Nguyễn Hữu Quý – người mang nợ liệt sĩ Trường Sơn

Hơn mười bảy nghìn cây số đường ngang dọc với: Đỉnh Trường Sơn như nóc nhà. Một cơn mưa to cũng có thể biến những thung lũng dưới chân núi thành những túi nước khổng lồ… Đó là cảm nhận của Thiếu tướng Võ Bẩm, người chỉ huy đầu tiên mở con đường đã đi vào lịch sử Việt Nam như một bản hùng ca đáng tự hào trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.

Suốt 16 năm "đi không dấu, nấu không khói, xoi đường lập trạm, mở tuyến về Nam", Trường Sơn hào hùng và anh dũng không chỉ được miêu tả chân thực qua các trận đánh, từng chiến công, tấm gương quả cảm mà còn lắng đọng qua những vần thơ còn mãi với thời gian.  

Với các thi sĩ như Tố Hữu, Phạm Tiến Duật, Chế Lan Viên, Chính Hữu, Hoàng Nhuận Cầm, Nguyễn Duy…. một thời "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước" hiện lên đầy hào hùng, mạnh mẽ khi những chàng trai cô gái tự nguyện hiến dâng tuổi thanh xuân cho lý tưởng chung "Gặp em trên cao lộng gió. Rừng Trường Sơn ào ào lá đỏ - Chào em, em gái tiền phương. Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn" (Lá đỏ, Nguyễn Đình Thi).

Để sau này, tiếp bước là Nguyễn Hữu Quý mang trong mình "Trường Sơn với tôi không chỉ là một miền thi ca, mà đó còn là miền ám ảnh, ghi dấu những kỷ niệm của người lính một thời lửa đạn…".

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý sinh ra tại Bố Trạch, Quảng Bình, một miền quê nghèo khó đến nỗi trăng lên soi rõ từng vú cát. Năm 1974, Nguyễn Hữu Quý xếp bút nghiên lên đường theo tiếng gọi của Tổ quốc, gia nhập Binh đoàn Trường Sơn. Ở cái giai đoạn ác liệt của cuộc chiến, chàng thanh niên tuổi vừa đôi mươi, hàng ngày tận mắt chứng kiến biết bao gian khổ, khó khăn, mất mát, đau thương của quân và dân ta trước tội ác của giặc Mỹ.

Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý.
Nhà thơ Nguyễn Hữu Quý.

Chính điều đó đã khảm khắc mãi trong tâm trí người lính Trường Sơn ấy, tạo nên nhà thơ Nguyễn Hữu Quý luôn tận cùng trong những suy nghĩ về cái chết, về số phận con người. Trong sự nghiệp sáng tác, Nguyễn Hữu Quý viết rất nhiều về đề tài chiến tranh cách mạng và đặc biệt viết rất sâu về thương binh, liệt sĩ.

Không điệu đà, không trau chuốt, những câu thơ mộc mạc là tiếng lòng, là những dòng nước mắt kìm nén của chính mình khi nhớ về người đồng chí, đồng đội đã ngã xuống "Một thời chia lửa chia bom/ Tiếng thơm quyện lấy tiếng thơm một thời/ Máu chuyền cho máu đỏ tươi/ Nuôi nhau từng trận sốt vơi lá ngàn" (Nén nhang đồng đội).

Càng sống gần Nguyễn Hữu Quý sẽ càng cảm động trước cái tâm đằm thắm, đôn hậu và nhân từ của anh. Tính cách của Nguyễn Hữu Quý là tính cách của dải cát trắng miền Trung, dù sục sôi nắng lửa đến đâu vẫn yên bình, lặng thầm qua bao giông tố. Tôi vẫn nhớ chuyến công tác tại Quảng Trị vào tháng 7- 2017, khi lần đầu được gặp nhà thơ Nguyễn Hữu Quý.

