Nguyễn Thụy Kha: Người đi dọc triền sông thi ca và âm nhạc
Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Thụy Kha qua đời sau thời gian chống chọi với căn bệnh ung thư tại bệnh viện 108 vào hồi 10h 45’ ngày 13/3/2025 tại Hà Nội, hưởng thọ 77 tuổi. Nguyễn Thụy Kha là một nghệ sĩ tài hoa đích thực, ông giao du rộng, nhiều bạn bè là người nổi tiếng trong giới văn chương, âm nhạc và hội họa.
Tuy suốt đời rong chơi, nhưng ông viết nhiều và khỏe, đủ loại từ sáng tác văn thơ đến âm nhạc và viết nhiều về các nhà thơ và nhạc sĩ. Tôi cho rằng ông là một người sáng tác rất mực tài hoa, đã đi dọc triền sông của thi ca và âm nhạc trong nửa thế kỷ qua.
Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha.
1. Mấy chục năm qua, tôi có nhiều kỷ niệm với nhà thơ Nguyễn Thụy Kha. Lần cuối, mấy tháng trước khi ông nằm viện, anh em gặp nhau trong buổi ra mắt sách do Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức. Hôm ấy, bạn bè ngồi lại với Nguyễn Thụy Kha đến chiều. Ông say mềm và ôm đàn hát, giọng hát hào sảng, lúc gào lên, lúc nghe như khóc, riêng đôi mắt cứ mọng đỏ lên vì rượu chứ không phải vì nước mắt. Hôm ấy, có ai đó hỏi ông về chuyện bệnh tật, ông gạt phắt đi, nâng ly bảo mọi người cùng uống rồi hát và bảo mấy đàn em đi mua chai rượu Tây về, nhậu tiếp.
Tôi nhớ, có lần ông gọi điện thoại, bảo tôi đến chơi văn phòng Công ty TNHH Concert (làm các dịch vụ về âm nhạc và nghệ thuật) do ông làm giám đốc, nằm trong ngõ sâu ở phố Tràng Thi. Văn phòng chỉ có mỗi ông và một em thư ký trẻ, đẹp như người mẫu. Nguyễn Thụy Kha rót rượu mời và tặng tôi mấy tập thơ tình vừa in, trong đó có một tập thơ lục bát viết kiểu phá cách.
Ông bảo: “Đây là một kiểu chơi thơ mới, anh viết như lên đồng, chú về đọc sẽ thấy. Anh với chú đều đoạt giải nhì ở 2 cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ trong thập niên 1980-1990, thật trùng hợp 2 bài thơ của anh và chú đều viết về mưa. Sau đó, chú còn đoạt thêm giải nhì, không có giải nhất trong cuộc thi thơ của Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Anh cho rằng, những người đoạt giải nhì mới là những người thơ hay đích thực, còn mấy giải nhất là trao cho những ai bám sát chủ đề chính trị của cuộc thi. Ví dụ như trong giải thơ Văn nghệ 1981-1982, Hoàng Hữu với anh đều được trao giải nhì. Chủ khảo cuộc thi ấy là nhà thơ Xuân Diệu nhận xét: “Đúng ra, bài thơ “Hai nửa vầng trăng” của nhà thơ Hoàng Hữu phải được trao giải nhất cuộc thi này, nhưng vì thơ buồn quá nên đưa xuống giải nhì”. Chú thấy không, thơ giải nhì mới là thứ thơ nghệ thuật nhất và hay nhất, đúng không nào?”.
