế, nó phải phong phú hơn (vừa có phổi lại vừa có mang), mềm dẻo hơn… Phê bình văn học, trong quan niệm của tôi, là một sinh thể như vậy. Nó vừa là khoa học vừa là nghệ thuật, vừa là nghiên cứu vừa là sáng tạo, vừa là ngôn ngữ vừa là siêu ngôn ngữ…

- Trước đây, ông thường tự nhận mình là một trong những nhà phê bình thiểu số"thuận tay trái", hẳn hiện nay ông đã thuận cả hai tay?

+ Thuận tay trái là một hình ảnh tôi muốn nói rằng nghề chính, nghề tay phải của tôi là báo/ tạp chí đối ngoại rồi đối nội, còn phê bình chỉ là nghề phụ, nghề tay trái. Nhưng thực ra, khả năng tâm huyết và sự đóng góp của tôi cho xã hội chủ yếu là ở phê bình. Tôi nói thuận tay trái là vì vậy. Tuy nhiên, cũng còn một hàm ý nữa là phần đông thuận tay phải, chỉ ít người thuận tay trái. Vì thế mà số người thuận tay trái là thiểu số, số ít.

- Nhìn vào các đầu sách xuất bản, có thể thấy rằng, ông là một nhà phê bình năng sản. Đôi khi tôi vẫn tự hỏi, ông lấy đâu ra tâm sức để có thể làm việc được như thế?

+ Phê bình với tôi là cả một say mê, thậm chí trên cả say mê, nó gần như là bản mệnh của tôi. Tôi sống bằng - nhờ - qua cái bản mệnh phê bình ấy. Tuy nhiên, càng đam mê, càng "chân không chạm đất" bao nhiêu thì lại càng cần một "mặt đất" vững chắc bấy nhiêu. Nếu không có người phụ nữ sống cùng với tôi "cam tâm" làm mặt đất âm thầm và vững chắc như vậy thì tôi khó làm việc có hiệu quả.

- Xin cảm ơn ông!

Trần Hoàng Thiên Kim (thực hiện)

Các tin khác

Âm nhạc không đơn thuần chỉ là giải trí

Âm nhạc không đơn thuần chỉ là giải trí

Trong bối cảnh đời sống âm nhạc đang bị chi phối bởi nhiều chương trình giải trí, nhạc sĩ Dương Cầm lại chọn một con đường khó, ra mắt chuỗi chương trình mang tên “Phòng khách 3 thế hệ”, với mong muốn kết nối các thế hệ trong một gia đình bằng âm nhạc. Theo anh, “nghệ thuật nói chung hay âm nhạc nói riêng không đơn thuần chỉ là giải trí, mà nó còn có sứ mệnh mang đến cho con người khát khao được yêu thương, gắn kết. Đó là bản chất của nghệ thuật”.

“Mật mã Đông Dương”: Phim tình báo tái xuất màn ảnh rộng

“Mật mã Đông Dương”: Phim tình báo tái xuất màn ảnh rộng

“Mật mã Đông Dương” - bộ phim lịch sử - tình báo được lấy cảm hứng từ một số chuyên án trong hơn 25.000 bộ hồ sơ chiến sĩ tình báo viên Việt Nam sẽ được Điện ảnh CAND sản xuất trong thời gian tới. Không chỉ là món quà tri ân sự hy sinh thầm lặng của lực lượng tình báo CAND, bộ phim còn ghi dấu sự “tái xuất” màn ảnh rộng, sau gần 40 năm vắng bóng của đề tài tình báo - một trong những chất liệu đặc biệt và khó khai thác nhất của điện ảnh Việt Nam.

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Chuyển đổi số trong ngành sách: Gỡ điểm nghẽn công nghệ và tư duy

Tại Việt Nam, chuyển đổi số trong ngành sách không còn là lựa chọn, mà là yêu cầu cấp thiết để thích ứng với sự thay đổi của công nghệ và thói quen của độc giả. Với một dân tộc có tỷ lệ đọc sách khá thấp như Việt Nam thì chuyển đổi số được kỳ vọng là một cơ hội giúp ngành sách phát triển văn hóa đọc, bởi số hóa đã giúp sách "vượt qua giới hạn của sách giấy, kiến tạo những trải nghiệm tri thức đa chiều".