Những ngày cuối cùng của chuyến công tác, đoàn quyết định ghé thăm Nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Sáng hôm đó, người lính già lạ lắm: mờ sáng đã dậy tắm gội, chọn cho mình bộ quân phục mới nhất, thỉnh thoảng lại đi ra đi vào đứng trước gương, tỉ mỉ chỉnh sửa diện mạo bản thân. Khi được hỏi thì nhà thơ chỉ cười mỉm, bảo hôm nay có hẹn với "cô bạn gái năm xưa".

Và chúng tôi như chết lặng khi thấy Nguyễn Hữu Quý đặt bó cúc vàng tươi lên tấm bia đá khắc tên Liệt sĩ Nguyễn Thị Liên. Quê quán: Thanh Trạch, Bố Trạch, Bình Trị Thiên… "Đây là cô gái mà hôm nay tôi hẹn gặp. Chúng tôi là những người bạn từ thuở thiếu thời, cùng nhau trải qua những ngày tháng cởi trần tắm mưa, cho đến khi trở thành những cô gái, chàng trai tuổi đôi mươi cùng nhau đi vào tiếng súng. Ngày xưa, Liên của tôi có nụ cười đẹp lắm…".

Suốt buổi hôm đó, người lính già chỉ ngồi cạnh Liên, thủ thỉ bao điều. "Xa nhau/ Khoảng thời gian chưa một lần gặp mặt/ Không lá thư đi - về/ Tôi chẳng quên đâu giọng cười của bạn/ Giọng cười đem cái thương, cái mến/ Chia đều cho mỗi chúng tôi" (Nhớ về tuổi học trò của một liệt sĩ).

Tôi vẫn nhớ những câu hát mà nhà thơ Nguyễn Hữu Quý rưng rưng hát khi xe dần lăn bánh rời miền đất lửa ấy: Quảng Trị ơi/ Mới vừa xa mà lòng nhớ khôn nguôi/ Làm sao quên những ngày đông tháng hạ/ Làm sao quên chiều Đông Hà - Cam Lộ/ Bến Hải buồn hoang vắng bãi bồi xa… (Hẹn về Quảng Trị - Phạm Bá Nhơn).

Không ai biết được, giữa nữ liệt sĩ có nụ cười duyên ấy và người lính Trường Sơn năm xưa là tình bạn, tình đồng chí hay tình yêu đôi lứa bởi chiến tranh mà chia cắt. Để bây giờ chỉ còn lại những miền ký ức luôn âm ỉ trong trái tim một con người. Không ai khác đó chính là người lính Trường Sơn năm xưa với sự bình tâm nhưng lại vô cùng nhân ái và sâu sắc.

Nguyễn Hữu Quý dành tình cảm trân trọng nhất cho những người lính mãi nằm yên trong đất mẹ hiền từ, sự tri ân sâu sắc những người mẹ, người vợ, người con của liệt sĩ. Vì vậy những trang viết của anh, dường như trang nào, dòng nào cũng in đậm chất Trường Sơn, dấu ấn Trường Sơn. Sự mất mát của chiến tranh hằn lên trong thơ anh như một vết xước.

"Mười nghìn Trường Sơn trong một Trường Sơn/ Mười nghìn lời ca trong bài ca lớn/ Mười nghìn cái tên đêm đêm mẹ nhắc/ Mười nghìn giấc mơ của mẹ chờ ta/ Mười nghìn con đò thương về bến đợi/ Mười nghìn hạt giống chưa về phù sa..." (Khát vọng Trường Sơn).

Những câu thơ thật rung động và lắng lòng ở chiều sâu góc khuất, không trực diện, ồn ào. Bài thơ đã lật tráo được từ dưới lòng đất, từ trong lòng người những ám ảnh về chiến tranh. Nghĩa trang Trường Sơn, ai đã một lần đến, thẳm sâu trong tâm thức sẽ đọng mãi những xúc cảm thiêng liêng, tha thiết trước hàng vạn ngôi mộ trắng xoá mênh mang, trải dài trên những vạt đồi tĩnh lặng.