Tôi cười, nhất trí với nhà thơ Nguyễn Thụy Kha về quan điểm đó. Và, tôi có cảm tưởng, chất nhạc trong thơ ông là một mạch chảy ngầm nhiều hưng phấn nên không ít bài thơ khá giàu âm điệu và vần điệu. Nhưng tôi vẫn thích một Nguyễn Thụy Kha của “Những giọt mưa đồng hành” (bài thơ đoạt giải Nhì thi thơ Báo Văn nghệ 1981-1982) với mạch thơ tự do, phóng túng, khi ông thể hiện một không gian sống động, nơi mưa không chỉ là thiên nhiên mà còn là biểu tượng của sự gắn bó, đồng hành cùng cuộc đời của người lính và những hình ảnh gần gũi trong cuộc đời: “Những giọt mưa ngồ ngộ say mê/ Đám mây nắng vỡ ra giữa gió/ Những đứa con/ Ồn ào không gian/ Cười nói/ Những giọt mưa chẳng hề mệt mỏi/ Reo hót triền miên/ Người lính trú vội mái hiên/ Rồi lại đi mảnh ni lông khoác chéo/ Anh lẫn vào mưa lúc nào chẳng hiểu/ Ngỡ mưa dệt nên anh/ Có một đứa trẻ con từ trong anh chạy nhanh/ Nhập vào đám trẻ con trần truồng/ Đang hò reo giữa phố/ Có một người nông dân từ trong anh hớn hở/Xòe tay đồng hạn đón mưa/ Có một người lính Trường Sơn từ trong anh năm xưa/ Vội vã vắt áo quần ướt mưa hơ lửa/ Có một người... có một người nào nữa/ Người lính bước nhanh/ Anh và mưa cứ như thế đã bao lần/ Người lính đi/ Đi qua thành phố/ Bao chân trời thử thách đợi anh/ Trong cuộc hành trình chưa nghỉ/ Mưa và anh là bạn đồng hành”.
2. Nói về Nguyễn Thụy Kha, phải nhắc tới mấy người bạn thơ khá thân thiết với ông là hai nhà thơ Thanh Thảo và Nguyễn Trọng Tạo. Trong bài viết “Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha đồng hành cùng những giọt mưa”, Thanh Thảo cho biết: “Năm 1982, bài thơ “Những giọt mưa đồng hành” của nhà thơ Nguyễn Thụy Kha được trao giải nhì Báo Văn nghệ. Sau khi trao giải, nhà thơ Xuân Diệu tới nhà Kha ăn cơm, ông nói: Giải nhì lần này còn ngon hơn giải nhất đấy em ạ. Xuân Diệu đánh giá cao bài thơ “Những giọt mưa đồng hành” của Nguyễn Thụy Kha. Rồi Văn Cao nghe tiếng Kha có bài thơ hay, tìm đến, anh em gặp nhau uống rượu, Văn Cao ôm Kha mà cười: “Mày là giọt mưa đồng hành của tao!”. Từ đó, Văn Cao coi Nguyễn Thụy Kha như một đứa em thân thiết”.
Còn nhắc về nhà thơ Thanh Thảo và Nguyễn Trọng Tạo, thì Nguyễn Thụy Kha đã ghi nhận sự đổi mới trong thi ca của các ông (qua ghi chép “Đối thoại ngẫu nhiên” của nhà thơ Lê Mỹ Ý) như sau: “Tôi cho là dân tộc Việt Nam khi bắt đầu bước vào làm thơ, đến thời tiền chiến mới có niềm say mê tình yêu, trước đó không có, trước đó chỉ có thơ cộng đồng, thơ định đề. Vì thế ông Xuân Diệu viết “Hãy xích lại gần nhau thêm chút nữa”, nghĩa là họ rất thoải mái. Đến thời chống Pháp, một đất nước một thế kỷ nô lệ nên khi ấy con người chuyển từ thế nô lệ sang hành động. Lúc ấy thơ chống Pháp là thơ ý thức bảo vệ tự do độc lập. Đến thế hệ chống Mỹ, chiếc áo ý thức anh khoác cho tôi đã ngắn, làm lộ cả người tôi, nên nó thành tự ý thức để nhìn ra cái phần hở. Thanh Thảo viết “Chúng tôi đi không tiếc đời mình, nhưng tuổi 20 làm sao không tiếc” như một câu tuyên ngôn. Ý thức này vẫn kéo dài sau chống Mỹ, khi cầm cự đánh nhau ở biên giới kéo dài đến gần hết thập kỷ 80, cho đến 90 mới bắt đầu xuất hiện lớp làm thơ mới. Sự nhòe mờ ngôn ngữ đến lúc này thực ra không mới nhưng đã bắt đầu có cái tâm linh trong sự mờ theo mỗi người một kiểu. Trong mấy năm cuối thế kỷ XX, các nhà thơ đã cố gắng nhòe mờ. Anh Tạo, tôi hay Thanh Thảo đều là những người cố gắng làm điều này. Thanh Thảo là người đã tiến gần đến thơ ngôn ngữ, thơ của anh đôi khi có người bảo không hiểu gì cả. Thơ của tôi hay anh Tạo trong các tập cũng có phần đó, sự nhòe mờ dưới lớp chữ ngôn ngữ…”.