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Khi Oscar cải tổ: Minh bạch AI, nới lỏng tiêu chí

Trước thềm lễ trao giải Oscar lần thứ 99 dự kiến diễn ra vào năm 2027, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Điện ảnh Hoa Kỳ (AMPAS) vừa công bố những thay đổi mang tính bước ngoặt. Đây được đánh giá là một trong những sự lắng nghe cần thiết trong bối cảnh ngành công nghiệp điện ảnh đang thay đổi một cách nhanh chóng trước sức ép của trí tuệ nhân tạo (AI) và trải nghiệm ngày càng đa dạng trong cách thưởng thức nghệ thuật.

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Đạo diễn Vạn Nguyễn: “Đưa di sản đến với khán giả bằng tinh thần sáng tạo của thời đại mới”

Là một trong những gương mặt tiêu biểu dành trọn tâm huyết cho việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân tộc qua ngôn ngữ sân khấu hiện đại, mới đây đạo diễn Vạn Nguyễn là người Việt đầu tiên được UNESCO Nhật Bản vinh danh “Đạo diễn vì sứ mệnh bảo tồn giá trị văn hóa UNESCO 2025”. Chuyên đề Văn nghệ Công an đã có cuộc trò chuyện cùng đạo diễn Vạn Nguyễn về hành trình bảo tồn và lan tỏa bản sắc văn hóa Việt.

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Mối duyên với những ấn bản “Truyện Kiều” lưu dấu trăm năm

Trong hơn 20 năm qua, ông Nguyễn Lân Bình đã dày công nghiên cứu và tìm tòi được nhiều tư liệu quý giá về ông nội mình - học giả Nguyễn Văn Vĩnh. Những tư liệu ấy đã góp phần quan trọng làm sáng rõ công lao, thành tựu quan trọng về học giả Nguyễn Văn Vĩnh đối với nền văn học, báo chí nước nhà, trong đó có sự phổ cập và phát triển chữ quốc ngữ với bản dịch “Truyện Kiều” được in lần đầu tiên ở miền Bắc vào năm 1913.

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

Ươm "mầm xanh" cho đội ngũ dịch giả

“Cuộc thi dịch Văn học Việt - Trung, Trung - Việt” năm 2026 vừa chính thức khởi động tại TP Hồ Chí Minh. Bước qua mùa giải thứ hai, cuộc thi không chỉ là nơi giao lưu văn chương giữa hai nước mà còn được kỳ vọng trở thành mảnh đất màu mỡ để phát hiện và bồi dưỡng những “mầm xanh” dịch thuật.

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Họa sĩ Tô Chiêm: Sau cú "nốc ao" của số phận

Khi đến thăm họa sĩ Tô Chiêm sau cơn đột quỵ cách đây 2 năm, tôi không hình dung có một ngày lại được trò chuyện và chia sẻ với anh trong sự kiện trưng bày nghệ thuật “Khói” với tâm thế của một người họa sĩ điềm tĩnh trở lại với hội họa sau tất cả.

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Dấu ấn kết nối du lịch với văn hóa và di sản

Những năm gần đây, với sự ra đời của show diễn thực cảnh được tổ chức tại các địa điểm du lịch đã đem đến cho khán giả là khách du lịch nhiều trải nghiệm mới mẻ. Việc tổ chức các show diễn thực cảnh tại các địa chỉ du lịch nổi tiếng đang được xem là hoạt động tích cực không chỉ để thu hút khách du lịch mà còn là dấu ấn của sự kết nối giữa du lịch với văn hóa và di sản.

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Giới xuất bản trước ngã rẽ AI: Kiểm soát hay bị cuốn trôi?