Nhưng trong đó vẫn luôn ẩn chứa một sự sống trường tồn của những linh hồn trinh nguyên bất tử. Bao nhiêu lớp cha anh đã hi sinh tuổi trẻ, có người trở về với một phần thân thể được gửi lại đất mẹ, cũng có người đã bước chân vào thế giới người hiền. "Mười nghìn cái tên đêm đêm mẹ nhắc/ Mười nghìn giấc mơ của mẹ chờ ta". Nơi Trường Sơn lộng gió ấy đã chôn cất những người bạn, người đồng đội, trong đó có Liên của anh…

Anh trở về với mẹ cha, với quê hương; được tiếp tục những giấc mơ dang dở thời thơ ấu của mình, được chứng kiến sự phát triển đi lên ngày càng mạnh mẽ của đất nước, nhưng còn đồng đội anh, còn Liên của anh? 

Bài thơ viết về cái chết, về phận người, về chiến tranh, nhưng không hề có hận thù giới tuyến hay bài trừ, lên án một cách thô thiển. Nó là tiếng nấc nghẹn lòng của người lính xưa trở về trọn vẹn, nhưng tâm hồn lại mãi nơi đây. Mười nghìn bát hương mười nghìn ngôi sao cháy. Những con số vô tri vô giác nay bỗng cất tiếng nói, cứ lặp đi lặp lại như xoáy vào tim gan của mỗi người khi đến thăm nơi đây.

Nghĩa tình đồng đội.
Nghĩa tình đồng đội.

Những con số đã dẫn dắt cảm xúc người đọc đến với sự đau đáu, đến với niềm ngưỡng vọng khôn nguôi với người đang nằm dưới mộ. Đó không chỉ là con số thông thường, mà cao hơn, là những khắc khoải vừa thực, vừa đời của mỗi số phận nằm trong vạn nghìn số phận. Những câu thơ nhẹ nhàng đánh lên từng hồi chuông, khiến tiếng vang rơi vào cõi tâm linh-biến cõi hư thành cõi thực.

Có một sự thật hơn mọi sự thật là các anh đang ở bên nhau, hàng ngang, hàng dọc, chỉnh tề như năm xưa chuẩn bị bước vào chiến dịch. 

Và còn một hiện thực trần trụi "Đất nước tôi thon thả giọt đàn bầu, nghe dịu nỗi đau của mẹ. Ba lần tiễn con đi, hai lần khóc thầm lặng lẽ. Các anh không về mình mẹ lặng đi". Hàng vạn ngôi mộ có tên và không tên… là hàng vạn gia đình mãi không thể có cùng nhau một bữa cơm với đầy đủ thành viên, chỉ cần cơm canh rau nhút cũng đủ hạnh phúc.

Trở về sau chiến tranh, chàng trai trẻ Nguyễn Hữu Quý tiếp tục với những giấc mơ còn dang dở. Nhưng dường như trong con người đó vẫn còn nhiều tâm sự khó có thể sẻ chia hết. Cuộc đời anh chứng kiến gần như trọn vẹn tất cả nỗi đau của chiến tranh, rồi sự phát triển mạnh mẽ đi lên của quê hương, đất nước. 

Có thể nói rằng, Nguyễn Hữu Quý là gạch nối giữa quá khứ và tương lai, là chứng nhân của thời gian. Giữa dòng đời đang hối hả, phải chăng người lính Trường Sơn năm xưa muốn ghìm chậm lại.

Bởi có lẽ không ít lần mải mê với cuộc sống hiện tại, anh chợt nhói lòng: Tôi có những thằng bạn lính/ Đứa trở về nghèo đói chửa buông tha/ Đứa lỡ ngủ... đến bây giờ chưa tỉnh/ Góc chiến hào năm ấy đã đơm hoa" (Bạn lính). Có lẽ mãi chả ai quên được bởi đâu đó đã có một Nguyễn Hữu Quý trầm yên, lặng thinh, để tiếng nói từ tâm vọng ra, những câu thơ được nảy mầm mạnh mẽ.