Với các tập thơ đã in và có tới 128 bài thơ được lưu trên trang mạng Thi viện, Nguyễn Thụy Kha là một nhà thơ đương đại có nhiều độc giả. Tôi giật mình và thấy xa xót khi đọc lại bài thơ “Hư vô” khóc nhà thơ Xuân Diệu viết năm 1985 của Nguyễn Thụy Kha như sau: “Không phải "Hư vô" - bài thơ của anh/ mà là sự thật/ anh nằm im một người dân lành/ sau khi viết "Trong thơ cần uyên bác"/ chiếc com-măng-ca tàng đợi ngoài nhà xác/ Không nỡ để anh gầy. Bạn gái thoa phấn lên mặt anh/ chắc chắn điều này anh không bao giờ thích/như không thích những câu thơ diêm dúa, điểm trang/ anh hồng hào hơn trong lễ tang/ đau đến thế nào trước khi tim ngừng đập/ yêu nghệ thuật anh chết như nghệ thuật/ viên mãn như một giấc ngủ âm thầm/ hoa bao nhiêu chiều Văn Điển rưng rưng/ cả Hà Nội tiễn anh những con đường buốt lạnh/ ai đọc thơ anh lúc lòng cay đắng/ tìm bao nhiêu lời an ủi cho vừa/ chỉ quen nhìn anh đứng đọc thơ/ và chỉ đôi khi ngồi cạn chén/ lần đầu nhìn anh nầm ngủ yên đồng vắng/ lại là khi vĩnh viễn mất anh/ đêm cuối đông hư ảo sương trắng/ những mái phố nhấp nhô thấp thoáng/ ngỡ những câu thơ anh văng vẳng/ nơi đôi lứa nồng nàn giữa những chiếc hôn”.
Qua bài thơ trên, Nguyễn Thụy Kha để lại sự tiếc nuối sâu sắc, một lời tri ân đầy cảm động đối với nhà thơ Xuân Diệu. Qua đó, tác giả đã gửi gắm một thông điệp về sự bất diệt của nghệ thuật và cho thấy sự vĩnh cửu của thi ca sẽ mãi là nguồn cảm hứng bất tận cho con người. Điều tiên cảm từ bài khóc nhà thơ Xuân Diệu đến hôm nay, khi phải rời xa cõi thế này, phải chăng nhà thơ Nguyễn Thụy Kha cũng biết đấy là những “câu thơ nằm lòng” thương nhớ gửi lại bạn bè trên thế gian này?
Nhà thơ Nguyễn Thụy Kha đã in 15 tập thơ, 10 tập bút ký về văn học nghệ thuật về các nhà thơ và các nhạc sĩ, ông còn với viết nhiều bài phê bình âm nhạc, sáng tác ca khúc, tham gia làm phim âm nhạc, văn học.
Nguyễn Thụy Kha được trao Giải thưởng thi thơ Báo Văn Nghệ 1981-1982; Giải thưởng Lê Quý Đôn 1986; Giải thưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm 1982; Giải thưởng Hữu nghị Việt- Nhật 1992; Giải thưởng Hội Nhạc sĩ Việt Nam liên tục từ 1996-2005; Giải thưởng của Liên hiệp các Hội Văn học - Nghệ thuật Việt Nam năm 2004.
Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.
Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.
Ban ngày, Nguyễn Hoàng Kiên là một nhân viên ngân hàng. Nhưng, ban đêm và những ngày cuối tuần, anh bước vào thơ ca, nghệ thuật và di sản với tên gọi Thế Lãng.
Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.
Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.
Ngày 4/1/2026, nhạc sĩ Đoàn Bổng đã trở về với đất mẹ, khép lại một đời sáng tác âm thầm mà bền bỉ, để lại trong ký ức nhiều thế hệ yêu nhạc Việt Nam một “dòng sông” trữ tình đã lặng lẽ chảy suốt gần nửa thế kỷ.
Người đàn bà trung du rời quê, rồi ở một vùng đất khác đủ lâu để nếp sống, giọng nói, cả những khoảng im lặng ngấm vào chữ. Tây Bắc. Hơn hai mươi năm giữa bản làng tựa núi, dốc sương gió, những cuộc mưu sinh dò dẫm từng bước.
Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.
Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.
"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.
Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.
Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.
Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.
Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.
“Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.
Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.
Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…
95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.
Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.
Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.