Những năm gần đây, giới xuất bản thế giới đã liên tục cảnh báo về mối đe dọa của trí tuệ nhân tạo (AI) đến quá trình sáng tạo, trong việc các “ông lớn công nghệ” sử dụng trái phép vô số tác phẩm để huấn luyện thuật toán cũng như thực trạng ngày càng khó phân biệt đâu là tác phẩm đến từ con người, đâu là sản phẩm đến từ máy móc…

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Bồi đắp tình yêu Tổ quốc qua âm nhạc

Giữa những ngày tháng tư lịch sử, một loạt sản phẩm âm nhạc mang tinh thần yêu nước ra mắt công chúng đã tạo nên điểm nhấn đặc biệt trong đời sống âm nhạc. Nỗ lực làm mới cảm hứng truyền thống bằng những sáng tạo độc đáo và hơi thở hiện đại góp phần lan tỏa tình yêu Tổ quốc một cách gần gũi và giàu cảm xúc.

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Giao lưu văn chương Việt Nam - New Zealand 2026

Việt Nam và New Zealand đã có hơn 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên vẫn có một khoảng trống lớn trong giao lưu văn chương giữa hai nước. Không chờ đợi sự thúc đẩy và đầu tư từ phía Chính phủ hai bên, các nhà thơ của hai nước sau hơn một năm kết nối, đã tổ chức được bước đi đầu tiên khởi động cho việc giới thiệu tác phẩm văn chương cho nhau, và xúc tiến các hoạt động chung nhằm thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết và thấu hiểu tâm hồn của nhau.

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Từ không gian lưu trữ tĩnh đến hệ sinh thái sáng tạo

Trong nhiều thập kỷ, bảo tàng và các không gian di sản chủ yếu tồn tại như những “kho lưu trữ sống” - nơi hiện vật được bảo quản cẩn trọng, nhưng lại mang tính tĩnh, đôi khi tạo cảm giác xa cách với công chúng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Hành trình gieo những yêu thương

Hành trình gieo những yêu thương

Dọc dãy hành lang dài của bệnh viện, nghệ sĩ Nguyệt Thu trong bộ quần áo bệnh nhân đã chơi bản nhạc chữa lành "Secret garden". Giữa lằn ranh sinh tử, âm nhạc, kỳ diệu thay, đã giúp trái tim chị khỏe lại. Khán giả của chị là những bệnh nhân, bác sĩ...

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Bản đồ quyền lực mới của thế giới đương đại

Theo thông lệ hàng năm, tạp chí “TIME” nổi tiếng của Mỹ vừa công bố danh sách “TIME100” của năm 2026, qua đó ghi dấu 100 cá nhân có sức ảnh hưởng toàn cầu. Những gương mặt này trải rộng ở đa dạng lĩnh vực, từ chính trị, đứng sau những nỗ lực tiên phong đến các nghệ sĩ và những nhà đổi mới. Điều nổi bật trong danh sách năm nay là sự góp mặt đông đảo của thế hệ trẻ.

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giấc mơ Manila và cú "Hat-trick" đi vào lịch sử

Giữa không gian rực rỡ và tiếng nhạc Latin cuồng nhiệt tại thủ đô Manila, Philippines vào những ngày tháng 4 năm 2026, quốc kỳ Việt Nam đã ba lần được kéo lên ở vị trí cao nhất.

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Giải “cơn khát” phim trường chuyên nghiệp

Điện ảnh Việt được ví như người khổng lồ đang vươn vai thức giấc. Thế nhưng “người khổng lồ” ấy vẫn chưa có một “đại bản doanh” đúng nghĩa để thỏa sức tung hoành. Đôi chân “người khổng lồ” vẫn chật vật trong những phim trường nhỏ lẻ hoặc bối cảnh tạm bợ, quay xong rồi dỡ bỏ.

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Đưa sân khấu đến với học đường: "Gieo mầm" tình yêu nghệ thuật

Những năm gần đây, tại Hà Nội, mô hình sân khấu học đường đang được quan tâm, xây dựng như một hướng tiếp cận mới trong giáo dục thẩm mỹ cho lứa tuổi học sinh. Việc đưa nghệ thuật sân khấu đến với học đường không chỉ là "gieo mầm" tình yêu nghệ thuật cho thế hệ tương lai mà còn mở ra cơ hội cho ngành sân khấu khi đưa nghệ thuật đến gần hơn với thế hệ trẻ.