Trong những năm chiến tranh ở Trường Sơn, át đi những khốc liệt của chiến trường, mãi vang ngân những bài hát, điệu múa, lời thơ, tiếng lòng từ sâu thẳm của những chàng trai cô gái yêu chuộng hòa bình, bất đắc dĩ phải cầm súng chống lại kẻ thù.

Từ mạch nguồn văn hóa, đã sinh ra những anh hùng và những nhà thơ. Binh chủng văn nghệ sĩ ở Trường Sơn là một minh chứng đặc sắc. Sau này, tiếp nối những Phạm Tiến Duật, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Duy, Nguyễn Đức Mậu, Thúy Bắc, Xuân Quỳnh… là thế hệ kế cận trong đó có Nguyễn Hữu Quý.

Đã bao nhiêu năm, đã hàng vạn ngày, người lính - thi sĩ ấy vẫn đi và trở lại Trường Sơn những ngày tháng bảy, thắp lên mộ đồng đội mình nén hương thơm. Nhà thơ đặt bó hoa cúc vàng tươi thắm, thầm thì những câu chuyện với người bạn gái tên Liên. Trên đầu mây trắng bay không ngưng nghỉ.

Và mặt đất, bạt ngàn mộ trắng có ngôi sao vàng lấp lánh trong nắng chiều Trường Sơn. Xa xa, bạt ngàn cỏ xanh nhưng nhức như chưa từng có máu đỏ thấm vào lòng đất. Và, dòng Thạch Hãn thanh bình xuôi chảy như chưa từng nhận vào lòng mình hàng ngàn tấm thân trai trẻ hi sinh trong cuộc chiến. 

Ở những khúc lặng lẽ ấy, chúng tôi cảm nhận rất rõ, nhà thơ chiến sĩ Nguyễn Hữu Quý đang thầm thì trò chuyện với đồng đội đã khuất của mình.

Phùng Trang

Các tin khác

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Dấu ấn Hồ Thiệu Trị

Lần đầu trở về Việt Nam sau gần 20 năm định cư ở Pháp, kiến trúc sư (KTS) Hồ Thiệu Trị đã tạo ra tiếng vang với công trình trùng tu Nhà hát lớn Hà Nội (1995-1997). Trong khoảng 3 thập niên vừa qua, ông và cộng sự đã có nhiều công trình với phong cách kiến trúc đặc trưng, giàu tính thẩm mỹ trên mảnh đất hình chữ S.

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Trung tướng, nhà văn Hữu Ước: "Tác phẩm là điều còn lại cuối cùng"

Cũng phải vài lần hẹn, tôi mới gặp được Trung tướng, nhà văn Hữu Ước. Đã hơn 10 năm rời vị trí Tổng Biên tập Báo Công an nhân dân, An ninh thế giới, Văn nghệ công an, nhưng giờ đây, ông vẫn luôn bận rộn với công việc của Chủ tịch Chi hội Nhà văn Công an và sáng tác văn chương, hội họa.

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

"Hà Nội 1987" và hành trình của một người Pháp

Trong gần 4 thập niên, Việt Nam không chỉ là bối cảnh sáng tác, mà dần trở thành một phần đời sống tinh thần của nhiếp ảnh gia Jean-Charles Sarrazin. Cuốn sách ảnh "Hà Nội 1987", ra mắt cuối năm 2025, đã khơi lại dòng ký ức, đưa người đọc trở về những ngày đầu ông gắn bó với mảnh đất này.

Ở lại với A Lưới

Ở lại với A Lưới

Miền rừng A Lưới không phải là nơi người ta đến để tìm những điều vĩ đại. Nó lặng lẽ, kín kẽ, giữ người bằng những điều rất nhỏ. Những con đường đất còn ẩm sau mưa, bóng tối xuống sớm hơn giờ quen thuộc, hay ánh mắt trẻ con nhìn người lớn không dè chừng.

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Nhà văn Vũ Liêm: Chẳng có tội ác nào là ngẫu nhiên

Viết về tội ác không chỉ là tái hiện hành vi phạm pháp, mà là đối diện với những vùng xám của quyền lực, trí tuệ và nhân tâm. Trong cuộc đối thoại thẳng thắn này, nhà văn - Trung tá Vũ Liêm nhìn lại tiểu thuyết “Tội ác sau khe cửa” như một thử nghiệm nhiều tham vọng, đó là truy nguyên động cơ phạm tội, đặt người sáng tạo trước giới hạn đạo đức của chính mình, và phơi bày những ranh giới mong manh giữa tưởng tượng nghệ thuật, nghiệp vụ điều tra và đời sống thật.

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Đất lành của người cựu tù chính trị Côn Đảo

Nhớ về quãng thời gian “tòng phu” ra Côn Đảo, bà Tư rổn rảng: Năm 1981 cô ra đây theo ổng thì có một đứa con trai rồi, tên là Thọ, sinh năm 1977; hiện nay là bác sĩ bệnh viện đặc khu Côn Đảo. Năm 1982, sinh con trai thứ hai là Nghiệp, năm 1983 thì sinh một cô con gái. Đến giờ các con cũng lập gia đình, sinh sống gần đây. Cô chú có 6 đứa cháu nội ngoại. Vậy là nhà cô đến giờ có ba đời ở Côn Đảo rồi đó.

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

Cỏ xanh trên vết xước chiến tranh

"Cỏ xanh đời thép"của Tống Phước Bảo, viết về nữ điệp báo Nguyễn Thị Thảo - Sáu Thảo, là cuốn sách cố gắng trả lại hơi ấm của người, cho một thân phận đã đi qua chiến tranh như một ngọn cỏ mọc trên vùng đất nhiều lần cháy rụi. Từ giọt nước mắt của biên tập viên đầu tiên đọc bản thảo, cho đến những đêm tác giả bật băng ghi âm, ngồi một mình với lời kể của cô Sáu, cuốn sách được sinh ra trong thứ thinh lặng rất dài, rất sâu.

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Phía sau sự sụp đổ của “Đế chế Diddy”

Từng là ông trùm hip-hop, tài sản tỷ đô, tiệc tùng cùng sao hạng A, và rồi một ngày, tất cả sụp đổ, không phải vì một bản nhạc dở, mà vì những bí mật đen tối giấu kín suốt 4 thập kỷ. Đó là Sean "Diddy" Combs, người từng được ca tụng như "biểu tượng sống của giấc mơ Mỹ", nay đang là phạm nhân số 45388-509 ở nhà tù liên bang Fort Dix, New Jersey (Mỹ). Diddy đã tự hủy bằng những bí mật mà chính anh ta tạo ra. Đó không chỉ là việc một cá nhân sa ngã, mà là lời cảnh tỉnh cho cả Hollywood, nơi công lý thường chỉ lên tiếng sau khi nhạc đã tắt.

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Nhà văn Tô Giang: 30 tháng tù, những trang viết đau đớn và giải thưởng văn chương

Có những câu chuyện mà nếu chỉ đọc lướt, người ta dễ tưởng đó là kịch bản của một bộ phim tội phạm xuyên biên giới: một nhà báo trẻ rời quê hương với khát vọng đổi đời, rồi trượt dài vào những căn nhà trồng cần sa trên đất Úc và kết thúc bằng bản án lặng lẽ sau song sắt. Nhưng ở Tô Giang, bóng tối không phải dấu chấm hết.

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Nhà khoa học nặng lòng với quê hương

Ở tuổi gần 90, GS Trần Thanh Vân vẫn minh mẫn và mang nhiều tâm huyết với sự nghiệp khoa học của nước nhà. Hơn 30 năm trước, dù có một sự nghiệp đồ sộ và danh tiếng trong giới nghiên cứu khoa học thế giới, GS Trần Thanh Vân cùng vợ vẫn chọn quay về Việt Nam khi đó còn rất nhiều khó khăn để cống hiến.

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Tái sinh kỳ diệu nhờ phục hồi chức năng

Có nhiều trường hợp vì di chứng của tai nạn thương tích, đột quỵ, bệnh mãn tính… khiến cuộc đời họ những tưởng sẽ phải gắn chặt với xe lăn, giường bệnh, chịu cảnh tàn phế. Nhưng điều trị phục hồi chức năng (PHCN) đã giúp họ có được sự tái sinh kỳ diệu.

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Ai là nguyên mẫu nhân vật trong bài hát “Hành quân xa”

Hành quân xa dẫu qua nhiều gian khổ/ Vai vác nặng ta đã đổ mồ hôi/ Mắt ta sáng, chí căm thù, bảo vệ đồng quê ta tiến bước/ Đời chúng ta, đâu có giặc là ta cứ đi”… Ca từ giản dị, ngắn gọn, nhịp điệu tựa như bước chân đầy khí thế xung trận trong bài hát “Hành quân xa” do nhạc sĩ Đỗ Nhuận sáng tác năm 1953 đã trở thành hành khúc của người lính trong những năm kháng chiến chống Pháp.

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Chuyện nghề của một xạ thủ bắn tỉa quốc tế

Tham gia Đội tuyển Bộ Công an tại cuộc thi bắn tỉa quốc tế “Phong Nhẫn 2025”, Trung đoàn Đặc nhiệm - Bộ Tư lệnh Cảnh vệ đóng góp 2 xạ thủ chủ lực thi đấu chính thức là Thiếu tá Phạm Hùng Trường và Đại úy Lê Văn Phương đã xuất sắc giành Huy chương vàng nội dung thi đấu đồng đội, phối hợp tác chiến.

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

NSND Phạm Thị Thành: Hoa hướng dương đã đi về phía mặt trời

Tôi vẫn gọi NSND Phạm Thị Thành là một bông hoa hướng dương, bởi bà đã sống một cuộc đời rực rỡ, tận hiến cho sân khấu - nghệ thuật nước nhà. Bà là một nữ đạo diễn đầu tiên của sân khấu Việt Nam đương đại. NSND Phạm Thị Thành đã trút hơi thở cuối cùng ở tuổi 84, nhưng ánh hào quang bà để lại trên bầu trời sân khấu - nghệ thuật nước nhà sẽ vẫn còn…

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

“Chiến trường và quê hương” của lão tướng U100

95 tuổi đời, 75 tuổi Đảng, Thiếu tướng, Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Phan Văn Lai vẫn khỏe mạnh. Giọng nói sang sảng, tinh thần mẫn tiệp, chân bước chậm nhưng vững chãi, ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động xã hội, tham gia nhiều sự kiện, hội thảo do Bộ Công an tổ chức.

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Robert Redford: Người định hình Hollywood

Ngày 16/9, đạo diễn kiêm diễn viên nổi tiếng người Mỹ Robert Redford đã qua đời ở tuổi 89 khi đang ngủ tại nhà riêng trên dãy núi Utah. Redford là "gã khổng lồ của điện ảnh Mỹ" và đã góp phần định hình Hollywood thập niên 1970 khi đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy nền điện ảnh độc lập Mỹ khi đồng sáng lập Liên hoan phim Sundance - bệ phóng cho nhiều bộ phim nổi tiếng.

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Nhạc sĩ Dương Thụ: Những giấc mơ dài

Ông là một trong 4 gương mặt của “Bộ tứ sông Hồng”, cùng với nhạc sĩ Trần Tiến, nhạc sĩ Phó Đức Phương, nhạc sĩ Nguyễn Cường làm nên diện mạo của âm nhạc Việt Nam thập niên 90.